Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2012 Tản mạn một chuyến về Việt Nam

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Tản mạn một chuyến về Việt Nam

In PDF.





1/ Chuyến về vội vã



Cuối tháng sáu, tôi thông báo cho supervisor quyết định nghỉ hưu sớm -  sớm 6 tháng so với ngày full retired của tôi – Sau hơn 17 năm làm tại Harverty Funiture, hãng duy nhất mà tôi làm từ ngày đến Mỹ theo diện HO/1993. Lý do thời gian sau này department manager và supervisor “quần” dữ quá. Đây có lẽ là tình trạng chung của các hãng xưởng ở Mỹ kể từ khi kinh tế Mỹ gặp khó khăn.


Thông báo xong, làm cầm chừng vài tuần rồi chuẩn bị “giã từ vũ khí” (trả xe đồ nghề) và xếp lại tàn y (trả uniform).
Ngày cuối cùng, hãng cũng tổ chức “nặng phần trình diễn”. Hai big boss xuống bắt tay từ giả (có chụp hình) và vỗ vai cám ơn (mình nghe loáng thoáng có chữ Appreciate!), một buổi meeting toàn thể công nhân của FCD (hơn 100 người) để General manager đọc thư cảm ơn và trao gift cards của hãng và của department (gom lại tôi cũng đã mua được cái laptop hiệu Toshiba để kỷ niệm “ngày lui quân”, cũng tạm an ủi cho cái “thân già”.



Cái ngày rút quân của tôi ra khỏi đấu trường Mỹ này thật là êm ái, nhẹ nhàng, thanh thản hơn so với cái ngày tôi “giã từ vũ khí” (để lại khẩu colt 45 và khẩn AK 47 bá xếp của người em rể  Biệt động quân cho) và xếp lại tàn ý, đa số còn thẳng nếp ủi hồ, trong Văn phòng đại đội hành chánh kỹ thuật dưới chân cầu Bình Thủy Cần Thơ sáng sớm ngày 1.5.1975, ngồi qua xe vespa của trung úy Giúp, trung đội trưởng văn nghệ, chạy qua phi trường 31 còn ngùn ngụt khói lửa (hình như do đám hôi của quanh vùng vô ý làm phát hoả kho xăng), để qua chuyến phà sớm bắc Cần Thơ, cùng với đoàn quân xơ xác của một đơn vị thuộc SĐ7BB tăng cường vòng đai Alfa, tan hàng từ Thuận Nhơn kéo về, mà mình biết được qua mấy câu từ giã của mấy sĩ quan đã thay thường phục nói với mấy thuộc hạ thân tín. Số phận họ, số phận mình: Về với gia đình, đáp lại lời kêu gọi đầu hàng trong tinh thần hòa giải của phía bên kia, tự nhũ lòng bằng những suy nghĩ ngây thơ trong cơn hốt hoảng của ngày tàn cuộc chiến, chiến tranh với những tàn phá khủng khiếp của nó, dù gì cũng đã kết thúc, người chiến thắng dù gì cũng là người Việt Nam, hòa bình dù gì dân mình chắc cũng đỡ khổ hơn, tất cả những ngộ nhận ấy đã trở thành nỗi ray rứt và hối hận vô cùng, khi ngày đầu “trình diện học tập cải tạo” ở Ty Công An Vĩnh Long, tôi và đại uý Tài người đàn anh hiền lành chung đơn vị, nhanh chóng được đưa qua khám lớn Vĩnh Long, để ngậm ngùi nghe tiếng cửa sắt lách cách khép lại sau lưng mình và nhìn thấy bạn bè, chiến hữu bại trận đang nghồi sắp lớp mình trần trùng trục trên nền xi măng phòng giam A khám lớn.



Thôi rồi! Cái tổ ấm gia đình nhỏ bé, 1 vợ, 1 con và một đứa bé đang nằm trong bụng mẹ, mà trong những tháng cuối cùng tất bật với nhịp độ khốc liệt của những cuộc rút quân, với tinh thần trách nhiệm cao và tình hình cấm quân liên tục, tôi đã bỏ quên đến nỗi 2 tuần trước vợ mình phải đến đơn vị tìm, chuyện này thật hiếm hoi đối với vợ tôi, lần đầu là tôi đưa em vô để giới thiệu với anh chị em trong đơn vị sau ngày cuới. Cái tổ ấm mà mình mơ tưởng  có thể tìm về sống yên sau ngày trả súng thật sự khép lại thật xa trong chuỗi ngày tù tội lưu đày đăng đẳng ở miền Bắc, với nỗi tuyệt vọng không ngày về và những cơn suyễn kéo dài lê thê không còn sức để lên bịnh xá cách khoảng 50 thước để xin những viên Ephedrine uống cũng như không.



Những ngày dài mà người ta cứ lặp đi lặp lại không biết buồn chán mà mình nghe đến phát ngán: Các anh là thành phần nguy hiểm, có nợ máu với nhân dân. Thực tình gần 9 năm binh nghiệp tôi chỉ một lần nhìn thấy máu, máu đầm đìa và la liệt những người lính bị thương trên chiếc trực thăng tản thương của thằng bạn phi công mà tôi quá giang về hậu cứ Cần Thơ từ mặt trận đẫm máu Hậu Mỹ - Kiến Phong. Rất nhiều lần trong những ngày buồn thảm đó, tôi đau đớn tự hỏi là máu mà tôi  nợ với nhân dân có cùng loại với máu trên sàn trực thăng tản thương, có cùng loại với máu mà trong những lần chào cờ bắt đầu các buổi học tập nhân những ngày lễ lớn mà tôi nghe qua loa ở hội trường:”Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước” (Tiến quân ca – Văn Cao). Lịch sử chắc chẳng cần đến kỹ thuật y khoa hiện đại. Lịch sử rồi sẽ xác định được DNA của 2 loại máu ấy với cái nợ máu nhân dân. Tôi tin như vậy.



Việc chọn lựa về hưu sớm như một an bài, một chuẩn bị tình cờ cho ngày về VN giữa tháng 9. Rút hết tiền 401K còn lại, sau khi trả dứt mấy cái nợ credit card cũng còn dư chút đỉnh. Chuẩn bị xong tiền bạc, chỉ còn lại thời gian để chờ ngày:



Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi.



Nghỉ hưu từ tháng 7, lu bu với các thủ tục xin tiền An Sinh Xã Hội, Medicare part D, lại đến ngày tựu trường đứa cháu ngoại không xin vào được trường gần nhà ông bà ngoại, mỗi chiều tôi phải đưa rước cháu ngoại từ trường học gần nhà cha mẹ nó về nhà cũng hơn 10 miles. Thôi thì thời gian đã đào thải mình, những ngày còn lại mình giúp gì được cho các con thì giúp, vừa đỡ trống trải những ngày nghỉ hưu vừa giúp được các con trên con đường  còn dài, còn nhiều gian truân của chúng ở nước Mỹ luôn luôn bận rộn này. Tháng tư rồi hai em gái tôi - Tuyết và Truyền – cũng mới về thăm má, sức khoẻ tuy yếu nhiều nhưng chưa có dấu hiệu suy sụp, vì thật ra má chẳng có bệnh gì nghiêm trọng chỉ có tuổi già lúc nhớ lúc không. Một lần bà nhắc với hai người em hỏi tôi sao lâu quá anh Tư không về ăn Tết với má một lần cho má vui. Thôi rồi chuyện mới đây mà má không nhớ nổi: Đầu năm 2006 con đã một con đã một lần về ăn Tết với má. Lần ấy con cũng đã lặng lẽ nhìn Má và Tuấn – em trai tôi - dọn bàn hương hoa trà quả ngoài sân trước nhà, má thắp hương qùy lạy tứ phương trong phút giao thừa lặng yên không tiếng pháo. Lần ấy tôi cũng chợt nhận ra rằng Má tôi từ mấy chục năm nay, ngày thường cũng như ngày Tết, bà cũng không thay đổi, bà cũng luôn luôn bận rộn với đám giỗ này với đám giỗ khác của bên chồng, cũng như bên bà, bận rộn với những thủ tục cúng kiếng đầu năm...



Tuần thứ 2 của tháng 9, Tuấn điện thoại cho hay má yếu lắm, anh chị có về được thì thu xếp mà về. Thằng con trai tôi, nghe tin vội vã về nhà lục tìm hai cái thư, một cái của ba tôi viết cho nó hơn 20 năm trước, rồi sau đó ông nằm xuống vĩnh viễn mà nó không kịp về vì bận thi lại 2 môn, một cái thư mà năm rồi nó cố tình năn nỉ bà nội viết cho nó. Thăng copy 2 cái thư và quyết định mang theo để rủi má có mệnh hệ nào thì nó kịp gởi theo quan tài là lúc tẩm liệm. Thăng lấy vé máy bay và ngay sau đó mấy ngày. Tôi dặn về đến con xem tình trạng bà nội thế nào điện thoại cho ba biết gấp. Thăng về đến Sài Gòn đêm 15/9. Đêm đó tôi được điện thoại bà nội hấp hối, ba về gấp. Lúc đó là thứ năm ở Atlanta, tôi còn kịp đặt vé chiều hôm đó. May mắn là lấy được vé chuyến bay Korea Airline trưa ngaỳ Chúa nhật, chặng đầu Airline-Seoul cất cánh 11giờ50. Visa khẩn sẽ nhận khi xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Ngày thứ sáu, tôi và vợ tôi hối hả mua sắm chút đỉnh làm quà cho người thân ở VN.



Sáng thứ bảy, Tuyết từ Raleigh, đang trong chỗ làm việc gọi xuống: Anh Tư ráng lấy vé dùm em về chung với anh Tư thăm má lần cuối. Chỉ còn một ngày nếu muốn về chung một chuyến, nghe em năn nỉ mà tôi muốn đứt ruột cho lòng hiếu thảo của em mình, vì sợ rằng không còn kịp nữa. Thôi thì ráng, book vé kiểu này phải nói là nhức đầu. Đại lý văn phòng ở Atlanta, đặt vé máy bay từ Raleigh xuống Atlanta đi chung một chuyến Korea Airline. Gọi qua gọi lại đến hơn 4 giờ chiều mới có được số passport của Tuyết. Rốt cuộc đến 7 giờ tôi mọi việc cũng xong. Visa khẩn nhận được từ phi trường TSN phải tốn thêm chút ít cho nhân viên đại lý chiều thứ bảy vô văn phòng làm thư giới thiệu. 6 giờ sáng em tôi phải ra phi trường Raleigh để đi chuyến bay Delta xuống Atlanta chặng đầu để hai anh em gặp nhau đi chung chuyến Atlanta-Seoul. May mà chuyến bay mùa này còn trống chỗ và giá vé cũng bình thường. Hy vọng còn kịp nhìn mặt má.



Đêm thứ bảy, vừa chợp mắt sau khi soạn hành lý xong, điện thoại reo: tuấn báo tin má vừa mất lúc 12.45 trưa Chúa nhật giờ VN. Thôi thì không còn kịp nữa rồi! Chắc không còn ngủ tiếp tục được rồi, tôi thức dậy gỡ lấy khuôn hình má đáng đang treo ở đầu giường mà trước đây đã có ý làm di ảnh trên bàn thờ mang xuống, gỡ lấy tấm lịch ngày Chúa nhật 18.9, nhằm ngày 21/8 âm lịch, ghi vội vài dòng Cáo Phó để sáng nay mình đi vội, vợ tôi có đủ chi tiết trả lời điện thoại chia buồn của bạn bè, thân hữu, đồng hương, đồng môn. Sáng Chúa nhật, trong thời gian đợi ở phi trường, tôi chỉ còn kịp điện thoại  cho NT2 Đông, hội trưởng Hội Ái Hữu cựu SVSQ/TĐH/CTCT/ĐL ở Georgia để báo tin buồn và còn kịp nhận điện thoại của NT1 Liên, đại diện Khoá 1 cho hay vừa nhận email của NT1 Đạm, đại diện bên nhà, báo tin má tôi từ trần với đầy đủ chi tiết.



Rốt cuộc chuyến về mà tôi đã chuẩn bị từ lâu lại diễn ra vô cùng vội vã, nhanh và suông sẻ, tôi lại lan man nghĩ có lẽ má tôi đã phù hộ cho tôi về kịp để chịu tang má như  một lần báo hiếu cuối cùng mà với tôi thật là hiếm hoi vì từ 12 tuổi đến nay tôi liên tục đi học xa nhà, đi lính biệt tăm, đi tù biệt tích và sau khi ở tù về thì lang thang vất vưởng sống bất hợp pháp nay đây mai đó, chủ yếu trong nhà người cậu trong con hẻm nhỏ xóm người Tàu Chợ Lớn, ít khi được dịp lo cơm hầu nước cho Má. Con biết Má cũng muốn con thanh thản tâm hồn thì Má mới yên tâm nhẹ nhàng vĩnh viễn ra đi.



1/ Tuần thứ nhất - Tang lễ và gặp lại người thân.



Sau hai ngaỳ hối hả và 18 giờ nôn nao trên máy bay, cuối cùng chiếc Boing của Korea Airline  bay từ phi trường quốc tế Seoul đáp nhẹ nhàng xuống đúng 10:30 đêm ngày thứ hai 19/9.


Trong chộn rộn lúc phi cơ dừng vào cổng đậu, tôi cũng tình cờ thấy cô hành khách kế bên lăng xăng lấy từ túi xách tay mấy cái Iphone, khoảng 4 hay 5 cái, để vô túi quần jean và áo gió cô đang mặc. Tôi tự hỏi không biết cô ta bằng cách nào để qua khỏi hải quan hay là cô cũng góp phần làm nặng nề thêm cái tệ nạn nộp tiền qua ải vốn đã mang nhiều tiếng tăm. Tôi cũng còn kịp thấy hàng chữ màu đỏ “Phi trường Tân Sơn Nhất” trên nóc cao nhà ga bị mất một chữ.



Qua đường dẫn vừa bước vào cổng, tôi thở phào nhẹ nhõm thấy tên họ mình và của em tôi trên tấm carton của mấy người đang đưa cao để đón hành khách làm visa khẩn. Đợi ngoài cửa phòng cấp visa khoảng 10 phút, visa xong.



Thủ tục kiểm tra hộ chiếu, kiểm soát an ninh, nhận hành lý và thủ tục hải quan xong. Ra đến hành lang ga đến, thân nhân chỉ còn lưa thưa, có lẽ chuyến bay đến này là chuyến cuối trong ngày, tôi dễ dàng nhận ra Thăng và Minh, con bà chị tôi, với chiếc xe Toyota Inova.


Trên đường về nhà tôi không rảnh trí để nhìn ngắm Sài Gòn về đêm. Tôi bận tâm chút nữa đây sợ em tôi xúc động khi về đến nhà mà vật vã bên quan tài thì tôi không biết xoay xở ra làm sao. Rốt cuộc tôi và em tôi đã được mãn nguyện: Quỳ bên quan tài má trong lần tiễn biệt cuối cùng này. Tuyết không khóc nhiều đến nỗi vật vã như tôi ngại, và tôi chỉ rơm rớm nước mắt lặng nhìn má tôi nằm yên mặc chiếc áo dài thêu bôn ép màu tím mà bà chọn trước và chiếc khăn quàng ngang cổ, má tôi ốm rất nhiều so với lần trước tôi về, bà nằm bất động trong chiếc quan tài nắm kính để thân nhân ở xa về nhìn mặt.



Hôm sau, ngoài hai thời kinh buổi trưa và chiều mà tôi quỳ suốt vì Tuấn bận lu bu tiếp khách, tôi cũng tiếp Tuấn trò chuyện với mấy người bà con quen biết. Buổi trưa thật ấm lòng và an ủi, lại gặp được bạn bè và đồng môn đại diện các khóa NT/CTCT tại quê nhà đến kính viếng linh cửu má tôi do NT1 Thái Thanh Đạm hướng dẫn, vòng hoa ghi hàng chữ: GĐ Nguyễn Trãi Đà Lạt, Quốc Nội, Hải Ngoại thành thật chia buồn. Thực tình, buổi chiều hôm ấy tôi không thể diễn tả được niềm hãnh diện mình là 1 SVSQ trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị và niềm an ủi được có các bạn đồng môn bên cạnh trong giờ phút đau buồn này.



Ngoài một số anh em tôi đã gặp trong các lần về trước, còn có một bạn cùng khóa mà từ ngày ra trường, 1969, tôi mới gặp lại là Huỳnh Bé Em, thù khoa Khóa 1. Còn lại là một chút băn khoăn: Chiến tranh đã tàn, 36 năm rồi, các bạn bên nhà không biết vì ngại gặp rắc rối không cần thiết, mà đã không chính danh Hội Ái Hữu cựu SVSQ trường ĐHCTCT trên vòng hoa hay thực tế, dù người ta đã nhiều lần nhắc tới “quên đi quá khứ, hướng về tương lai”, người ta vẫn không quên được sự phân biệt trong những lần họp mặt thân tình của bọn “ngụy” trong các dịp quan, hôn, tang, tế này?



Thôi hãy tạm vừa lòng với những gì mình đang có: Mấy lần về trước, lần nào mình cũng gặp anh em ì xèo trong các cuộc hội ngộ tràn đầy bia bọt ở các nhà hàng. Lần này mình cũng không quên thủ tục ấy và đã nhờ NT1 chọn nơi họp mặt và chuyển lời mời đến anh em dùm. Thời gian thuận tiện cho tôi là trưa Chúa nhật cuối cùng trước ngày tôi lên máy bay về lại Mỹ. Tôi dự định hôm ấy trước là để cảm tạ anh em đã đến thăm viếng và tiễn đưa linh cữu má tôi, sau là anh em nhắc lại những kỷ niệm thời mới vào quân ngũ, như mới đây thôi mà nhìn lại đồng môn tôi đa số tóc đã điểm sương.



Sáng ngày thứ tư, lễ di quan và hỏa táng ở Dĩ An, Bình Dương, cũng đầy đủ thủ tục múa lửa phát quàn, vài tấm giấy bạc thật dán trên nắp quan tài để đạo tì họ di quan cho êm ái, người thân sụt sùi khóc, ban nhạc Tây chơi ồn ào mấy bản mà tôi còn nhớ: Lòng mẹ, bông hồn cài áo, cát buị, Một cõi đi về. Có cả bản những đóm ắt hỏa châu và về mái nhà xưa...Mặc dầu đài hỏa táng có đến 3 lò thiêu, hợp đồng họ chỉ dành cho mình thời gian giới hạn. Xe cháu tôi mang hoa quả và đồ cúng chạy lạc tới trễ 15 phút nên vừa tụng niệm xong, nhân viên lò thiêu bấm nút điện hạ quan tài xuống thì tôi đã thấy ngoài cửa 1 quan tài khác đang chờ vào làm lễ và 1 ban nhạc khác đang chơi ồn ào những bản nhạc quen thuộc đó. Chuyến đi cuối cùng của má tôi như vậy cũng náo nhiệt khách xếp hàng chờ để được “lên xe” cùng đi. Chắc hôm nay là ngày tốt, má tôi được nhiều bạn đồng hành.



Hai giờ chiều hẹn lấy tro cốt. Má tôi sau 95 năm ghé qua đời này, chỉ còn lại tro cốt trong hũ sành văn hoa đẹp, có hình bà và chi tiết ngày sinh, ngày mất, mà tôi ngậm ngùi đặt lên bàn vong thấp hơn hũ tro cốt của ba tôi trên bàn thờ kế cạnh. Hai mươi bốn năm rồi, ba má tôi vừa gặp nhau trên một cõi xa xăm nào đó.



Tuần lễ đầu kết thúc sau 2 ngày nghỉ ngơi và buổi tụng niệm cầu siêu chiều thứ bảy cúng tuần thứ nhất.
 
3/ Tuần thứ hai - Thăm quê vợ.



Sáng thứ hai, tôi và Thăng thu xếp về Tân Thạch, Bến Tre. Một phần tôi muốn cha con tôi về quê cho thư thả nguôi ngoai, phần khác tôi cũng muốn con tôi có dịp đi nhiều để nhận rõ tình trạng đất nước bây giờ, nhất làm thăm lại khu vườn tuổi thơ của mẹ nó, khu vườn mà một thời cha nó ở tù về lang thang trốn tránh ở Sài Gòn, đã cưu mang đùm bọc nó khi mẹ nó theo đúng sách dạy “thối về ngoại” . Bố mẹ con đã sống những ngày cùng khổ nhưng ít ra cũng có nơi nương tựa trong chuỗi ngày bị đời hất hủi phủ phàng đó.



Lấy vé xe đò Mai Linh trạm trung chuyển ở Lê Hồng Phong, bến xe Petrus Ký cũ, lên xe Mai Linh 16 chỗ ngồi ở xa cảng Miền Tây. Chỉ 1 giờ 10 phút sau xe đã đỗ chúng tôi xuống chân cầu Rạch Miễu, phía huyện Châu Thành, Bến Tre.
Dọc đường từ Ngã ba huyện về Cầu Chợ, đường xá rộng rãi hơn. Tôi tự hỏi lòng mình, sự đổi thay này thật đáng lạc quan hay vẫn mang bùi ngùi của bài thơ Trăng Nghẹn?:



Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi
(Trăng Nghẹn, Hoài Tường Phong)



4/ Tuần thứ ba – Thăm lại Đà Lạt, Trường Mẹ.



Tình cờ trên chuyến bay về VN, tôi đi chung với vợ chồng anh sáu Tẩu. Anh Tầu có làm chung hãng Harertys với tôi một thời gian, qua Mỹ theo diện ODP, nhưng quá trễ so với tuổi tác của anh. Đi làm được một thời gian ngắn, anh thôi việc, thu xếp đi đi về về VN, mỗi lần khoảng 6 tháng, vì anh còn nhà cửa bề thế ở Dĩ An. Anh gợi ý đi chung một chuyến du lịch cho vui. Anh có người quen có xe 7 chỗ chuyên tổ chức những chuyến đi như vậy, vừa thân mật vừa đỡ tốn kém. Thế là tôi rủ NT1 Dương Quang Bồi và chúng tôi khởi hành đi Đà Lạt ngày thứ hai của tuần lễ thứ ba.



Con đường Sài Gòn - Đà Lạt tôi đã đi nhiều lần, lần đầu là năm học xong lớp đệ ngũ (1961) đi chung với gia đình chú tôi, một lần năm 1974 đi học khóa trung cấp CTCT, một lần năm 1991, đi đòi nợ tiền gạo cho anh bồi. Cả ba lần trước, trong và sau chiến tranh, có lần an ninh tuy không bảo đảm nhưng tôi nhớ chưa bao giờ khoảng đường gần Bảo Lộc thảm hại như lần này, có nhiều “ổ voi” nước ngập lênh láng, tài xế phải khó khăn  tìm chỗ qua cho khỏi mắc lầy. Chiến tranh đã đi qua rồi 36 năm! May ra đoạn đường Di Linh khá hơn và từ Liên Khương về Đà Lạt đã có đường xa lộ. Ghé thác Prenn khoảng thời gian ngắn, đủ để nhìn thấy thác. Chúng tôi đến Đà Lạt xế chiều, nghỉ ngơi một chút, trời mưa, chúng tôi ăn tạm buổi chiều ở quán ăn gần nhà trọ. Tôi và anh sáu Tẩu và tài xế lai rai dưới phòng khách nhà trọ, tôi và Bồi gọi taxi ra Thủy Tạ nhìn lại mặt hồ đang lảng đảng sương đêm. Ở đây chúng tôi gặp lại NT1 Lê Doãn Sơn khoảng 15 phút sau khi Bồi gọi điện thoại cho Sơn. Gặp lại sau 42 năm, Sơn bây giờ thân tình và vồn vã hơn ngày xưa. Anh chở chúng tôi trên chiếc Mitsubishi SW mới tinh có GPS tiếng Việt, chạy vòng vòng hơn ½ giờ qua các phố để nhìn Đà Lạt đang ngủ sớm trước khi đưa chúng tôi về nhà trọ. Thời gian ngắn quá, không đủ cho chúng tôi hỏi thăm anh bằng cách nào, một sĩ quan chế độ cũ, đi tù cải tạo về, mà làm ăn phất lên như vậy?



Sáng hôm sau, tài xế đưa đi thăm một số thắng cảnh Camly, dinh Bảo Đại, XQ Đà Lat sử quán, Trường ĐH/CTCT ngày xưa để ngậm ngùi cho trường Mẹ không còn dấu tích nào của trường cũ. Tôi và Bồi có chụp 2 hình kỷ niệm trước cổng, mà đến khi về tôi mới hối hận thay vì chụp bảng tên đường Thông Thiên ngoài ngã ba, trước khi quẹo vào còn có ý nghĩa hơn. Trường VBQG nay là trường Lục quân 2, cổng chánh vẫn vào ngày xưa nhưng không còn phù hiệu và hàng chữ Tự Thắng Để Chỉ Huy. Buổi chiều lang thang cà phê Tùng, bên trong quanh tường vẫn trang trí gỗ như ngày xưa và vẫn chơi những bản nhạc Pháp êm đềm thời cũ, ghé ăn phở Bằng sau một cơn mưa mau qua khu Hòa Bình. Phở Bằng tôi thấy ngon vì lẽ còn loáng thoáng hương vị của phở ngày cũ. Chiều xuống, tôi và Bồi vẫn còn lang thang ở bờ Hồ Xuân Hương để nhớ về những kỷ niệm. Đà Lạt bây giờ trông sáng sửa hơn Đà Lạt năm 1991, nhưng đêm Đà Lạt bây giờ hình như ít sương mù hơn những đêm gác thời SVSQ, mua Đà Lạt bây giờ cũng vội vã và tạnh nhanh hơn những cơn mưa lất phất dai dẵng mấy ngày còn đọng lại trong trí nhớ tôi.



 Chuyến về chúng tôi ghé chơi khu du lịch thác Dambri mới mở ở Lam Đồng, trên đường vào nông trường Trà Tâm Châu do người Đài Loan với kỹ thuật chế biến mới, thành phẩm là những bịch trà đã hút chân không, giữ được lâu, không sợ mốc. Với tôi, thác Dambri đẹp và thơ mộng hơn những thắng cảnh cũ của Đà Lạt, không biết có phải do tâm lý “chuộng mới, nới cũ” của mình?.



5/ Tuần thứ 4 – Châu Đốc: Gặp lại bạn học và thày cũ.



Đã hẹn trước với Vĩnh, con chủ nhà in Nhất Văn, thằng bạn thân chung lớp chung bàn mà lần trước tôi về, Vĩnh từ Châu Đốc lên Thủ Đức, gặp lại nhau. Tôi quá giang xe Minh đưa gia đình cúng tạ ơn Bà ở Núi Sam, lần này tôi xuống Châu Đốc cho hợp lý và công bằng. Thật tình tôi muốn thăm lại ngôi nhà xưa của Vĩnh ở đường xe lửa, nơi mà ban ngày, ngoài giờ học, tôi ở đó nhiều hơn nhà chú tôi, hết đánh bóng bàn ở hiên nhà trước, đến hát hò diễn kịch ở sân nhà sau, trèo leo tìm lồng mức chín ở hông nhà.

Trên đường đi, tôi và Minh nhất trí là phải ghé điểm tâm ở quê tôi, ở đó có món hủ tiếu khô nổi tiếng Văn Vĩ trên đường vào trường trung học. Nhưng thằng bạn của Minh cho hay bây giờ quán cà phê Bằng Lăng Tím, gọi hủ tiếu của quán kế bên mang qua. Bảo đảm còn ngon hơn hủ tiếu khô ở quán Văn Vĩ ngày xưa nữa.



Bận về đi xe đò ghé Long Xuyên ở nhà cô Mai, em nuôi mà hôm đám tang má, Mai tha thiết mời anh Tư rãnh xuống nhà em chơi. Đếm đó được mấy cháu, con Mai, chiêu đãi bò nướng ngói ở nhà hàng. Sáng hôm sau, anh Tư đáp lễ mời vợ chồng Mai ăn sáng trên lầu 9 nhà hàng góc công trường Đèn Bốn Ngọn, có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố Long Xuyên, chợt phát hiện mấy con đường kẹt xe vì nước ngập và nhớ đồng bằng sông Cửu Long năm nay bị trận lụt khá nặng, mùa lúa sạ khu tứ giác Long Xuyên xem như mất trắng.



Buổi tối về Sài Gòn gặp lại mấy bạn chung lớp đệ  ngũ ở trường Thủ Khoa Nghĩa, hiện sống ở Sài Gòn, nhờ Vĩnh cho số phone hẹn trước: Nguyễn Trí Thành, hiện là cư sĩ, Trần Bá Lịch, bác sĩ đã về hưu, Lê Kim Quang, cán sự điện tử, cháu của bác sĩ Phùng Văn Cung, nay cũng đã nghỉ hưu. Anh em hẹn gặp ở quán cà phê nhạc xưa Sỏi Đá. 50 năm gặp lại, một buổi hàn huyên chưa đủ. Hẹn tiếp ăn sáng sáng hôm sau và đi uống cà phê Động Hoa Vàng. Tôi lại có cơ may gặp thi sĩ Phạm Thiên Thư mà một thời mình say mê với tập thơ Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, trong đó có bài thơ mà Phạm Duy phổ nhạc nổi tiếng một thời: Ngày xưa hoàng thị


Ngày hôm sau dành cho bạn học cũ ở Sadec: NT1 Dương Quang Bồi, Vũ Ngọc Ke, cán sự bưu điện nay về hưu làm nghề MC đám cưới và NT2 Lương Quang Nhơn, học sau tôi một lớp, nhưng tình cờ đưa đẩy rất thân nhau do những giúp đỡ sau ngày rã ngũ.



Thứ bảy buổi sáng đi thăm hai đàn anh cùng đơn vị, Đ/úy Chiếu và Đ/úy Dương do hoàn cảnh gia đình chọn ở lại VN, mặc dầu cả hai đã hoàn tất thủ tục đi HO. Buổi chiều ghé thắp hương bàn thờ mợ tôi, người mợ đã bảo bọc, che chỡ cho tôi trong những ngày vất vưởng ở Sài Gòn. Căn nhà trong căn hẻm ở xóm người Tàu đã bán, nay mấy người chị và mấy cháu đã dời về căn phố sau chợ Cây Gõ. Chúa nhật gặp lại anh em CTCT còn lại ở quê nhà, tổng cộng 8 NT1, kể cả tôi và một số anh em các khóa, ở nhà hàng Cò Lã, gần chợ Bà Chiểu. Cuộc họp mặt đã kết thúc một chuyến về VN, nhiều kỷ niệm và nhiều ý nghĩa nhất đời tôi.



6/ Thay lời Kết



Về lại Mỹ, sau mấy ngày làm quen lại với giờ giấc bên này, giấc ngủ bình yên, tôi nghiệm ra hai điều:



1/ Đời sống mỗi người có sự an bài sắp xếp của định mệnh: Má tôi có tất cả 5 người con, hai trai, ba gái, giây phút lìa đời không có người con trai, con gái dâu rễ nào có mặt, chỉ có một người dưng không họ hàng quyến thuộc, chị Hai giúp việc săn sóc má tôi 5 tháng cuối đời. Và Thăng, cháu đích tôn của Má, mười tám năm nay sống xa bà ½ vòng trái đất.



2/ Đời sống ở Mỹ an toàn và yên bình hơn ở VN: Không phải do cách biệt mức sống vật chất, gia đình em tôi và các cháu con người chị có mức sống vật chất không thua gì gia đình tôi bên này. Cái bất an đó rãi rác trong tình trạng giao thông hỗn loạn, vô trật tự, trong bối cảnh xã hội phát triển xô bồ, trong tình hình đạo đức suy đồi nghiêm trọng, chạy đưa theo vật chất mà quên mất tình người. Trong đời sống văn hóa bị khủng hoảng, đua đòi theo lối sống Tây Phương mà không dung hòa được với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, hậu quả của một nền giáo dục phục vụ cho chính trị , xây dựng con người mới XHCN, phục vụ cho quyền lợi của đảng cầm quyền, thay vì đào tạo họ trở thành người công dân tốt, phục vụ cho cộng đồng, cho xã hội.



Riêng tôi những đêm về VN tôi ngủ rất ít và hút thuốc rất nhiều, lý do trái giờ giấc giữa Mỹ và VN chỉ là một phần nhỏ. Chủ yếu tôi nghĩ là do mối bận tâm và nỗi băn khoăn: Sáng mai mình sẽ đi thăm ai? Người đó có cần mình giúp đỡ gì không? Cứ phân vân tính toán khả năng mình có và cân nhắc múc độ thân tình. Ray rứt và băn khoăn lớn nhất: Khả năng mình thì quá giới hạn mà nhu cầu những người mình gặp thì quá bao la!



Tháng 11/2011
NT1 Nguyễn Ngọc Thạch.