Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2012 Mây Bay Về Núi

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Mây Bay Về Núi

In PDF.

 




Vẫn có một ngày đến như từng nghĩ mình chưa rời quân ngũ...


San Jose, Cali một ngày đầu tháng 7 năm 2010 cư dân chứng kiến bao chiến binh trong sắc áo binh chủng cọp biển về đây hội ngộ. Từ chiến trường xưa nơi núi rừng âm u nay bên những phố phường văn minh hiện đại, những người lính chiến vẫn còn đang hiện diện nơi đây, nay San Jose hay mai kia Dallas, Houston, Los Angeles… như tinh thần “Một Ngày Thủy Quân Lục Chiến-Một Đời Thủy Quân Lục Chiến”. Trời đang vào Thu, xứ thung lũng hoa vàng có những ngọn lá vàng là tả bay theo gió thoảng khi khí tiết đang chuyển qua cơn mát dịu-trả lại khung trời hè những gay gắt nắng hạ. Khắp bốn phương trời trên thế giới, họ về đây trong một tinh thần của một truyền thống bất khuất mà chợt nhìn, thấy như cuộc chiến chưa tàn: Những người lính già dường như vẫn chờ lệnh hành quân!!!


Hai mươi tuổi tôi vào quân ngũ khi mộng sách đèn chưa thỏa bởi đất nước đang hồi dầu sôi lửa bỏng của cuộc chiến do cuồng vọng xâm lăng của Cọng Sản. Hòa mình trong lớp lớp người đi tôi vẫn thơ ngây chưa biết buồn khi lần đầu rời xa ánh đèn phố thị. Thời gian như vó câu qua cửa sổ khi điểm lại bốn mươi năm cái ngày rời xa vĩnh viễn giảng đường đại học. Cảm tạ thiêng liêng đất trời cả chuổi hành trình thắm đủ tình yêu nước non nơi quân đội đã tôi luyện cho trọn một đời với nhiều đam mê cho một tuổi trẻ có đủ tình yêu, tình người, tình đồng đội.



 
Hình gia đình Quái Điểu TĐ1TQLC 9/2011- Dallas TX




Giờ đây khi được dịp ngồi lại với Ngô Chi,Trần Đại Đãi trong cùng một màu áo trận Sóng Biển của những lần đại hội binh chủng thì thật cảm tạ cuộc đời về kỷ niệm của những chặng đường có nhau. Chuổi hành trình từ trường Mẹ ra đến đơn vị chiến đấu rồi đến cùng trại tù và cùng đoàn tụ trên đất tự do thì quả thật như mây về với núi, như những cánh diều mang cả bầu trời tâm sự vào khung trời xứ Huế.


Mậu Thân 1968 tôi đang lớp đệ ngũ chương trình Pháp trường Thiên Hữu Huế thì biến cố thương đau đến. Những ngày thành phố thân yêu của 28 ngày đêm hoang tàn đổ nát, tôi chứng kiến từng lớp người bị Cọng Sản giải bắt rồi sau đó nghe tin bị thảm sát nơi Đồng Di Tây Hồ, Khe Đá Mài, ba Lăng Quảng Xuyên. Nỗi căm hờn càng dâng cao hơn khi chứng kiến những lần khai quật mồ chôn tập thể của hơn năm ngàn sinh linh oan nghiệt chết chùm với nhau bằng những sợi dây trói liền. Nơi Lưu Xá Nguyễn Trường Tộ, Huế 1970, khi một NT2 về phép và khi ghé qua thăm người em là bạn cùng lứa, tôi bắt gặp hình ảnh phong trần, hiên ngang nhưng lịch lãm. Từ đó len lén hình thành một lối đi cho mình để rồi rồi giấc mơ trở thành sự thật khi mùa đôn quân đến giữa khi Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 với cường độ chiến tranh rất ác liệt.


Từ những nhân duyên ở đâu đâu, chúng tôi gặp nhau như bốn phương một nhà: Ngô Chi, Trần Văn Thanh, Trần Ngọc Long, Nguyễn Văn Mỹ từ Quang Trung lên, Lê Quang Thông, Trần Đại Đãi, Lê Quốc Hùng, Nguyễn Văn Khảo từ trường Đồng Đế vào… hợp cùng năm mươi Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức băng qua để hợp thành một tập thể hai trăm lẻ chín người và hình thành khóa Nguyễn Trải 4 với một hành trình nỗi trôi theo vận nước.


Giữa những chặng đường đó, nhiều kỷ niệm ân tình như sống lại thật rõ nét như mới ngày qua:


Cuối năm 1990, sau khi ra trại Bình Điền, Ngô Chi ra đi, quyết chí thỏa mộng tan bồng. Từ trước, anh bị bể nhiều chuyến nhưng may mắn không dính tù. Lúc ở trong trại giam Bình Điền, có lần toan tính vượt thoát quy mô với Nguyễn Văn Chót, Nguyễn Bình Minh nhưng bị thất bại nên khi ra tù, mộng ra đi tìm tự do vẫn luôn quyết chí. Lần nầy anh may mắn vượt lằn ranh sanh tử nơi cửa bể Thuận An, Huế cùng với NT5 TD Trung:


...Trên chuyến xe thồ Honda từ chợ Đông Ba Huế về cầu Diên Trường để rồi theo lối ruộng băng qua làng Chuồng, Diên Đại, nơi bãi bốc đang bí mật khởi hành, Trần Đại Đãi chở Ngô Chi vừa đi vừa trao đổi dặn dò, lại vừa quay quắt dò tìm công an theo dõi. Khi tới bến cầu, anh cởi chiếc áo ấm rất quý bằng da dùng chạy thồ trao vội cho Ngô Chi với lời dặn dò trên đường đi nhớ niệm Quán Thế Âm Bồ Tát và mặc vào kẻo ra biển lạnh lắm. Hãy yên tâm những việc ở lại, thành bại có tao sau lưng mày. Đêm đó Ngô Chi ra đi bằng an, công an biên phòng phát hiện muộn màn nên chỉ biết chào bai bai bằng mấy loạt đạn AK và vô vọng căm hờn tiển người đi. Cũng đêm đó, nơi làng Dương Nỗ, Phú Vang, Trần Đại Đãi phập phồng lo sợ, nuốt nước bọt theo từng tiếng chó sủa giữa khuya, ngỡ như bạn mình ra đi không thành và trở về đây ẩn lánh như lời dặn lúc ra đi….. Anh vùng dậy, lên chiếc xe thồ chạy quanh quanh thành phố cho đỡ bồn chồn rồi hướng về chùa Phật Đứng-Phật Nằm ở Nam Giao để dốc tâm thành nguyện an bình cho bạn mình.



“Nhớ đặc biệt về Trần Đại Đãi với chiếc áo ấm choàng lên vai mình khi khẩn cấp, bạn chở về Thuận An một cách táo bạo, qua mặt công an, bạn tiếp tay vượt biên còn dặn mình nhớ niệm Phật trước khi chia tay. Cám ơn, bạn mình chôn trong lòng chưa hề thốt lên miệng vì quá thiêng liêng ở hoàn cảnh cấp kỳ quí báu. Nhớ Uông Tiến Thắng những ngày ở Quang Trung rồi Kiên Giang và qua đây ở San José. Kỷ niệm ngày giờ ly kỳ gây cấn ở các quán cà phê. “Trích NC-bkk4.net”.



Năm đầu vào trại tù Ái Tử Quảng Trị sau 75, tù cải tạo có dịp gánh củi ra chợ Đông Hà để gom bán cho các hợp tác xã sản xuất.


Khi đang lui cui chuyển vai vì sức nặng 30 ký cây rừng trên vai thì bắt gặp gương mặt tái nhợt vì quá mừng và xúc động của người bạn rất thân cùng khóa ở trường đang từng bước chạy ngược chiều rất vội vàng. Nỗi ngạc nhiên bất chợt và với sự áp chế tù binh làm chúng tôi chỉ biết há miệng nhìn nhau không nói. Tình cảnh rất căng vì bộ đội dẫn giải kèm bên rất nghiêm ngặt. Anh bạn có cùng đơn vị Thần Ưng Cảm Tử TĐ 6/TQLC lúc ra trường, hiện kín đáo về quê Triệu Phong và dun dủi gặp nhau tại chỗ nầy: một bên là tù, một bên là nông dân. Chợt nhìn lại thời gian tiền tân khóa sinh cho đến khi mãn khóa và ra cùng đơn vị thì phải nói đúng là sự tri kỷ như bóng với hình hoặc hơn nữa là từng chia sẽ nhau từng phút giây sống ở bên ngoài chiến trường. Bạn bè đồng khóa nhìn nhau se thắt ruột gan và chỉ còn ánh mắt im lắng giữa bao đe dọa rập rình. Cũng đành chịu vì không dúi cho nhau một điếu thuốc hay một lát cơm nén mà chỉ biết câm nín rồi bâng khuâng chia tay. Ba mươi sáu năm vật đổi sao dời, kẻ ở lại vẫy vùng tìm sống, tận dụng những kiến thức góp nhặt thuở dùi mài kinh lược ớ quân trường để nay trở thành thầy tướng số với những kiến thức tinh thông về ngày tháng, ngũ hành, âm dương con người giữa vũ trụ. Người ra đi ở mãi tận chân trời Dallas, tận dụng tiềm năng và cơ hội đầu tư thế hệ để có được nét tự hào đào tạo những tài năng mới Ái châ, Ái Mỹ rất xuất chúng cho xã hội.



Như món nợ ân tình cho Huế về nỗi tang thương Mậu Thân 68, những đứa con đất Thần Kinh vốn chất chứa cả trời tâm sự quê hương trong lòng như Lê Sơn, Lê Quang Thông, Trần Đại Đãi, Ngô Chi, Phạm Hữu Huê… đều một lần dấn thân vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và dù không trọn vẹn trên bước hành trình, nhưng cũng từ trái tim mong được đáp đền chút gì với đất mẹ thân yêu.



Được tham chiến vào trận đánh sinh tử cuối cùng, đơn vị với truyền thống bất khuất đã kiên cường chống trả và cầm cự cho đến những giờ phút sau cùng thì tôi ngã xuống. Bộ đồ trận chưa một lần thay do thế trận quá căng thẳng với đêm ngày không giảm cường độ ướt mèm vì máu. Ngày 30 tháng 4 năm 75 khi vừa được tải thương đến bệnh viện sư đoàn thủy TQLC Lê Hữu Sanh thì nghe lệnh đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn. Khi thoát ra khỏi căn cứ thì may mắn gặp thằng bạn đời ở đại đội C hiện đang nghỉ phép ở Ngã Tư Hàng Xanh. Mới cách mấy ngày mà nay thành một thương binh đi không được mà đứng cũng không làm thằng bạn lựng khựng nhìn trân trối. Vết thương ở phổi nên khó thở và mệt lắm nên người bạn Trần Văn Thanh phải rất kiên nhẫn lắm khi dìu đi tìm bệnh viện thí để băng bó. Biết rõ cơn nhức nhối hành hạ cơ thể trong cảnh cô đơn, lạc lõng không người thân, không đơn vị với gia tài võn vẹn một bộ đồ xanh quân y viện, người bạn kiên trì từng bước từng bước một mà hành trình là một vòng Sài Gòn từ cầu xa lộ đến nhà thương Bình Dân qua khu Thị Nghè nơi có bệnh viện Grall để tìm cách chữa trị và vô trùng vết thương. Viên đạn cách một lóng tay cạnh tim nên không chết lền như các sĩ quan cùng đơn vị Nguyễn N Thành VB28, Hoàng Minh Sinh VB 29. Ngô Chi ở BCH tiểu đoàn theo dõi từng phút trên máy PRC 25, chờ tin dữ vì biết bạn mình đang chiến đấu với tăng T54 Việt Cọng. Gần bốn mươi năm sau vật đổi sao dời vẫn một câu:


- Nếu như mày chết đi trong trận đó thì tuyệt quá vì tao sẽ có mãi một thần tượng để tôn sùng. Mày ra đi hiên ngang, vào nơi lửa đạn mà chấp nhận bỏ hết và đúng là những người trẻ cuối cùng vào cuộc chiến. Tao chờ tin mày từng giây và mày chết sẽ là bất tử trong tao!


Ngày 22 tháng 4 năm 1975, đại tá chỉ huy trưởng TDHCTCT Đà Lạt ưu ái cho các tân sĩ quan khóa NT4 hai ngày phép thăm thân nhân trước khi ra đơn vị. Ông thật nhân đức và quá ân tình với những đứa con học trò nên linh hoạt tạo dịp cho các tân sĩ quan một nghĩa cử như món quà tiển biệt! Về lại Sài Gòn trong cơn hấp hối, phố xá vẫn đông người do từ các nơi ngoài Trung chạy loạn và dồn về. Trong dòng người xuôi ngược tất tả đó, Ngô Chi và tôi như bóng với hình lững thững những bước chân lặng lẽ trên hè phố, lòng buồn rười rượi vì mất liên lạc với gia đình và người thâ ngoài miền Trung. Thành phố vội vã trong sinh hoạt, trên mỗi sắc mặt đều thoáng vẻ ưu tư, lo lắng và đợi chờ một cái gì sẽ đến. Các quán xá, tửu lầu vẫn rộng mở mà đa số dân nhà binh là khách chính. Hai đứa ngang qua khu Brodard sang trọng, cố mở tầm mắt như thu nhận lần cuối hình ảnh hào nhoáng, kiêu kỳ của Sài Gòn hoa lệ vào ký ức với một linh tính khó có một lần thứ hai. Bên trong cửa kính quán cà phê thấy những người bạn mình như Nguyễn Văn Lân BCND, Trần Đại Đãi, Lê Quang Thông TQLC mà mới hôm qua hiền lành, đơn sơ nay oai vệ, vũ dũng những bộ đồ tác chiến rằn ri hoa biển với chiếc mũ bê rê màu xanh lục. Họ trầm ngâm bên những tách cà phê, thú vị đưa từng giọt đắng vào người, tận hưởng những dư vị hạnh phúc của nguyên lý có-không, thực-ảo, đến-đi, sáng-tối, hạnh phúc-khổ đau của tuổi trẻ hai mươi thời chiến. Bên hông quán thấy nhà thơ Khuê Việt Trường là NT4 Phan Huy Trạm, đúng tựa cửa và đang nỉ non với người yêu như những lời tình tự cuối trước cuộc chia tay kẻ sắp lâm trận.


Cũng dun dủi tình cờ mà cả hai chúng tôi gặp lại người con gái xứ đạo Thanh Bồ Đà Nẳng đang tả tơi sau chuyến hành trình trên biển khơi từ ngoài trung vào vì lánh nạn Cọng Sản khi thành phố thất thủ ngày 29 tháng 3 năm 1975. Như Lan, gốc Văn Khoa Huế mến mộ chàng alpha đen trong đợt phép thường niên đầu năm 1975 của các SVSQ NT4 và níu kết như có duyên nợ tự thuở nào. Khi chia tay nơi phi trường Đà nẳng để về lại trường, tôi thấy em đứng đơn côi giữa một rừng quân màu áo hoa dù nơi bãi tiếp vận cung ứng nhân lực,đạn dược cho chiến trường Thượng Đức. Em chơi vơi ngấn lệ, không cất nổi cánh tay vẫy chào như là lần cuối tiển người đi khi tiếng động cơ chiếc C130 gầm rú khởi động để sẳn sàng cất cánh lên bầu trời, hướng về Đà Lạt. Tình yêu thời chiến nóng bỏng và vội vàng nhưng thơ mộng do ngày mai sẽ đến như thế nào mà ai có biết. Nay gặp lại Như Lan nơi Sài Gòn tất bật rộn ràng đầy người chạy loạn, em như con mèo ốm, xác xơ giương đôi mắt lo lắng vì đợi chờ:


-Anh hãy ra khơi với gia đình em bằng chính con tàu Giã của ba em (Tàu đánh cá). Tất cả đã chuẩn bị rồi, mình rời khỏi đây đi anh!


Trong phút chốc, hành trình từ những ngày nhập cuộc hiện về. Hai năm sáu tháng với hai trăm lẻ chín người cùng dấn thân cho một chí hướng qua bao mùa thao trường mồ hôi đổ. Những miệt mài tôi luyện bên giảng đường, bên bãi tập quân sự để mong có ngày được phục vụ cho đất nước mình bằng kiến thức, nhiệt tình, bằng lý tưởng. Hai mùa mưa nắng trên đồi núi Đà Lạt, những cây thông già làm chứng nhân kỷ niệm qua bao lớp người đi mãi mãi vi vu theo gió tựa như nhắc nhở, như thì thầm giấc mộng chinh nhân các anh đi. Cái tự hào được làm người lính hiện dịch suốt đời phục vụ lý tưởng quốc gia đã làm tôi như mê man, đan tâm tránh lối loài hoa nở bên đường để tìm đến chốn lửa đạn. Gia đình đang bặt tin ngoài Huế mà quê hương miền Nam đang ở những giờ phút sinh tử thì làm sao mà dứt bỏ cho đành.Vân vê chiếc bông mai mới toanh trên ve áo, tôi ân cần:


- Như Lan hãy theo gia đình ra khơi đi. Anh không đi và quyết ở lại. Anh yêu con đường anh đi!


Giã từ Sài Gòn, giã từ đồng môn và bè bạn, giã từ người tình bé bỏng yếu đuối với cánh tay không vẩy được lúc chia tay. Sáng 24 tháng 4 năm 1975 theo đoàn người ra đi, chúng tôi lên đường ra đơn vị. Theo nhu cầu khẩn cấp của cuộc chiến, mỗi chúng tôi đến khu vực hành quân cùng ngày.


Trận chiến kéo dài cho đến chiều tối ngày 28 tháng 5 năm 1975 thì hai bên nổ lớn ra tại ngã ba huấn khu Long Thành. Các chiến sĩ cọp biển đã chiến đấu rất kiên cường trong một thế trận cam go nhưng cô đơn không được yểm trợ. Trên con đường lộ nằm giữa rừng cao su dẫn vào cổng trường Bộ Binh có năm mươi hai chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại nơi đây khi đơn vị rút về phía Long Bình vào sáng 29 tháng 4 năm 1975. Một chiến sĩ sống sót lúc nằm lại đã an táng tập thể những anh hùng vô danh nầy cạnh những gốc cây cao su mà nay 2011- những ngôi nhà tập thể lại xây dựng lên bên trên. Ba mươi sáu năm vật đổi sao dời, những đồng đội sống sót quá xót xa thương khóc bạn , nhiều người trở về chiến trường xưa tìm dấu tích…



“Bồng Sơn. TĐP/TĐ1 bổ sung thêm một vài chi tiết, không chỉ địch tấn công ĐĐ2 mà tấn công toàn tuyến phòng thủ của cánh B/TĐ1 gồm  ĐĐ1, ĐĐ3 và ĐĐ2 phòng thủ hàng ngang. Thiệt hại của ĐĐ3 rất nặng, ĐĐT/ĐĐ3 bị thương và một số TB và Tữ Sĩ được tải thương ra khỏi trận điạ, ĐĐ3 chỉ còn 1 SQ khoá 4/ĐHCTCT Thiếu Uý Phạm Hữu Huê được chỉ định nắm ĐĐ3, BCH/Cánh A đóng tại dốc 47 nhưng BCH/Cánh B đóng ngay tại Ngã 3 Thái Lan, chạng vạng tối 29, bị chiến xa địch tiến dọc theo QLộ 15, bắn nát BCH/CB, BS may mắn thoá chết vì đã lên trám tuyến của ĐĐ3 khi Th/Úy Huê bị bắn thủng ngực đang thoi thóp chờ chết, 2 cận vệ của BS tan xác vì chưa theo kịp BS thì đã bị đaị bác 100mm trên T54 bắn chết bù lại chiếc T54 này bị ĐĐ1 cuả Tr/Úy Bình bắn cháy, để rõ hơn xin tìm đọc hồi ký Tháng Tư Ra Trường của Th/Úy Huê, người mà may mắn sống sót khi BS đã kịp thời tải thương trong Tạp Chí Ức Trai của TĐHCTCT để hiểu thêm nhữnh khóc liệt của trận đánh cuối cùng của TĐ1/QĐ/TQLC nói riêng và QLVNCH nói chung, lăng kính để nhìn một trận đánh đưới góc độ nó tùy thuộc vào vị trí, cấp bậc và chức vụ nhưng tựu  chung sự chiến đấu kiên cường của các Quái Điểu đã thể hiện lòng can đãm và tinh thần bất khuất cùng sự hy sinh vô bờ bến của QLVNCH.”


Đ/Úy Buì Bồn TĐP/TĐ1/QĐ/TQLC, người trực tiếp chỉ huy trận đánh cuối cùng này.(Trích DĐ Mũ Xanh)


Cuối năm 2000, NT4 Trần Văn Thanh cũng tiếp nối lên đường sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Đứng ở phi trường Los Angeles lúc làm thủ thục nhập cư, anh đua tay vẹo lên má cho thật đau tìm sự thật trong cõi hư ảo cuộc đời để biết mình không là mơ, đang ở Mỹ. Ngày tiễn tôi ra đi mười năm về trước, anh cứ ngỡ đôi ngã cách ly và cầu vọng cho mình một ước mơ khi nghe tôi tâm sự đây sẽ là cơ hội mới xóa bài làm lại. Những ngày dài sau cải tạo lênh đênh trên sóng nước Hương Giang của vai tài công thuyền khách, khi ghé qua trại mộc Bao Vinh nơi người bạn K28VB Nicholas Tuấn đang làm thợ, tôi được biết những di sản trân quý tình đồng môn của họ: Mỗi năm vào dịp Giáng Sinh, những người cùng khóa ở lại đều nhận được quà từ bên kia bờ đại dương và tạo nên biết bao an ủi, tin yêu như một hiệp lực thêm sức mạnh của hành trình một ngày Sinh Viên Sĩ Quan, một đời Sinh Viên Sĩ Quan của quân trường Mẹ. Cùng với Nguyễn Đức Lai, Nguyễn Quốc Chính, Tôn Tiến Khang, Nguyễn Gia Hưng, Vũ Quang Hưng, Nguyễn Văn Mỹ, Phan Duyệt, Nguyễn Tâm là những người có trái tim vàng bất kể không gian và thời gian, để Trần Văn Thanh, Trần Đại Đãi cùng nhập cuộc trong những chia sẽ đồng môn, mang những điệp khúc ân tình đến những người anh em khó khăn ở quê nhà. Hai mươi năm tròn, mô hình Nguyễn Trãi Giới Tuyến do anh chị NT3Trần Xuân Choai khởi xướng cùng với hơn hai mươi anh em chí nguyện nuôi dưỡng đã gói trọn tình đồng môn không biên giới cho nhiều anh em ở miền Trung. Tuy như những loài hến câm nín nhưng lại mang cả một trời tâm sự quê hương, các anh em bên quê nhà như được tắm mát vào dòng Hương Giang: Sau 75, chúng ta mất hết nhưng còn nhau!!!!!


Mười sáu năm sau ngày đất nước ly tan, bạn bè và những người xưa cũ gặp nhau trên xứ tự do. Cùng điểm đến nhưng khác biệt riêng rẽ vào mỗi hành trình. Đến bây giờ vẫn thấy rằng những năm tháng nơi trường Mẹ đã dày hun đúc chí trai để biết đặt tình yêu tổ quốc lên trên bản thân và gia đình. Những người ở lại, những đồng ngũ không bỏ anh em, bè bạn và đã trung thành với cuộc chiến như một sứ mệnh phải nối tiếp và hoàn thành. Bốn, năm, sáu năm hay hơn nữa cho mỗi Sinh Viên Sĩ Quan về bản án vô hình tù tội mà giặc thù áp đặt cho người cán bộ nồng cốt của quân lực VNCH rồi cũng chỉ là sương gió khi chí khí và nỗi căm hờn giặc thù vẫn còn. Nơi đây, Hoa Kỳ, người xưa của 1975 theo năm tháng, cũng nhạt nhòa theo bước thời gian , vẫn một mực thầm kín niềm nuối tiếc đã chưa cho nhau được những gì mình có …. Người nay mới tới thì hành trang như từ đất sang trời, từ địa ngục đến thiên đàng mà những đọa đày đầy thù hận do tù đày, kinh tế mới , do rập rình cô lập của từng lời nói, cử chỉ từ đời cha đến đời con mà nay lại thành là những vun xới tươi tốt cho trái tim thêm đậm đà nhân bản.


Có những trưa hè bên trong cánh rừng Như Xuân Thanh Hóa là khi tiếng vượn rừng thôi hú nhường cho tiếng chim ca giữa ngàn cây trong một không gian có đà tiến hóa chạy ngược, những chàng trai alpha đen của một thuở hào hoa lịch lãm đang đói meo nằm nghỉ trưa trên tấm vạt giường bằng cây rừng trong căn nhà vách thưng, mái bằng nứa của nhà tù cải tạo Như Xuân, Sông Mực. Tuy sống như thời đồ đá, nhưng thỉnh thoảng lại nghe được tiếng đàn ghi ta cổ điển réo rắc của VB Phan văn Phát,cựu phi công A37. Âm thanh ngút ngàn, thánh thót của một kỷ thuật tây ban cầm siêu đẳng như đẩy lùi lại vào quá khứ nơi một dĩ vãng có đủ tình yêu tuổi trẻ và những dấu ấn cuộc đời. Tù nhân có những phút giây được quên thực tại, được thú vị với nỗi hạnh phúc vô hình . Đầu gối tay lim dim mộng mơ trong căn lán một ngày chủ nhật không lao động, khi nghe độc tấu với ngọn đàn réo rắc hết mức chịu đựng bản Romeo& Juliette”..Những mối duyên đầu, thường gây khổ đau, lòng khóc thầm…Vì phút chia ly chợt đến như mây sầu đông. Giây phút ban đầu, ngày ta gặp nhau, mắt môi thầm trao , những câu ân tình, biết bao là âu yếm …” thì bạn đời Ngô Chi hỏi:


-Mi có tiếc không? Hồi đó sao không theo em xuống thuyền sang Mỹ?


-Phải đợi xong một hơi thuốc lào mới trả lời được.


Cơn phê sau một hơi ém dài làm tôi lảo đảo, quay cuồng quên cả thực tại. Thú hạnh phúc “đắm say” một bi ba số tám ai chưa một lần thì chưa biết tới. Khi nhịp tim đập lại bình thường, tai hết ù và nước mắt bớt nhễ nhãi, nỗi xúc động của ngày tháng cũ lại về:


-Ai cũng có một tình yêu tổ quốc, một tình yêu dân tộc và dĩ nhiên ai cũng có một cuộc đời đáng sống. Cái quý hóa là quân trường Mẹ đã tôi luyện để chuyển hóa mình biết yêu và đặt tình yêu đất nước lên trên, trên vả những cuộc tình của những chàng trai thế hệ…. Thật khó phai mờ hình ảnh sáng ngày 24 tháng 4 năm 1975, đúng giờ chia tay khi đoàn quân xa nổ máy chở tân sĩ quan lên đường tại cổng TĐ 50 CTCT, Thiếu Úy Nguyễn Ngọc Vịnh dứt nhẹ tay người tình đang bịn rịn quyến luyến và vụt chạy về phía những người bạn mình đang ở trên xe ra đơn vị dù biết cuộc chiến ở giờ thứ 25. Trên những chiếc GMC của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, có những người trai theo tiếng gọi của tình yêu tổ quốc đang trên đường ra trận.



MX Hoa Biển
NT4 Phạm Hữu Huê