Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai ĐẠO LUẬT Y TẾ MỚI CỦA MỸ SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

ĐẠO LUẬT Y TẾ MỚI CỦA MỸ SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

In PDF.

 


Sau nhiều thập niên với nổ lực của nhiều đời tổng thống, rồi trải qua hơn 14 tháng tranh luận căng thẳng tại diễn đàn Quốc Hội và trên các diễn đàn công cộng khác, mãi đến tháng Ba năm 2010 một đạo luật cải cách y tế với quy mô rộng lớn cho toàn nước Mỹ mới chính thức ra đời. Tên chính thức của đạo luật được ký ngày 23/3/2010 là The Patient Protection and Affordable Care Act, thường được gọi là Affordable Care Act (ACA). Nhưng từ khởi sự chính giới Mỹ đã không đạt được sự đồng thuận cao đối với nội dung của  cuộc cải cách y tế, vì vậy tuy Đạo luật đã được thông qua, sự chống đối vẫn không kết thúc, trái lại càng mạnh mẽ hơn và chuyển hẳn qua một bình diện khác: bình diện pháp lý.Ngay từ sau ngày đạo luật ACA được chính thức ban hành, nhiều vụ kiện chống lại Đạo luật, ở nhiều cấp độ khác nhau, đã được tiến hành. Phần đông các vụ kiện ấy không thành, bị các toà án ở cấp thấp bác bỏ, chỉ riêng vụ của bang Florida, đại diện nhiều tiểu bang khác, là được đưa lên tới Tối Cao Pháp Viện(TCPV). Trong ba ngày 26,27 và 28 Tháng Ba vừa rồi, TCPV đã chấp thuận nghe luật sư đôi bên- đại diện của Chính Phủ Liên Bang và đại diện của 26 tiểu bang- trình bày quan điểm của mình. Sau đó, ngày Thứ Sáu 30 Tháng Ba, chín vị Thẩm phán( Justices) của TCPV đã họp kín, bỏ phiếu sơ bộ cho phán quyết cuối cùng đối với Đạo luật. Kết quả của cuộc bỏ phiếu đó vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Phải đợi đến Tháng Sáu, phán quyết cuối cùng của TCPV mới được công bố. Từ đây cho đến đó, không một ai có thể đoán định được chắc chắn là phán quyết của TCPV sẽ như thế nào. Đạo luật y tế mới của Mỹ, ACA, rồi sẽ đi về đâu là một câu hỏi lớn đeo đẳng trong lòng nhiều người trong những tháng tới.


CƠ CẤU HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ HIỆN NAY CỦA MỸ:


Hệ thống y tế hiện nay của Mỹ là một hổn hợp của cả 4 thành phần như sau:


A.    Đối với những người trên 65 tuổi thì thuộc hệ thống Medicare, do chính phủ Liên bang điều hành, là một hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát áp dụng cho mọi công dân trên 65 tuổi. Chính phủ chi trả cho tất cả mọi chi phí y tế cho các thành viên của chương trình Medicare. Số người trên 65 tuổi chiếm khoảng 13%, tức chừng 40 triệu (con số năm 2007).


B.    Người Da đỏ, Quân nhân và Cựu chiến binh thì được hưởng bảo hiểm y tế do Chính phủ Liên bang đảm nhiệm cả việc cung cấp dịch vụ y tế lẫn việc chi trả cho các dịch vụ đó. Các trạm xá và bệnh viện đều là của chính phủ Liên bang; các bác sĩ là nhân viên của chính phủ.


C.    Những người trong độ tuổi lao động thì các chủ nhân và các công ty cùng với công nhân, viên chức chia nhau chi phí mua bảo hiểm. Và công nhân trả thêm co-payment cho một số dịch vụ y tế. Các hảng bảo hiểm y tế hoàn toàn là tư nhân, là những tổ chức có mục đích kiếm lời (for profit entity). Nhóm này chiếm đại đa số dân chúng, đến khoảng 160 triệu người.


D.    Cuối cùng là những người không có bảo hiểm y tế. Thành phần này phải dùng tiền riêng của mình để trả cho toàn bộ những chi phí y tế do họ phát sinh. Hiện nay có chừng hơn 47 triệu người Mỹ thuộc vào nhóm này!



NHỮNG BẤT CẬP HIỆN NAY CỦA HỆ THỐNG Y TẾ MỸ


•    Phẩm chất của nền y tế kém so với chi phí cao và gia tăng nhanh. Mỹ là nơi quy tụ các bác sĩ, chuyên gia y tế, y cụ và phương pháp điều trị tối tân vào bậc nhất trên thế giới.Tuy nhiên, một cách tổng quát thì phẩm chất của nền y tế, xét theo các tiêu chuẩn quốc tế, lại không cao so với các quốc gia khác và so với mức chi phí. Có đến gần 47 triệu người không có bảo hiểm, khoảng 25 triệu với bảo hiểm giới hạn và hàng năm có đến cả trăm ngàn người chết chỉ vì lý do đơn giản là không có bảo hiểm để được gặp bác sĩ, được chẩn đoán và điều trị.



•    Chi phí săn sóc y tế hàng năm của Mỹ cao hơn các nước khác; chẳng hạn gấp đôi Canada, chiếm đến gần 17% Tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và mức chi phí y tế gia tăng quá nhanh; gần gấp đôi chỉ trong vòng chưa đầy một thập niên.



•    Các hảng bảo hiểm khống chế thị trường, đẩy giá bảo hiểm lên cao khiến nhiều người không mua nổi. Có trường hợp hảng bảo hiểm từ chối bảo hiểm khi bệnh xảy ra cho những người đã có mầm bệnh, hoặc những chứng liên quan, trước khi mua bảo hiểm, nhưng không ghi trong hợp đồng bảo hiểm; tiếng Mỹ gọi là pre-existing conditions.



•    Tất cả các hảng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, for-profit organization; lý do tồn tại  của các hảng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải vì sức khoẻ của khách hàng. Quyền lợi kinh tế của hảng bảo hiểm và quyền lợi y tế của khách hàng luôn mâu thuẩn và tiêu trừ lẫn nhau. Một trong những thủ thuật thông thường của các hảng bảo hiểm là từ chối, hoặc trì hoản, chi trả phí tổn dịch vụ y tế cho khách hàng (deny or delay customer’s claim payments). Họ mướn những chuyên viên để lo việc này (gọi là các claim adjusters), hoặc thiết lập các hệ thống computer tối tân để tự động hoá việc từ chối chi trả. Họ cũng tưởng thưởng cho những nhân viên nào thực hiện được tốt những sự từ chối hoặc trì hoãn như vậy. Theo National Association of Insurance Commissioner thì chỉ riêng trong năm 2008 có đến hơn 195,000 khiếu nại của khách hàng về việc bị các hảng bảo hiểm từ chối chi trả dịch vụ y tế. Có trường hợp khách hàng đã chết rồi mà sự khiếu nại vẫn chưa giải quyết 



•    Ngoài ra còn có trường hợp huỷ bỏ hồi tố hợp đồng bảo hiểm (retroactive cancellations/ after-the-fact policy cancellations) nếu hảng bảo hiễm khám phá ra là khách hàng trước đó, khi ký hợp đồng bảo hiểm, đã cố ý hay vô tình không khai một chi tiết bệnh lý nào đó trong hồ sơ cá nhân của mình. Ngay cả những người vì không biết mà không khai cũng chịu sự chế tài đó. Và sự huỷ bỏ này có thể áp dụng cho cả gia đình dù chỉ một thành viên trong gia đình sai phạm. Chẳng hạn một phụ nữa ở Texas bị phát hiện có bướu trong vú. Ngay lúc đó hảng bảo hiểm điều tra và tìm ra là trước đó người phụ nữ này đã mắc chứng rỗng xương (osteoporosis) mà không khai khi lập hợp đồng bảo hiểm. Tuy rằng chẳng có mối liên hệ gì giữa hai căn bệnh, hảng bảo hiểm vẫn lấy lý do đó để huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm!



•    Sự an toàn của các dịch vụ y tế là một vấn đề khác. Hàng năm có đến gần 100,000 người chết trong các bệnh viện gây ra do các nhầm lẫn có thể tránh được trong dịch vụ y tế (preventable medical errors), nhiều hơn thương vong do tai nạn xe cộ hay do bệnh AIDS!  Vấn đề này dẩn đến việc giới cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, dược sĩ, bệnh viện, v.v… phải trả bảo hiểm nghề nghiệp cao hơn nhiều lần so với đồng nghiệp ở các quốc gia khác. Nó cũng làm gia tăng các vụ kiện tụng giữa bệnh nhân và các bác sĩ. Tất cả những vấn đề này góp phần không nhỏ vào việc đẩy chi phí y tế nói chung lên cao rất nhanh; hơn gấp đôi chỉ trong một thập niên.



•    Một thiếu sót khác liên quan đến vấn đề phòng bệnh (preventive care). Khác với các quốc gia tiên tiến khác, như Anh Quốc chẳng hạn,  hệ thống y tế của Mỹ không chú ý đúng mức đến công tác phòng bệnh. Những bệnh trạng đứng đầu trong danh sách gây tử vong hàng năm như các chứng tim mạch, tiểu đường, ung thư phổi, ung thư vú, v.v… là những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được với hiệu quả cao nếu như sự phòng bệnh được thực hiện chu đáo và người dân có bảo hiểm y tế đầy đủ. Sự thiếu chú trọng đến vấn đề phòng bệnh phản ảnh trong hiện tượng thiếu thốn bác sĩ gia đình.Một số ước tính trong năm 2008 cho thấy nước Mỹ thiếu đến 14,000 bác sĩ gia đình. Hiện nay bác sĩ tổng quát chỉ chiếm 35% tổng số bác sĩ; so với Anh Quốc là 60%.Thu nhập trung bình của một bác sĩ tổng quát là chừng 200,000 dollars/năm; của một bác sĩ giải phẩu chừng 350,000 dollars/năm.  Tỉ lệ sinh viên y khoa chọn đi chuyên ngành rất cao so với số chọn đi toàn khoa. Học phí tại các trường Y khoa rất đắt, trung bình một sinh viên y khoa tốt nghiệp nợ từ 60,000 cho đến 100,000 dollars!



•    Sự thiết lập hạn mức dịch vụ y tế (healthcare rationing): Trước hết là sự giới hạn việc đi khám bác sĩ. Thông thường hảng bảo hiểm buộc bệnh nhân chỉ được đến khám ở những bác sĩ có tên trong một mạng nhất định (in network); hảng bảo hiểm sẽ không chi trả nếu người bệnh tự ý đi khám ở những bác sĩ ngoài mạng (out-of network). Việc phải trả co-payment hoặc deductible cũng là những hình thức buộc người bệnh phải tự hạn định mình trong việc đi khám bác sĩ hoặc chữa trị. Kế đến là hảng bảo hiểm từ chối không chi trả cho những sự chữa trị hoặc các dược liệu nào đó đối với bệnh nhân (như CT scan, làm răng gỉa, niền răng, chiropractice, thuốc mới…). Các bác sĩ chỉ có quyền đề nghị sự chữa trị hay các xét nghiệm; còn người quyết định cuối cùng trong mọi trường hợp, ngoài bệnh nhân ra, là hãng bảo hiểm với quyền chi trả của mình.



Ngay cả bảo hiểm của chính phủ, như Medicare hay Medicaid, cũng có sự hạn định nêu trên. Sự khác biệt là những hạn định của bảo hiểm chính phủ không vì mục đích kiếm lời, như của bảo hiểm tư nhân, mà thường là để dành một số dịch vụ nào đó cho những trường hợp cần thiết hơn.


NHỮNG NÉT CHÍNH TRONG ĐẠO LUẬT ACA


Sau đây là vắn tắt những điểm chính trong Luật cải cách y tế ACA:


•    Sẽ thiết lập một quỹ tạm thời để tài trợ việc mua bảo hiểm cho những người thuộc nhóm có rũi ro cao nhất, đã mang trọng bệnh trong người và đang thất nghiệp.



•    Con cái sẽ được hưởng theo bảo hiểm của cha mẹ cho đến 26 tuổi, thay vì 24 tuổi như hiện nay.



•    Tính đến năm 2016, khi những điều khoản chính của Luật được thực thi hoàn toàn, sẽ mở rộng bảo hiểm cho thêm 32 triệu người nữa, những người hiện nay chưa có bảo hiểm.



•    Các hãng bảo hiểm không được từ chối bảo hiểm cho những trẻ em đã mang trọng bệnh (pre-existing conditions). Đến năm 2014 trở đi yêu cầu này áp dụng phổ quát cho cả người lớn.



•    Luật buộc mọi người: công dân và cư dân hợp pháp phải mua bảo hiểm sức khoẻ (individual mandate), ở mức thiết yếu tối thiểu (minimal essential coverage) cho bản thân và con cái. Họ có thể mua qua chủ hãng nơi làm việc hoặc ở các thị trường mới do chính phủ lập ra gọi là Health Benefit Exchanges. Đối với những người gặp khó khăn tài chánh, và không có Medicaid hoặc Medicare, sẽ được tài trợ (subsidy) để mua bảo hiểm.


•    Những cá nhân hoặc gia đình có lợi tức đồng niên dưới 44,000$/ người hay 88,000$/ gia đình sẽ được chính phủ tài trợ để họ không bao giờ phải trả đến 10% lợi tức của mình cho việc có một bảo hiểm y tế đúng tiêu chuẩn. Nguyên tắc căn bản là lợi tức càng thấp, càng được tài trợ nhiều.



•    Kể từ năm 2014 ai không mua bảo hiểm y tế sẽ bị phạt 695$/ người và tối đa là 2,805$/ gia đình, hoặc 2.5% lợi tức của gia đình. Ngoại lệ cho sự chế tài trên đây là những người vì lý do tôn giáo, người thổ dân da đỏ, di dân bất hợp pháp và tù nhân.



•    Những cá nhân và gia đình có mức lợi tức từ 133% đến 400% Giới hạn Nghèo (Federal poverty Line, FPL) của Liên Bang, nếu muốn mua bảo hiểm, sẽ được chính phủ tài trợ (subsidies) để mua tại những cơ quan Trao Đổi của các tiểu bang (state-based Exchanges), và tuỳ theo mức lợi tức mà họ sẽ đóng góp nhiều hay ít, theo một thang ấn định, vào phần bảo hiểm phí (premium).



•    Mở rộng chương trình Medicaid (Medical ở California) để bao gồm những gia đình có mức lợi tức đồng niên đến 133% Giới hạn Nghèo FPL, nghĩa là đến 29,327$ cho một gia đình 4 người. Đến năm 2014 thì chương trình Medicaid bao gồm luôn cả những người lớn không con nhỏ nhưng có lợi tức thấp như vừa nói. Năm 2016 trở đi, Liên Bang sẽ trả 100% chi phí bảo hiểm cho những người hưởng Medicaid.



•    Phát động một quốc sách cải thiện phẩm chất nền y tế đặt ưu tiên cho các dịch vụ săn sóc y tế sơ cấp (primary care services) cung cấp bởi bác sĩ gia đình, bác sĩ tổng quát và nhi khoa. Các biện pháp phòng bệnh sẽ rất được đề cao. Hội đồng Phòng Bệnh Quốc gia,Thăng tiến Sức khỏe, và Y tế Công cộng ( National Prevention, Health Promotion and Public Health Council) sẽ đươc thành lập để phối hợp các hoạt động y tế nhằm phòng chống bệnh và tăng cường sức khoẻ công cộng. Song song với việc đề cao sự phòng bệnh là các biện pháp nhằm gia tăng tỉ số bác sĩ tổng quát và bác sĩ gia đình trong cơ cấu y sĩ đoàn toàn quốc. Cho đến nay, tỉ số những loại bác sĩ đó rất thấp, khoảng 35%.



CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN TỐI CAO PHÁP VIỆN (TCPV)


Tổng cộng lớn nhỏ, từ sau ngày luật y tế ACA, có người còn gọi là Obamacare, được ban hành cho đến nay, có chừng hơn 20 vụ kiện quanh tính chất hợp hiến của luật đó.


Đầu tiên là vụ Mac Kenzie v. Shaheen, ngày 30/4/2010; nghĩa là chỉ hơn một tháng sau ngày luật ACA ban hành. Trong vụ này, nguyên đơn là William Mac Kenzie đưa đơn kiện, tại toà án Liên Bang ở New Hampshire, các vị Thượng Nghị Sĩ Jeanne Shaheen, Dân Biểu Carol Shea Porter, Dân Biểu Paul Hodes, và Chính phủ Liên Bang với lý do là vì đã thông qua và ban hành luật y tế ACA vi phạm hiến pháp bang New Hampshire, Hiến Pháp Mỹ và các đạo luật khác. Toà Sơ thẩm Liên Bang ở New Hampshire đã bãi miễn vụ kiện này ngày 7/5/2010 vì không có thẩm quyền tư pháp đối với các Dân Biểu và Nghị Sĩ bị đơn, là những người được hưởng quyền đặc miễn lập pháp (legislative immunity) trong khi thi hành nhiệm vụ lập pháp của họ. 


Vụ kế tiếp đáng chú ý là vụ Virginia v. Sebelius, trong đó bang Virginia là nguyên đơn và Bộ trưởng Bộ Y tế Kathleen Sebelius là bị đơn. Nội dung chính của vụ kiện là cho rằng đạo luật ACA, với điều khoản cưỡng bách công dân phải mua bảo hiểm y tế (Individual mandate), là vi hiến, và rằng việc mua hay không mua bảo hiểm y tế không thuộc thẩm quyền của Liên Bang, mà là của tiểu bang, nên Quốc Hội Liên Bang không có  quyền làm luật để can thiệp vào. Toà Sơ thẩm Liên Bang (Federal District Court) đã xử cho bên nguyên đơn, quyết định rằng việc cưỡng bách công dân mua bảo hiểm y tế là vi hiến (unconstitutional). Vụ này sau đó được đệ lên toà kháng án Liên Bang (the US Court of Appeals of the fourth Circuit Court), và toà này, vào ngày 8 tháng 9 năm 2011, đã bải bỏ vụ kiện vì cho rằng không đủ cơ sở.


Vụ kiện chính yếu, trong loạt các vụ kiện chống lại đạo luật ACA, là vụ Florida v. Sebelius. Đây là vụ tiểu bang Florida, cùng với đại diện của 25 tiểu bang khác, kiện chính phủ Liên Bang, do Bộ Trưởng Y tế Sebelius đại diện, về đạo luật ACA, cho rằng đạo  luật đó vi hiến. Phía nguyên đơn, lý luận rằng điều khoản 1501 của Đạo luật về Cưỡng bách Bảo hiểm Y tế là vượt quá quyền hạn của Quốc Hội đã được quy định trong Hiến Pháp. Hơn nữa, Chánh án Toà Sơ thẩm LB ((the Judge of Federal District Court) ở Florida còn phán quyết rằng không những chỉ điều khoản 1501 là vi hiến, mà toàn bộ đạo luật ACA đều vi hiến và nên được tiêu huỷ (nullified). Toà Kháng Án LB số 11 (Eleventh Circuit Court of Appeal), vào ngày 20/8/2011 đã y án với Toà Sơ Thẩm. Cuối cùng Bị đơn, tức Chính phủ LB, đã kháng án lên TCPV. Ngày 14/11/2011 TCPV đã ban án lệnh phê chuẩn (the writ of certiorari) thỉnh cầu kháng án của Bị đơn, ấn định cho đôi bên Nguyên-Bị được trình bày lập trường của mình trước mặt 9 vị Thẩm Phán Tối Cao (justices) vào tháng 3/2012.


Đến đây, xin mở ngoặc để lướt qua những nét chính của hệ thống toà án ở Mỹ nhằm giúp những vị chưa quen với hệ thống pháp lý Mỹ có một cái nhìn khái quát về hệ thống ấy để dùng vào việc theo dõi vụ án về luật ACA đang được bàn đến trên đây.


Một cách khái quát thì đó là một hệ thống đôi (dual court system) giữa tiểu bang và Liên Bang.


Đa số mỗi tiểu bang đều có một hệ thống toà án từ toà sơ thẩm (trial courts), toà kháng án (appellate courts, courts of appeal), và toà án tối cao (state supreme courts). Mỗi tiểu bang có hệ thống tư pháp riêng biệt, độc lập đối với nhau và với hệ thống toà án Liên Bang, có thẩm quyền tài phán đối với những vấn đề của tiểu bang. Toà sơ thẩm, là toà xử (trial court), thường mỗi quận hạt (county) có một toà với một quan toà (judge). Tại nhiều tiểu bang, như California chẳng hạn, loại toà sơ thẩm này được gọi là superior courts, là nơi khởi sự cho mọi vụ xét xử cả về hình sự lẫn dân sự. Các toà kháng án tiểu bang có từ một đến ba thẩm phán (justices), và toà án tối cao tiểu bang thường có bảy thẩm phán. Các toà này không đảm nhận việc xét xử mà chỉ tái thẩm phán quyết của toà xử, vì vậy tại các toà này không có sự hiện diện của bồi thẩm đoàn và nhân chứng, và thường có thủ tục khác với các toà xử ở dưới. Số lượng các toà kháng án của mỗi tiểu bang được phân bố tuỳ theo điều kiện địa lý và dân số của từng bang.


Hệ thống toà án Liên bang cũng có những nét cấu trúc chính tương tự. Cũng gồm có toà xử sơ thẩm, danh xưng chính thức là The US District Courts. Tổng cộng trên toàn LB có 94 toà district courts loại này; đảm trách tất cả những vụ thuộc thẩm quyền tài phán (jurisdiction) của Liên Bang. Các toà US District Courts này được phân bổ theo địa lý, tối thiểu sẽ có một toà cho một tiểu bang. Riêng bang Florida, nơi khởi diễn vụ kiện về đạo luật y tế ACA này, có 3 US District Courts: Northern, Middle, và Southern US District Courts. Về toà kháng án Liên Bang thì tên gọi chính thức là The US Court of Appeal, và tuỳ theo khu vực sẽ có thêm số vùng ở sau; chẳng hạn như bang Florida thuộc về khu vực 11 thì tên gọi chính thức của toà kháng án LB là The US Court of Appeal for the Eleventh Circuit; hoặc bang California và một số bang khác thì thuộc về The US Court of Appeal for the Ninth Circuit.   Chữ Circuit có nguồn gốc lịch sử là vì lúc sơ khai các thẩm phán của TCPV phải mỗi người phụ trách đi xét xử lưu động (circuit riding) một vùng. Về sau, do gặp trở ngại trong việc di chuyển và do nhu cầu pháp lý gia tăng theo đà phát triển của quốc gia, các toà kháng án Circuit Courts cố định cho từng vùng ra đời.Các toà kháng án LB này phân bổ trên toàn nước Mỹ như trong bản đồ sau:
 
Riêng TCPV (US Supreme Court) thì ngoài việc tái thẩm tối cao các phán quyết của các toà án LB cấp dưới (US Districts và Circuit Courts), toà còn có một thẩm quyền pháp lý quan trọng gọi là quyền tái thẩm tư pháp (judicial review), được suy diễn từ Điều III, khoản 1 của Hiến Pháp và từ án lệ (case law) nổi tiếng trong vụ Marbury v. Madison năm 1803, theo đó TCPV có quyền xét tính cách hợp hiến của tất cả các đạo luật lập pháp (statutory law) của Quốc Hội LB, cũng như của tiểu bang, và các sắc luật hành chánh của chính phủ. Bất cứ một đạo luật, hay một bộ phận của đạo luật, nếu bị TCPV tuyên phán là bất hợp hiến thì bộ phận hay đạo luật đó sẽ đương nhiên bị tiêu huỷ, trở nên vô giá trị về mặt pháp lý và không còn hiệu lực áp dụng. Chính là thẩm quyền này đang được đem ra áp dụng trong vụ kiện về đạo luật y tế ACA. Một điểm cũng cần lưu ý là không phải mọi vụ kháng án đều cuối cùng lên đến TCPV, trái lại chỉ có rất ít những vụ đặc biệt liên quan đến các vấn đề của Hiến Pháp, ở tầm mức Liên Bang, hoặc đến Dân quyền mới được Toà nhận xem xét. TCPV có toàn quyền để quyết định tái thẩm, hay không tái thẩm, đối với mọi kháng cáo. Để chấp nhận tái thẩm một vụ án, TCPV sẽ ban một án lệnh gọi là Writ of Certiorari đối với đơn kháng án của vụ đó.


VẮN TẮT NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC TRANH LUẬN TẠI TCPV 


Những vấn đề sau đây đã được đưa ra trước TCPV trong ba ngày 26,27 và 28 tháng Ba vừa qua quanh vụ kiện đạo luật y tế ACA.


Ngày đầu tiên, sự tranh luận quay quanh đề tài có tính chất thủ tục; đó là xét xem đạo luật Anti-Injunction Act (AIA) ra năm 1867 có trở nên một trở ngại về mặt thẩm quyền tài phán (Jurisdiction) đối với TCPV trong vụ kiện này không. Lý do là vì trong luật y tế ACA có khoản quy định rằng những ai vi phạm luật, không mua bảo hiểm , sẽ phải chịu một khoản thuế phạt tính theo bách phân lợi tức. Điều khoản đó sẽ bắt đầu áp dụng vào năm 2014. Trong khi đó thì, để tránh gây trở ngại cho việc thu thuế của chính quyền LB, đạo luật Anti-Injunction Act lại quy định rằng các sai phạm về thuế của chính phủ LB sẽ không bị kiện ra toà ít nhất 6 tháng sau khi thuế đã đóng xong và IRS đã được thông báo về sự sai sót. Như vậy có nghĩa rằng nếu đem áp dụng luật AIA vừa nói, thì TCPV ngay bây giờ chưa có thẩm quyền để xét xử vụ này, mà phải chờ cho đến năm 2014 khi việc áp dụng khoản thuế phạt của đạo luật y tế ACA được thi hành. Kết thúc tranh luận, các thẩm phán TCPV cho rằng vì mấu chốt của vụ kiện là tính chất cưỡng bách của việc mua bảo hiểm, chứ không phải chỉ là khoản thuế phạt, cho nên luật AIA không áp dụng cho trường hợp này, và TCPV vẫn có đủ thẩm quyền để tiếp tục xét xử.


Qua ngày thứ hai, cuộc tranh luận tập trung vào tính chất cưỡng bách của đạo luật y tế ACA. Đây là yếu huyệt của Đạo luật, theo đó luật buộc mọi cá nhân phải mua bảo hiểm y tế cho mình (individual mandate). Ông Donald B. Verrilli, Solicitor General của Bộ Tư Pháp, luật sư đại diện của phía Bị đơn. Phía bên Nguyên đơn do các luật sư Paul D. Clement và Michael A. Carvin đại diện.


Ngay từ đầu trong ngày thứ hai này, Chánh thẩm phán TCPV, ông John Roberts, và các thẩm phán Samuel Alito, và Anthony Kennedy, đã đặt những câu hỏi rất khó cho bên Bị. Chẳng hạn họ đem so bảo hiểm y tế với bảo hiểm mai táng vào hạch hỏi tại sao Chính phủ-Quốc hội chỉ quan tâm điều tiết thị trường bảo hiểm y tế và cưỡng bách công dân mua bảo hiểm đó, mà không làm như vậy đối với bảo hiểm mai táng (burial insurance)! Các thẩm phán đó còn ngờ vực rằng việc cưỡng bách mua bảo hiểm là hình thức trong đó người khoẻ mạnh, đa số  là giới trẻ, phải gián tiếp tài trợ cho người bệnh hoạn, đa số là giới lớn tuổi, và như vậy là không công bằng!


Bên Bị, tức phía Chính phủ, dựa vào mệnh đề Commerce (Commerce clause) thuộc Điều I, khoản 8 của Hiến Pháp để biện minh cho quyền của Quốc Hội trong việc điều tiết mọi hoạt động liên quan đến Commerce giữa các tiểu bang. Lập luận căn bản biện minh cho lý do tồn tại hợp pháp của đạo luật ACA, đặc biệt là khoản bó buộc mọi người phải  mua bảo hiểm, là Quốc Hội có quyền hạn, được quy định trong Hiến Pháp, để điều tiết thị trường bảo hiểm y tế, cũng như các hoạt động commerce khác, vì lợi ích chung.


Bên Nguyên, trái lại, cho rằng việc cưỡng bách công dân phải mua bảo hiểm (individual mandate) là một việc xâm phạm đến quyền tự do cá nhân, một quyền đã được long trọng ghi trong HP. Luật sư Clement của bên Nguyên còn lập luận rằng, bằng việc thực hiện sự cưỡng bách, Quốc Hội đã tạo ra thị trường để rồi từ đó tự cho mình quyền điều tiết vượt quá giới  hạn cho phép của mệnh đề Commerce đã ghi trong HP. Nói cách khác, theo ông Clement, nếu việc cưỡng bách được thông qua thì quyền hạn của Quốc Hội sẽ trở nên vô giới hạn.


Các thẩm phán có khuynh hướng bảo thủ như ông Samuel Altio, Antonin Scalia, John Roberts tập trung các câu hỏi của mình cho bên Nguyên hơn là bên Bị, họ cho rằng quyền hạn của Quốc Hội không phải là vô giới  hạn. Thẩm phán Anthony Kennedy, vẫn thường được xem là thẩm phán " lưng chừng" (swing voter) cũng đã cho rằng bên Bị có trách nhiệm phải biện minh được cho quyền hạn quá lớn của Quốc Hội khi đặt ra vấn đề cưỡng bách mua bảo hiểm y tế(" a heavy burden of justification” ) và  đòi bên Bị phải thưà nhận những giới hạn của mệnh đề Commerce (“some limits on the commerce clause”). Thái độ của hai ông Alito và Scalia có vẻ tỏ ra thù địch đối với Đạo luật. Riêng ông Chánh thẩm phán Roberts thì có phần chừng mực hơn.


Trong khi đó thì 4 vị thẩm phán thuộc khuynh hướng cấp tiến (liberal): Justices Ruth Bader Ginsburg, Stephen G. Breyer, Sonia Sotomayor và Elena Kagan lại tỏ ra ủng hộ cho Đạo luật; một điều không nằm ngoài dự đoán của dư luận. Các thẩm phán này dành phần lớn những câu hỏi của mình nhắm vào bên Nguyên, tìm cách phơi bày những nhược điểm trong lập luận của phía đó, và cho rằng đây không phải là lần đầu Quốc Hội thiết lập một sự cưỡng bách đối với công dân, và đã có những cưỡng bách tương tự ở nhiều lãnh vực khác, phát sinh vì lợi ích chung của xã hội.


Ngày cuối, 28/3, TCPV tập trung nghe tranh luận về hai vấn đề. Một là liệu xem có thể tách rời (severability) việc cưỡng bách (individual mandate)  riêng ra khỏi Đạo luật như một đề tài độc lập được hay không. Nói cách khác là xét xem liệu toàn bộ Đạo luật có thể vẫn tồn tại được hay không nếu như điều khoản về cưỡng bách mua bảo hiểm y tế bị tuyên bố là vi hiến.


Vấn đề thứ hai liên quan đến điều khoản về Mở rộng Chương trình Medicaid. Luật ACA quy định rằng đến năm 2014 sẽ khuyến khích tất cả các tiểu bang mở rộng chương trình Medicaid ra cho những người lớn tuổi nghèo không có con nhỏ. Để thực hiện, Liên Bang sẽ tài trợ đến 90%  chi phí về sự mở rộng này cho tiểu bang. Tiểu bang nào không thực hiện sự mở rộng chương trình Medicaid theo như  quy định của Đạo luật có thể sẽ bị Bộ Trưởng Y tế LB cắt các khoản tài trợ LB khác.


Bên Nguyên, luật sư Clement, đã lý luận rằng điều khoản Mở rộng Chương trình Medicaid của đạo luật ACA là một hình thức ép buộc (coercion) của Liên Bang đối với tiểu bang, khiến tiểu bang không còn lựa chọn nào khác hơn là thực hiện yêu cầu của LB; là một sự xâm phạm đến quyền tự trị hiến định của tiểu bang; và vì vậy là một sự vi hiến. Những câu hỏi của các thẩm phán Alito, Kennedy, Scalia, và Roberts gây ấn tượng rằng các vị nghiêng về lập luận của phía bên Nguyên.


Bên Bị, với thái độ ủng hộ của các thẩm phán có khuynh hướng cấp tiến, lại cho rằng sự Mở rộng Chương trình Medicaid của luật ACA là một mối lợi cho các tiểu bang, vì LB chịu gánh nặng tài chánh lớn nhất cho tiểu bang,90%, vì vậy đó không phải là một sự ép buộc (coercion). Hơn nữa từ trước đến nay việc các tiểu bang hợp tác với LB để đổi lấy việc nhận được ngân sách tài trợ là một thông lệ, được áp dụng trong nhiều chương trình thuộc nhiều lãnh vực. Điều đó có nghĩa là những điều kiện đặt ra cho tiểu bang trong điều khoản về Mở rộng Medicaid của luật ACA lần này không phải là một ngoại lệ, và không là một sự vi hiến.


Như đã trình bày ở phần trước là luật ACA ,với khoản Mở Rộng Medicaid, đòi hỏi các tiểu bang mở rộng Medicaid ra cho những người lớn tuổi dưới 65 tuổi không có con nhỏ và có lợi tức thấp dưới 133% mức nghèo của LB ( Federal poverty level, FPL), tức khoảng dưới $ 24,352 cho một gia đình 3 người (giá năm 2010) hoặc dưới $15,000 cho một người độc thân.Các tiểu bang phải đệ trình kế hoạch mở rộng đó trước đầu năm 2014.


Sự mở rộng Medicaid như vậy là một lợi ích thiết thực cho một số lớn người Việt gốc Mỹ nói riêng và các sắc dân thiểu số nói chung. Bởi vì theo một vài nghiên cứu, có đến chừng 30% người Việt gốc Mỹ có mức thu nhập dưới mức FPL.  Một báo cáo mới đây của Sở Y tế quận hạt Santa Clara bang California cho biết có đến 26% người Mỹ gốc Việt trong hạt không có bảo hiểm sức khỏe. Cũng theo báo cáo đó thì các chứng ung thư phổi, gan, và ung thư tử cung đứng hàng đầu trong việc gây tử vong trong CĐ người Việt; bách phân trẻ em bị nhiễm vi trùng lao cũng khá cao. Tỉ lệ những người bị cao huyết áp, mức cholesterol cao, và bị bệnh tim mạch cũng khá cao so với nhiều sắc dân khác.  Tỉ lệ người Mỹ gốc Việt bị thất nghiệp trong những năm gần đây cũng cao hơn so với các sắc dân khác. Người Việt chiếm 12% trong tổng số dân Á Châu ở bang California, nhưng lại chiếm đến 31.7% trong tổng số đơn khai thất nghiệp. 
Những số liệu vừa nêu nói lên nhu cầu y tế khẩn thiết của đa số người Việt gốc Mỹ trong tình hình hiện nay, đặc biệt là ở những người có thu nhập thấp nhưng chưa đến tuổi hưu trí, và tầm mức  quan trọng của đạo luật y tế ACA đối với họ.


NHỮNG DỰ ĐOÁN VỀ PHÁN QUYẾT CỦA TCPV ĐỐI VỚI LUẬT ACA


Ba ngày tranh luận ở TCPV đã tạo nên nhiều ước đoán khác nhau về phán quyết sắp đến của toà án đó đối với số phận của đạo luật ACA. Phần nhiều các dự đoán bị chi phối bởi quan hệ đảng phái và chính kiến. Một số dự đoán tương đối khách quan hơn. Nhưng nhìn chung không một ai dám có một sự đoan chắc nào  về nội dung của phán quyết cả.
Phía lạc quan cho rằng TCPV sẽ có phán quyết ưu đãi cho Đạo luật. Có người ngay cả còn đoán rằng tỉ số phiếu sẽ là 8-1 cho bên Bị.  Theo dự đoán này thì ngoại trừ Thẩm phán Clarence Thomas, được TT Bush đề cử năm 1991, là người  mà trong suốt 3 ngày tranh luận đã không hề nêu một câu hỏi nào, sẽ bỏ phiếu chống lại Đạo luật. Bốn vị có khuynh hướng cấp tiến chăc chắn là sẽ bỏ phiếu cho Đạo luật. Còn thẩm phán Kennedy, tuy là người lưng chừng, nhưng do Ông ít bày tỏ ý kiến về những vấn đề liên quan đến mạnh đề Commerce và do Ông thường " phù thịnh", nghĩa là ngã về phía trào lưu mạnh của xã hội, cũng như thái độ chú trọng đến những quyền căn bản của Ông, người ta đoán là Kennedy sẽ bỏ phiếu theo với nhóm cấp tiến. Riêng thẩm phán Scalia thì người ta nhớ lại trước đó khi bỏ phiếu cho đạo luật Control Substances Act, Ông đã viết rằng :" Congress may regulate even noneconomic local activity if that regulation is a necessary part of a more general regulation of interstate commerce."; nghĩa là Scalia đồng ý việc Quốc Hội điều tiết ngay cả những hoạt động không kinh tế miễn là những điều tiết đó là phần cần thiết cho một sự điều tiết tổng quát hơn của hoạt động thương mại liên bang. Còn lại hai vị thẩm phán kia: Alito và Roberts có lẽ cũng sẽ bỏ theo đa số.


Trên đây là một dự đoán lạc quan nhất, nhưng cũng ít sức thuyết phục nhất.


Một dự đoán khác tuy cũng có phần lạc quan, nhưng ở mức độ vừa phải, chú ý nhiều nhất đến Chánh Thẩm phán Roberts và nội dung những câu hỏi Ông đặt ra cho hai bên Nguyên-Bị trong ba ngày tranh luận. Theo dự đoán này thì có khả năng ông Roberts sẽ bỏ phiếu có lợi cho Đạo luật; nghĩa là Ông sẽ cùng đi với nhóm 4 vị có khuynh hướng cấp tiến, hình thành một tỉ số 5-4 cho bên Bị. Tác giả của dự đoán này cho rằng Chánh Thẩm Phán Roberts, do cương vị của mình và do mối quan tâm đến vai trò lịch sử của TCPV, sẽ rất thận trọng để tránh ảnh hưởng chính trị trong việc đưa ra phán quyết đối với Đạo luật lần này. Bởi vì đây là lần đầu tiên sau hơn 70 năm qua, kể từ thời New Deal của TT Roosevelt, TCPV lại có phán quyết đối với một đạo luật tầm cỡ như đạo luật ACA này. Theo giới thân cận thì Roberts không chủ trương rằng TCPV có quyền hạn để áp đặt chính sách lên cho Quốc Hội, mà chỉ có nhiệm vụ bảo đảm một giới hạn đúng đắn  đối với quyền hạn của chính quyền LB (the court was not in a position to impose a policy choice on Congress but rather to ensure the proper boundaries of federal power). Tác giả của dự đoán này cũng cho rằng có khả năng Thẩm phán Kennedy sẽ đi với ông Roberts.


Tác giả khác lại dự đoán theo hướng bi quan cho bên Bị theo đó sẽ có phán quyết với tỉ số 5-4 có lợi cho bên Nguyên; chống lại Đạo luật. Tác giả này đã phân tích kỹ lưỡng cuộc tranh luận và nhận ra rằng điểm yếu nhất của bên Bị là vấn đề cưỡng bách mua bảo hiểm (individual mandate) được phản ảnh qua số lượng các câu hỏi của nhóm các Thẩm phán có khuynh hướng bảo thủ dành cho vấn đề, tập trung vào bên Bị. Tác giả  này đặc biệt chú ý đến thái độ và các câu hỏi của Thẩm phán Kennedy đối với vấn đề Individual Mandate.


Một số dư luận khác lại cho rằng có thể có một phán quyết gồm nhiều phần, trong đó sẽ có phần bác bỏ điều khoản Individual Mandate, bắt buộc mọi người mua bảo hiểm; nhưng giữ nguyên các phần còn lại của đạo luật y tế ACA. Tuy nhiên dư luận này có vẻ kém thuyết phục bởi vì Individual Mandate là điều cốt lõi của Đạo luật, việc bác bỏ nó cũng đồng nghĩa với việc tiêu huỷ toàn bộ Đạo luật.


Tóm lại, tất cả những điều trên đây chỉ là những ước đoán, và mọi người phải chờ đến tháng Sáu để biết chắc phán quyết của TCPV đối với đạo luật ACA, một đạo luật cải cách y tế lớn nhất cho đến nay ở Mỹ, sẽ ra sao. Quyền lực của nhân dân, thông qua Quốc Hội do mình bầu lên, thể hiện ra trong Đạo luật, cùng với số phận của hàng triệu người, trớ trêu thay, đang nằm trong bàn tay quyết định của một nhóm nhỏ 9 vị Thẩm phán không do dân bầu, mà do các đời Tổng Thống bổ nhiệm và Thượng Viện phê chuẩn. Và đây không phải là lần đầu 9 vị Thẩm phán lại có một quyền lực lớn lao như vậy. Năm 2000, TCPV, qua vụ Bush v.Gore, cũng đã vượt lên trên quyền đầu phiếu của hàng trăm triệu cử tri Mỹ để có quyết định cuối cùng xem, giữa Gore hay Bush, ai là Tổng Thống nước Mỹ. Mới trong năm 2010 vừa rồi, ngay trước mùa bầu cử Quốc Hội, cũng chín vị Thẩm phán này với tỉ số 5-4, trong vụ Citizens United v. Federal Election Commission, 558 U.S. 08-205 (2010), đã ra phán quyết chấm dứt những giới hạn, đã có từ suốt 20 năm trước đó, đối với các đại công ty trong việc đóng góp tiền bạc ủng hộ, hay chống lại, các ứng cử viên ra tranh cử. Phán quyết này thả lỏng cho các nhóm đặc lợi (special interests) tha hồ tự do tung tiền ra để thao túng các cuộc tranh cử ở mọi cấp, tạo điều kiện cho giới giàu có và các corporations dùng ưu thế tài chánh của mình để áp đặt những chính sách có lợi cho mình và lấn át tiếng nói của đa số dân chúng của giai cấp trung lưu và người nghèo. Ngay cả TT Obama trong một diễn văn trước Quốc Hội cũng đã công khai bày tỏ sự bất đồng đối với phán quyết đó của TCPV. 


Nhưng 9 vị Thẩm phán trong TCPV là ai? Thưa họ gồm 5 người, có khuynh hướng bảo thủ, được đề cử bởi các Tổng Thống của đảng Cộng Hoà, từ Ronald Reagan, George H. Bush và Gerogre W.Bush : John G. Roberts, Antonin Scalia, Anthony M. Kennedy, Clarence Thomas, và Samuel Anthony Alito. Còn lại 4 vị khác ,có khuynh hướng cấp tiến, do các Tổng Thống của đảng DC đề cử: Ruth Bader Ginsburg, Stephen G. Breyer, Sonia Sotomayor, và Elena Kagan. Do với thành phần thẩm phán như vậy, nhiều người ngờ rằng TCPV lúc này là một toà án bảo thủ.


Ở đây ngoài mối ưu tư về số phận của đạo luật ACA, một nổ lực cải cách y tế lớn trong lịch sử của Mỹ, còn có câu hỏi là liệu những trạng huống vừa nêu có đi ngược lại nguyên tắc chủ quyền thuộc về toàn dân trong một chế độ DC chân chính hay không. Không lẽ nền DC Mỹ, vốn nổi tiếng là mẫu mực cho toàn thế giới, đang có những khuyết tật tự thân?



Sunnyvale, 30/3/2012
Trương Đình Trung







Thư Mục tham khảo:

 1)  http://www.moneyandmarkets.com/health-care-war-35069.
 2)  http://patients.about.com/od/empowermentbasics/a/iom-err.htm.
 3)  http://www.cejkasearch.com/compensation/amga_physician_compensation_survey.htm
  4) http://www.justice.gov/healthcare/docs/mackenzie-v-shaheen-motion-dismiss-support.pdf
  5) http://healthcarelawsuits.org/detail.php?c=2171285&t=Commonwealth-of-Virginia-v.-Sebelius
  6) http://healthcarereform.procon.org/sourcefiles/florida_v_us_dhhs.pdf
  7) http://www.uscourts.gov/court_locator.aspx
  8) http://www.supremecourt.gov/oral_arguments/argument_audio_detail.aspx?argument=11-398-Monday
  9) http://www.thevncoc.org/VNCOC_toolkit.pdf
 10) http://www.sccgov.org/sites/sccphd/en-us/Partners/Data/Documents/VHA%20Full%20Report,%202011.pdf
 11) http://www.asianpacificfund.org/files/Outlook_2010.pdf
 12) http://www.wnyc.org/blogs/its-free-blog/2012/mar/30/opinion-supreme-court-will-uphold-health-care-law-8-1/
 13) http://www.reuters.com/article/2012/03/29/us-usa-court-roberts-idUSBRE82S1EE20120329
 14) http://themonkeycage.org/blog/2012/03/29/predicting-the-health-care-decision-from-the-oral-arguments/
 15) http://www.youtube.com/watch?v=k92SerxLWtc&feature=fvwrel
 16) http://www.supremecourt.gov/about/biographies.aspx