Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai ĐÔNG TÂY CÓ NÊN GẶP NHAU?

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

ĐÔNG TÂY CÓ NÊN GẶP NHAU?

In PDF.

 


Trong bài thơ “The Ballad of East and West”, vào khoảng năm 1892, văn hào Anh Rudyard Kipling có viết: “Ôi, Đông là Đông, và Tây là Tây, và không bao giờ cả hai gặp nhau”. Hơn một thế kỷ trôi qua, câu thơ mang niềm thất vọng cay đắng ấy của một người đã yêu Đông Phương như quê hương mình nay trở thành lời tiên tri. Và hơn bao giờ hết, nó chứa đựng một chân lý gần như tuyệt đối tại Mỹ quốc này, nơi có hàng trăm chủng tộc khác nhau đổ về từ bốn hướng địa cầu để tạo thành một melting pot ngoạn mục, đầy màu sắc và đủ mùi vị. Trong đó, dĩ nhiên, có gần một triệu dân Việt chúng ta.


Ở một nghĩa nào, Đông Tây khác biệt cũng là điều hay. Không ai đòi hỏi chúng ta quên cội nguồn, quẳng đi mọi tập tục, bởi văn hóa là kho tàng để lại của cha ông đã chắt chiu gầy dựng từ hàng thế kỷ, và là niềm hãnh diện chung của dân tộc. Một số thiếu niên lớn lên hoặc sinh tại Mỹ, tiếc thay, đã quên hay không biết điều này, vì thế trở thành “không giống ai”, Mỹ không ra Mỹ, Việt không ra Việt, bị Đông lẫn Tây chối bỏ. Chẳng hạn, coi thường bố mẹ, ông bà. Thấy khách vào nhà, không chào hỏi, cứ trơ mắt ếch ra ngó. Bị bố mẹ giục, chúng chỉ “hi” một phát, rồi biến, không cười, không cúi đầu. Không hiểu lễ phép, "gọi dạ bảo vâng" là gì. Cha mẹ la mắng hoặc tát tai một cái là gọi cảnh sát, hay 911, hay mách cô giáo. Mong sớm được mười tám tuổi để thoát ly gia đình. Chưa kể việc xăm mình, con trai xỏ lỗ tai, tóc chỉa, nhuộm đủ màu. Vân vân... Các em nói tiếng Anh như gió, sinh hoạt và suy nghĩ y hệt Mỹ con, học giỏi hơn người, và trên giấy tờ là công dân Mỹ thật đấy, nhưng vẫn không được dân Mỹ gọi là Mỹ, có chăng chỉ là Vietnamese-Americans, không được chấp nhận vào trong xã hội đóng kín của họ.


Vì sao?  Vì yếu tố chính, nếu không nói duy nhất, của kỳ thị, ít ra tại Mỹ, là màu da, chứ không phải tiếng nói, tập quán, hay chủng tộc. Dân da trắng, mắt xanh, tóc vàng đến từ bên kia Đại tây dương, kể cả Đông Âu và Kosovo, nói tiếng Anh đầy accents, có mấy ai bị kỳ thị? Lấy ví dụ Henry Kissinger, mà tôi xem như một tên đồng lõa bỉ ổi của lũ Việt Cộng: gốc Do Thái, sinh tại Đức, nói tiếng Anh nặng trịch, khó nghe, vậy mà vẫn leo lên đến chức Bộ trưởng ngoại giao! Người da đen con cháu nô lệ từ thời lập quốc, và người Tàu ở các chinatowns, San Francisco hoặc Seattle, mà tổ tiên là phu đường rầy xe lửa xuyên bang cách đây gần hai thế kỷ, biết rõ điều này, hơn ai hết. Chưa nghe ai gọi người Nga hay người Pháp nhập tịch là Russian-Americans hay French-Americans, mà là Caucasians, được dùng cho tất cả người da trắng đến từ Âu Châu, một cách sai lạc. Trái lại, dân da đen và da vàng được ưu ái đặt tên là African-Americans hay Asian-Americans. Sau vụ khủng bố 11/9, các ông Á rập Muslim, đến từ Trung Đông, râu ria xồm xoàm, da nâu sậm hay tai tái, trở thành mục tiêu nghi ngờ, dù họ nói thứ tiếng gì. 


Người Mỹ tôn trọng truyền thống, văn hóa của di dân, vì luật định và do tình cảm, tính hiếu kỳ, hoặc nhu cầu nghề nghiệp, làm ăn, sợ vi phạm luật chống kỳ thị. Quả vậy, chưa hề có bài báo Mỹ nào công khai chỉ trích, khinh chê tập tục của chúng ta, ngoại trừ việc ăn thịt chó (California có đạo luật bỏ tù kẻ vi phạm). Tuy nhiên, bảo tồn truyền thống, văn hóa không có nghĩa là chúng ta ôm khư khư cái dở, cái cổ hủ, thách đố tiến trình đào thải của văn minh thế giới. Câu ca dao “Ta về ta tắm ao ta / Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” chỉ có giá trị tương đối, và trên bình diện khách quan, có thể hiểu như một tâm trạng thất bại, chịu đựng, hoặc cố chấp. Ao trong thì quá tốt, nhưng ao đục thì quả là mất vệ sinh, vào tắm làm sao khỏi bị ghẻ lở!


Những ví dụ về “ao đục” khá nhiều. Chẳng hạn thói chửi mắng, đánh đập con cái, quan niệm chồng chúa vợ tôi, trọng nam khinh nữ. Hoặc luân lý “tam cương ngũ thường” và thuyết “tam tòng” (tòng cha, tòng chồng, tòng con trai) bất công, lạc hậu được đặt ra để đàn áp người dân và phụ nữ dưới chế độ quân chủ, phong kiến độc tài. Hoặc bệnh đố kỵ, chia rẽ, cá nhân chủ nghĩa, nói xấu đồng hương được xem như bất trị nơi có đông dân mình và xác nhận bởi người ngoại quốc và cả chúng ta. Hoặc tật nói chuyện oang oang (bằng tiếng Việt, dĩ nhiên) trong sở Mỹ, trường học (các bà khi đi đón con, cháu), trên xe bus, gọi nhau ơi ới, chửi con, cũng bằng tiếng Việt tại các siêu thị, hàng quán. Hoặc thiếu kiên nhẫn, không chịu xếp hàng chờ đến lượt mình, xả rác, khạc nhổ, hỉ mũi bừa bãi nơi công cộng  –những điều đã quá quen mắt nơi quê nhà. Sang đây, sống nhờ ở xứ người, chúng ta cần uyển chuyển thích nghi với tập tục, nếu không nói phép xã giao thường thức, và văn hóa của dân bản xứ mới hy vọng thành công, được kính trọng, và sự cảm thông giữa những dân tộc mới có cơ may trở thành tốt đẹp.                                                
 
Ấy là chưa nói đến rắc rối với pháp luật. Đánh con (và đánh vợ, đánh chồng) có thể vào tù như chơi, kể cả người da trắng. Vụ một người mẹ Mỹ quận Washington (Oregon) cách đây khá lâu, bị đưa ra tòa chỉ vì đánh vào mông con mấy cái bằng dây nịt là một bằng chứng  –một tội khá lạ lùng đối với người Việt dù được Mỹ hóa cách mấy. Vừa rồi, lưỡng viện Anh biểu quyết đạo luật cho phép cha mẹ đét vào mông con cái để dạy dỗ, nhưng còn thòng một điều kiện là "phải nhẹ nhàng" thôi. Nựng con nít bằng cách sờ vào chỗ kín, như thói quen nhà quê ở Việt Nam, sẽ bị kết tội xâm phạm tiết hạnh (sexual abuse), và một di dân Việt tại Portland lúc mới sang đã bị thưa vì hành động này và được tha sau khi Tòa nghe giải thích về tập tục. Nhìn chăm chăm một em bé, hay bắt chuyện với em tại một siêu thị, chẳng hạn, hãy coi chừng, có thể bị người mẹ nghi là “mẹ mìn”, nhất là nếu mình là da đen, da đỏ, da vàng, da nâu, da tái. Được bảo vệ kỹ như vậy, thảo nào trẻ con Mỹ vô tình biến thành mục tiêu đáng sợ, cần phải kính nhi viễn chi, và hậu quả là chúng cảm thấy cô đơn, thiếu tình thân mật của người lớn –điều mà một số nhà tâm lý Mỹ bắt đầu than phiền. Còn nữa, đã xảy ra lâu rồi chuyện một học sinh Việt đến trường Mỹ với lưng bầm dấu cạo gió. Đại diện cộng đồng Việt Nam phải sùi bọt mép giải thích, nhà trường mới chịu thông cảm, không mời cha mẹ ra hầu tòa. Điều mỉa mai thú vị là bây giờ phương pháp cạo gió được nằm vào mục trị liệu Đông y dưới danh từ chưa có trong tự điển, coining (lấy từ chữ coin là đồng xu, coining là thuật cạo gió bằng đồng xu).  


Phụ nữ, ưu tiên số hai trong đẳng cấp xã hội Mỹ, sau con nít, cũng gây phiền lụy không kém cho giới mày râu. Ông chủ ngay tình khen một cô nhân viên trẻ đẹp rằng cô có sóng mắt khuynh thành khuynh quốc, hay cô trông hiền như ma sơ, chẳng hạn, hoặc trong thang máy lỡ giẫm lên chân một bà sồn sồn, đến tuổi hồi xuân, có thể bị thưa về tội “tống tình”, “xách nhiễu tình dục” như chơi. Tuần báo Pháp Paris Match mấy năm trước có đăng một bài phóng sự về các vụ kiện thưa thuộc loại ruồi bu lẩm cẩm này, chỉ thấy tại Mỹ –nước mà ai cũng có thể kiện ai và luật sư đông hơn kiến cỏ (nuôi gà để cho nó gáy lúc 4 giờ sáng cũng bị hàng xóm kiện). Ông tổng thống Clinton suýt bay chức vì cái tội thích được thổi kèn (har)monica. Trái lại, ở Pháp, xứ tự do luyến ái thả giàn (Tổng thống Mitterrand lén nuôi đứa con rơi mấy năm liền tại điện Élysée, bị phát giác, mà dân Pháp chẳng ai buồn tố khổ; Chirac lúc còn là thị trưởng Paris, nghe đồn, có một call girl là một ca sĩ Việt Nam, mà có “chết thằng tây” nào; đời tư của Sarkozy không thơm tho hơn, cũng vợ nọ vợ kia, mà có sao đâu; tân tổng thống François Hollande có hai bà vợ liên tiếp không bao giờ cưới, mà có ông Tây bà Đầm nào đặt vấn đề,  so what? et alors?), và các cô đầm lấy làm thích thú hoặc hãnh diện được “xách nhiễu” (harcèlement) theo kiểu đó vì cho rằng mình có đẹp người ta mới chú ý, xấu thì ma nào thèm quấy rầy. Cũng có lý!


Mới đây, theo tờ The Oregonian, có hai chị em nhà kia trên 60 cái xuân xanh, một hôm buồn tình, vác đơn kiện Tòa Tổng giám mục Portland đòi bồi thường hàng triệu đô la, với lý do bị một linh mục coi xứ cưỡng bức lúc còn vị thành niên, tức là gần 50 năm, mặc dù ông linh mục đã về chầu Chúa từ lâu rồi. Âu đó cũng là một đặc điểm của Mỹ quốc, nơi phong trào phụ nữ đòi quyền bình đẳng dâng cao, dữ dằn như sóng thần. Dù đã hội nhập đầy đủ, dù chữ nghĩa đầy mình, đàn ông Việt, vì thế, khi khen ngợi hay ôm hôn (hug) một phụ nữ Mỹ, cũng nên thận trọng về miệng mồm cũng như bàn tay năm ngón. Tốt hơn, không khen, không ôm. Cẩn tắc lúc nào chả vô áy náy, cổ nhân đã dạy như vậy ắt chẳng sai.


Giai cấp thứ ba trong xã hội Mỹ là ... súc vật, trên cả đàn ông. Có hàng chục luật lệ cho việc nuôi chó, mèo. Ngược đãi hoặc hành hạ chúng là vào tù. Chó cắn chết người phải có án tòa mới được đem đi bắn bỏ, nghĩa là không được tự tiện “xử lý” (danh từ VC) tại chỗ. Đi xa bỏ mèo đói ở nhà, chủ nhân bị còng tay  –những điều mà dân ta khi còn ở Việt Nam và dân Á Châu không tưởng tượng nổi. Ăn thịt chó thì Mỹ và Âu Tây cho là mọi rợ, vì theo họ chó là giống vật trung thành, nhưng họ giết ngựa ăn thịt thì “no problem”, dù ngựa cũng trung thành không kém chó. Mỗi năm, tại Portland, các đoàn viên phong trào bảo vệ súc vật biểu tình phản đối trước các tiệm bán áo choàng lông thú và McDonald’s vì bán hamburger kẹp thịt bò. Cô đào “chuổng cời” Brigitte Bardot, nay về già (lúc còn trẻ có hàng tá nhân tình) làm lãnh tụ phong trào này tại Pháp, tuyên bố thích súc vật hơn người (đàn ông, dĩ nhiên).
 
Đông Tây không gặp nhau trong nhiều chuyện dài khác nữa. Tỷ như việc hai người cùng phái đi ngoài đường. Tại quê ta, sẽ không sao cả nếu hai anh đực rựa nắm tay nhau đi dung dăng dung dẻ dạo phố, hoặc hai cô nàng vai kề vai thủ thỉ bên nhau trước công chúng. Ở Mỹ, người ta kỵ, sợ bị nghi là gay hay lesbian. Điều lạ là dù đồng tính luyến ái được pháp luật cho phép và bảo vệ, và được phép cưới nhau tại vài nơi (và việc cưới hỏi như thế mới đây được anh chàng láu cá Obama công khai ủng hộ, vì nhu cầu hốt phiếu), nhưng ai cũng ngại bị liệt vào thành phần đó.


Còn về ngôn ngữ không lời (nonverbal language), tức ra dấu bằng tay, Đông và Tây hoàn toàn trái ngược. Một ví dụ: để kêu, gọi ai, người Mỹ và Pháp đưa ngón trỏ hay bàn tay lên, úp vào trong, như vẫy chó, nhiều người Việt ta lấy đó làm buồn. Ngược lại, cũng trong hành động này, nếu ta úp bàn tay xuống, người Mỹ tưởng ta ra dấu “bye bye” và sẽ chào lại y hệt. Giơ ngón tay giữa (trên bàn tay năm ngón của anh nằm vùng Trịnh Công Sơn) lên đối với người Việt mình chả có nghĩa gì, nhưng đối với người Mỹ là chửi Đ.M, có thể gây đổ máu như chơi. Bàn chân đối với ta hạ cấp, dơ bẩn, nhưng đối với Mỹ, có óc thực tế hơn, đó chỉ là một bộ phận như mọi bộ phận khác trong cơ thể. Cho nên việc học sinh gác chân lên bàn để được thoải mái trong lúc thầy giảng bài là thường, không có gì vô lễ. Khi nói chuyện, người Mỹ nhìn thẳng vào mắt người đối diện để chứng tỏ mình ngay thẳng, chú tâm, người Việt (và Á Châu) thì nhìn nơi khác để biểu lộ kính trọng, đặc biệt đối với bậc cao niên. Người Mỹ trả lời thẳng (yes hay no, cùng lắm là I don’t think so để từ chối), người Việt vòng vo tam quốc, cả nể, sợ làm mất lòng, nhất là khi phải nói no. Người Mỹ kỵ hỏi về đời tư, hay cá nhân, còn người Việt mình, dù thân hay sơ, có thói quen hỏi, và muốn biết cho bằng được (dù các “nạn nhân” đối tượng, trong số có kẻ hèn này, né tránh, lảng qua chuyện khác) về tuổi tác, lương bổng, bệnh tật, tình trạng gia đình, một cách tỉnh khô, có khi hỏi cả số pounds của một bà Mỹ mập, mới chết người ta chứ! Đối với dân Mỹ, đến đúng hẹn và đúng giờ rất quan trọng và được coi như thước đo mức độ xã giao, lịch sự và tự trọng, còn người mình có tật tà tà (trừ khi đến sở làm, sợ bị đuổi), coi thường cái hẹn (kể cả với bác sĩ), và thời giờ là cao su (chứ không phải vàng bạc). Đặc biệt, dự tiệc cưới. Không biết cái tệ trạng này phát sinh từ bao giờ, nhưng nay trở thành truyền thống của người Việt lưu vong, bất cứ nơi nào. Tiệc cưới ghi rõ mời 5 giờ, mà 7 giờ vẫn có nhiều kẻ đủng đa đủng đỉnh tới, tự nhiên như người... Hà Nội, và mãi đến 8 giờ, sau khi phải nghe anh chàng MC, thường pha trò rất vô duyên, thông qua một lô thủ tục giới thiệu, khách mới được cho húp muỗng xúp đầu tiên, đã nguội tanh. Chỉ tội nghiệp cho thực khách Mỹ, luôn luôn đến đúng giờ, ngồi chờ dài cả cổ! Một số người Việt cũng muốn đúng giờ lắm, nhưng nghĩ rằng ai cũng trễ, tội gì ta đến sớm, không khéo mang tiếng tham ăn tham uống.
 
Có hai đặc điểm, không biết hay hay dở, không thấy ở người Á Châu khác, làm điên đầu người Mỹ. Đầu tiên, tiếng “dạ”, mà họ cho là “vô cùng khó hiểu”. Yes có nghĩa yes, mà no cũng có nghĩa yes, như vậy đối với họ ta thiếu thành thật, hoặc không giữ lời hứa. Họ đâu biết rằng tùy cách diễn đạt và giọng nói, tùy nét mặt và cử chỉ kèm theo, tiếng dạ của người Việt Nam hàm chứa nhiều nghĩa. Không hẳn đồng ý. Có khi không hiểu, nhưng không tiện hỏi lại. Có khi là “không”, nhưng không dám nói thẳng thừng, như trường hợp từ chối một lời mời hay một lời tỏ tình (khi tình yêu chưa chín). Có khi che giấu sự bối rối, lưỡng lự. Chính người Việt Nam với nhau còn hiểu lầm, huống hồ ngoại quốc.


Rồi đến nụ cười. Cũng khó hiểu tương tự cái dạ trên. Nụ Cười Bí Hiểm, nếu dịch theo từ Enigmatic Smile trong sách vở Mỹ. Dĩ nhiên nụ cười này không dính dáng đến đôi môi hé mở bất hủ của La Joconde, hay cái cười “hì” vô cớ của dân “Annam” ta mà cụ Nguyễn Văn Vĩnh, chủ nhiệm Đông Dương Tạp Chí, đầu thế kỷ qua, đã mô tả và chê bai trong bài “Gì cũng cười”. Nó được dùng để nói mọi điều không thể (hoặc không muốn) diễn đạt chính thức bằng lời: chào hỏi, xin lỗi, cám ơn, đồng ý, từ chối, mắc cỡ, v.v..., đôi khi tỏ dấu yêu thương nữa.
 
        Chúng ta cần bỏ các hủ tục để thích ứng với môi trường đang sống, đó là lẽ đương nhiên. Nhưng trong số tập quán tốt đẹp người mình cần bảo tồn, thiết nghĩ phải có Tiếng Dạ Khó Hiểu và Nụ Cười Bí Hiểm hiền lành, dễ thương, vô tội này. Bởi không dân tộc nào trên thế giới có tiếng dạ và nụ cười như thế đó, và như vậy người Việt mình, đặc biệt các quý nương, có sức hấp dẫn lạ thường đối với ngoại quốc, và đó mới thật là văn hóa, chứ không phải phở gà, chả giò, bún bò Huế, bún chả Hà Nội, mà ai bây giờ cũng làm được, kể cả các anh Tàu đến từ Bắc Kinh, Hồng Kông. Nói thật, nói hết, nói thẳng như Tây Phương sẽ làm mất tiêu ma lực của sự giao tiếp, cảm thông. Cũng như của tình yêu.
 
Kipling chắc sẽ hết thở than nếu được tiếp xúc với người Việt Nam. Bởi vì nếu Đông và Tây gặp nhau, sẽ còn gì quyến rũ nữa đây, hở trời?
 

kim thanh

 
Portland, 2010, 6/2012