Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2012 TRÊN ĐỈNH BÌNH YÊN

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

TRÊN ĐỈNH BÌNH YÊN

In PDF.




Trích “MỘT THỜI CHINH CHIẾN”
Thân Tặng Tất Cả Anh Em Nguyễn Trãi 2/ ĐH.CTCT.




Chiến Dịch biên giới Việt-Miên-Lào kết thúc cuối tháng 4/1971. Với chiến thắng Căn cứ Hỏa lực số 6 (đồi 1001 Ngok Ring Rua), Kontum đẩy lùi Mặt trận B3 của Hòang minh Thảo CSBV. về bên kia lãnh thổ Kampuchia. Các chiến binh Tam Sơn Nhị Hà nay đã trở lại đồng bằng vùng Duyên hải Bình Định.



 
Chiến thắng Căn cứ Hỏa lực số 6 (đồi 1001 Ngok Ring Rua)



Sư Đoàn 22 BB. hoạt động trên một địa bàn thật rộng lớn. Phía Bắc từ đèo Bình Đê (Quảng Ngãi) đến phía Nam đèo Cù Mông (Phú Yên). Phía Đông là Đầm Thị Nại có Cửa Đề Gi đã bao lần dậy sóng. Phía Tây với đèo An Khê, đèo Mang Giang kéo dài cho đến Dak To, Mang Buk, Dak Pet…Núi rừng trùng điệp là chỗ ẩn náu tốt cho Cộng sản Bắc Việt xua quân vào nam. Đám quân mệnh danh giải phóng, trường kỳ mai phục cố cướp cho bằng được miền nam Việt nam. Mà đầu não của tập đòan nầy chúng nằm ngay tại Hà Nội, Bắc Bộ Phủ.


Trời nắng chang như thiêu đốt của những ngày hè với cơn gió Lào thổi về. Những ngày chiến dịch Tây nguyên đã qua. Bắt đầu một ngày mới.


 Tiểu Đòan 3/41 được lệnh cắm quân tổ chức huấn luyện và bình định lãnh thổ. Cứ điểm Đèo Nhong, nằm trên Quốc lộ I thuộc thôn Vân trường, xã Mỹ phong, huyện Phù Mỹ, cách Trà Quang bản doanh Trung Đòan 41 BB khoảng 3 km.
Sừng sững phía Tây là dãy Màn Lăng làm ranh giới giữa hai huyện   Phù Mỹ đồng bằng và Hòai Ân thung lũng. Hòai Ân, nơi Cộng Sản đã từng dùng làm căn cứ xuất phát mọi tồ chức từ thời Việt Minh và cả bây giờ. Theo hồi ký Ở Lại Dòng Sông của tên Bí thư Nguyễn Trung Tín tiết lộ: “Ngày 2/9/1965, tại khu rừng Bà Bơi, Bók Tới (Hoài Ân), trung ương Đảng thành lập ở Bình Định một đơn vị chủ lực quân đó là Sư đoàn 3 Sao vàng, khung nòng cốt là cán bộ miền Bắc vào, tân binh là lưc lượng thanh niên địa phương, do Lư Giang làm Sư trưởng” (trang 203).


Mở lối giao thông qua lại có đèo Màn Lăng, chạy từ Trung Hội (Phù Mỹ) đến Thạch Khê (Hòai Ân). Cuối chân đèo là ngôi chùa cổ nổi tiếng nhiều cọp. Trước đây khi nào có khách viếng thăm, chùa phải cử thầy tụng kinh gõ mõ mở đường, dẫn lối.


 Phía Đông là dãy Lạc Phụng rộng hàng trăm dặm vuông chạy từ quốc lộ ra sát mé biển. Lô nhô có hòn Xuân Kiển, hòn Tre, hòn Miếu… Đông Tây nối liền do ngọn Đèo Nhong.


Đèo Nhong trải dài từ dốc cây Mù U phía Bắc đến dốc cây Me phía Nam chừng 6km. Những người đã sống trong vùng Bình Định thời Việt Minh (1945-1954) giờ còn thấy mặt trời, nếu có đi ngang qua phía Tây đèo Ô Phi (Phú Nhiêu) và phía Nam Đèo Nhong (Diêm Tiêu); đố ai không khỏi rùng mình nghĩ đến chuyện “muôn năm cũ”. Nơi đây có trại an trí dành cho đám Trí, Phú, Địa, Hào tòan tỉnh, giam giữ trên vài nghìn người. Trại nằm sâu trong rừng ngùn ngụt sơn lam chướng khí. Những kẻ may mắn còn sống sót thì “bất thành nhân dạng”, rách rưới, beo bủng…
Một nhà thơ đi ngang qua đây đã có bài thơ cảm tác:


Nắng chiều ngả ngọn Đèo Nhong
Nghĩa thêm chua chát nỗi lòng Diêm Tiêu
Lạnh lùng sương trắng Phú Nhiêu
Bóng xa mây khói tiêu điều Ô Phi…


Bây giờ thì những người chiến binh “hai núi, ba sông” được hít thở không khí trong lành của ngọn gió chiều như mang lại sức hồi sinh. Mặc dầu những hiểm nguy, rình rập luôn đe dọa từng phút, từng giờ mạng sống con người bởi sự ngu dốt và cuồng tín.


Kể từ ngày về Tiểu Đoàn 3/41, Thiếu Úy Minh, một sĩ quan trẻ mới tốt nghiệp. Vừa tham dự một trận chiến khá khốc liệt. Mặt trận tam biên, căn cứ 6. Người từ cuộc chiến trở về. Sau gần một tháng vật lộn cùng ban tham mưu Trung Đòan thực hiện tờ Đặc san đặc biệt: “Trung Đòan 41 BB, Chiến thắng Căn cứ Hỏa lực 6”


Đặc san phát hành rộng khắp, gởi biếu Sư Đòan, Quân Đòan. Phân phối đến các Tiểu Khu trong địa bàn hoạt động thuộc Quân Đòan +Quân Khu. Cấp phát xuống tận tay các đơn vị chiến đấu.


Như để tưởng thưởng, lệnh của Trung Đòan trưởng Trần Đình Vỵ cho gọi Thiếu Úy Lê Quang Minh về trình diện, nhận công tác mới. Theo Đại tá Trung Đòan Trưởng: “Xem qua hồ sơ lý lịch sĩ quan trong Trung Đòan. Tôi thấy cậu vừa tốt nghiệp Đại học quân sự lại đã từng là giáo sư. Cậu là người thích hợp, giúp tôi. Về Sàigon, cậu bảo nhà tôi và các cháu Liên, Mỹ, Yến…cậu là thầy của chúng trong mùa Hè. Đặc biệt cậu làm thế nào giúp đỡ cho Liên được tốt nghiệp năm nay”.

 




 

Rời Bộ chỉ huy, Minh được xe của Trung Đòan đưa về tận đơn vị, nơi đóng quân của Tiểu đòan 3/41. Sau khi trình sự vụ lênh, chào vị Tiểu đòan trưởng rồi trực chỉ phi trường Phù cát bằng phượng tiện nhanh nhất: hàng không quân sự. Minh đã có mặt tại Sàigon.


Kể từ khi về trình diện Trung đòan đến khi bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất không quá ba tiếng đồng hồ.
Thật là dịp may hiếm có, ngòai óc tưởng tượng của Minh. Làm sao trong thời buổi chiến tranh, nơi vùng đèo heo gió hút, tử thần đang rình rập. Bỗng chốc lại có mặt tại  Saigon, thủ đô hoa lệ của môt thời anh đã sống. Giờ thì sắp xếp công việc sao hợp lý và cũng dành thời gian có ý nghĩa cho những gì ta đã mất đi. Dầu sao Minh cũng được trở về Sàigon, sống lại thời sinh viên nhưng có khác là không phải vật vả chạy kiếm sống như thuở nào.


 Nhận dạy kèm cho ái nữ của một Trung Đòan trưởng vào kỳ thi Tú Tài sắp tới là phải thi đậu. Công tác không dễ chút nào!


Qua lần đầu gặp gỡ, Minh đã chinh phục trái tim ái nữ con quan bằng sự cộng tác cả tấm chân tình: “Em phải đậu khoa này thì anh cho nàng muốn gì cũng được”.


Tình cảm phát sinh giữa người thầy độc thân, sĩ quan trẻ và cô học trò của “Hồi chuông xóm đạo” đã một thời viết lên trang tình sử. Chàng là người ngọai đạo, còn nàng dầu yêu chàng nhưng không làm sao vượt khỏi lễ giáo trong nhi nữ thường tình. Trở lực lớn nhất là sự cản ngăn của song thân nàng bởi bản thân quan lớn đã từng là một nhà tu từ một nhà Dòng. Kẻ thua thiệt vẫn là đấng nam nhi chi chí: “Tang bồng hồ thỉ” (Chí tang bồng là nợ phải vay)
 Ngày Thiếu Úy Minh hết công tác trở về đơn vị cũng là ngày nàng có kết quả đậu Tú tài. Khi về lại Trung đòan trả sự vụ lênh, nhận công tác mới thì những lời hứa của quan lớn lúc lên đường giờ cũng như cơn gió thỏang bay đi. Minh không lấy làm buồn.


Minh về lại Tiểu đòan 3/41 tác chiến với những tin đồn thất thiệt. Rằng Th/Uy Minh bê bối, ăn chơi trác táng bị Trung đòan trưởng phạt 20 ngày trọng cấm vv….


 Minh cố gắng vượt qua nỗ uất này bởi Minh không phải là kẻ gieo gió. May mắn cho Minh là vị Tiểu đòan trưởng mới là người rất chịu chơi và thông cảm, hổ trợ cho Minh tối đa trong mọi công tác. Chính ông đã từng nhận xét: “Anh trắng trẻo, đẹp trai trông như là một nhà giáo chớ không phải là một sĩ quan lại hiện dịch nữa. Khi chưa gặp anh tôi không biết thế nào. Chứ bây giờ thì tôi tin những điều anh nói  tất cả là sự thật”


 Minh cũng không oán trách nàng bởi nàng cũng rất yêu Minh. Con đường duy nhất còn lại của Minh phải chấm dứt mối tình này. Tình yêu của Ngọc Liên, đẹp như đóa hoa sen tinh khiết đúng như tên nàng gọi. Liên đã nhiều lần tìm gặp. Minh giải bày mọi lẽ.


 Một dịp gia đình từ Sàigon ra thăm, nàng bảo pilot mang trực thăng của Trung đòan đáp xuống căn cứ Đèo Nhong để thăm người yêu. Minh một phen bị ban tham mưu Tiểu đòan trêu chọc nhưng bù lại từ đó ai cũng gọi Minh là chàng“Nghĩa Tế của Trung đòan trưởng”. Sự thật chỉ có Công chúa nhớ Phò mã đi tìm mà thôi.


      Địa bàn hoạt động của Tiểu Đòan là huyện Phù Mỹ (Bình Định). Cộng Sản thường xúi dục dân làng đến trước các đồn bót biểu tình, đòi lính rã ngũ, không bắn giết thường dân vô tội vv… Ban đêm Cộng sản bắt dân học tập tại những vùng xôi đậu. Từ rạng sáng, số tham gia, giả làm người đi chợ, tay xách túi, lên những chuyến xe lam cùng nhau tới địa điểm tập trung mà chúng dự định đấu tranh. Biết được âm mưu đó, Minh trình phương án và có mặt rất sớm cách nơi xuất phát một chặn đường, điều động binh sĩ làm nút chận, gom những người khả nghi lại một nơi ước chừng 50, 60 người. Minh đến tiếp xúc với họ bằng lời lẽ ôn tồn, thăm hỏi cùng phân tích những hiểm nguy mà họ đang gặp phải:
“Lính là con em của mình trong một đất nước chiến tranh, vì sự an bình của cuộc sống, của người dân mà họ phải tham gia, chứ họ có vui sướng gì đâu mà phải bỏ nhà, bỏ cửa đi vào nơi lửa đạn, bà con phải thương yêu đùm bọc, họ hy sinh là vì bà con, chứ những kẻ xúi giục họ chẳng mất gì, nếu xảy ra tình huống nào, rủi có chuyện chết chóc họ có chịu thay cho mình đâu, chỉ cần một người lính thiếu suy nghĩ, tức giận, xách súng ra bắn xả vào bà con thì ai là kẻ bị thiệt thòi?”.


 Nhiều người khóc lóc, bộc lộ tâm tình rằng mình bị ép buộc, nếu không thì họ sẽ bị trả thù: đưa đi học tập, cải tạo, an trí. Để giải quyết vấn nạn nầy, Minh thay vì bắt giữ họ, lại lo việc ăn uống buổi trưa cho họ và đưa họ về nhà với những lời nhắn gởi nhẹ nhàng, dùng chữ viết lên các chiếc nón trên đầu. Cộng Sản không hết lời kết án, đe dọa đã không làm binh sĩ lùi bước, nản lòng.

 


Căn cứ đèo Nhong cũng là nơi thăm viếng của nhiều phái đòan trong tỉnh như những đơn vị kết nghĩa trường Sư phạm Quy nhơn, Phái đòan Nghị viên Hội Đồng Tỉnh cùng những buổi trình diễn văn nghệ giúp vui của Đại Đội 202/CTCT, Ban Văn Nghệ Ty Thông Tin tỉnh Bình Định hay đến sinh họat Chính huấn tại các đơn vi huấn luyện.


Là Trưởng Ban CTCT/ Tiểu Đòan kiêm Đại đội phó/ ĐĐ.Chỉ Huy. Minh đã mang lại luồn sinh khí cho đơn vị vui tươi, yêu đời mang lại  niềm hạnh phúc cho dân được ỵên ổn làm ăn không có sự khuấy phá nào từ phía giặc với tinh thần sẵn sàng chiến đấu:


“Nơi nào đất nước cần, nơi đó có chiến binh”.


 

Đèo Nhông trở thành nơi thân quen của khách bộ hành trên tuyến đường Bắc Nam. Người dân Bình Định trong sinh họat giao thương giữa các huyện. Đặc biệt nhất là dân chúng Phù Mỹ, Bồng Sơn bớt đi mặc cảm của những người thuộc vùng Liên khu V cộng sản. Khó hiểu, lạnh lùng cộng thêm những bất an thường trực bởi một tập đòan lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, không bao giờ thấy khổ đau, mất mát của nhười dân.


Những khi công tác rỗi rảnh Minh thường rủ một số anh em vào những làng thăm viếng, thân quen với họ. Đặc biệt là vùng Diêm Tiêu có Quán may cô Như làm chủ. Tai đây tập trung có nhiều cô thợ ít nhiều nhan sắc như cô Trang, Hoa,Thanh. Vì Minh là thổ địa duy nhất của Tiểu đòan nên việc đi chơi lúc nào cũng căn dặn anh em đề phòng “mỹ nhân kế” bởi biết bao chuyện thương tâm chỉ vì một phút yều lòng. Thỉnh thỏang Minh đến chơi quán may nầy không ngờ Như lại để ý, thương thầm. Từ đó nàng đâm ra săn sóc ân cần, tình yêu không ranh giới.


Nguyễn văn Điểm, người lính duy nhất vùng Diêm Tiêu đã tiết lộ về những sinh họat của bọn cộng sản ở đây, và bộc lộ những tình cảm riêng tư của Như đối với Minh nhưng đề nghị Minh phải đề phòng. Khi nào cần nắm tình hình, Minh cùng vài bạn ghé thăm xem động tĩnh thế nào. Một hôm Minh ghé bảo là đi công tác xa mới về, quần áo bẩn cần tắm giặt. Chính Như, người con gái thầm yêu đã cản ngăn. Cô nói giếng hư, nưởc trở mấy hôm rồi không dùng được hôm nào anh đền chơi  thì ra hôm đó có bọn du kích về lẩn trốn trong vùng định gây nên tội ác. Diêm Tiêu cũng llà hành lang nối liền Đông Tây. Theo hồi ký Ở lại với dòng sông của Nguyễn Trung Tín tiết lộ:


 “Anh em đi công tác từ đông sang tây hay ngược lại luôn luôn phải đối diện với cái chết, địch chốt trên mặt đường bằng những lớp bao cát dày, chúng an toàn trong chốt theo dõi, phục, nghe ngóng từng bước chân đi. Mỗi lần qua đường phải đi vào mười một, mười hai giờ, phải đi đêm mưa, trời không trăng. Trinh sát đi trước, giao liên đưa qua đường; có lúc phải trải tấm ni lông ngang qua mặt đường, qua khỏi cuốn cất ngay. Hai xã Cát Hanh và Mỹ Hiệp nằm hai bên đường hành lang đông tây đã sẵn sàng những hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, bộ đội và sẵn ám hiệu thông báo tình hình khó khăn cho cán bộ vượt đường” (Trang 302)


Từ Trung Đòan ra đèo Nhong qua khỏi Diêm Tiêu cuối dốc có ngôi mả đá gọi là Đá Dốc thường xảy ra những vụ bắn lén gây không ít sợ hãi cho xe cộ qua lại trên đọan đường đèo.


Vùng Diêm Tiêu là có hàng trăm nhà có trồng hoa ngâu quanh vườn. Cây ngâu mọc cao rậm cành, dáng như đống rơm. Lá ngâu nhỏ. Ngọn lá hình tròn. Khi trồng làm cảnh, cây ngâu thường được xén theo mô hình ưa thích. Hoa ngâu sắc vàng, nhỏ li ti như hột sạn, mọc thành chùm ở kẽ lá. Hoa rất thơm. Hoa ngâu dùng ướp chè. Vì hương thơm nhẹ nhàng, tinh khiết của hoa nhiều nơi có lệ cắt hoa ngâu đặt vào đĩa để cúng trên bàn thờ.



Từ ngày tiểu đòan của Minh về trấn ngự Đèo Nhong tất cả đều yên bình. Trên đỉnh bình yên gió đưa thỏang hương cau từ Văn trường cộng với hương ngâu của Diêm Tiêu vùng đất chết Phù Mỹ năm xưa giờ thật sự nở hoa, còn gì đẹp bằng:


Những bông hoa nho nhỏ/Chỉ có chút hương đầm
Ẩn vào trong kẽ lá/Như mối tình lặng câm
(Bao giờ ngâu nở hoa-Xuân Quỳnh)



Trọng Đông 2011
 NT2 Lê Quang Mỹ

Tham khảo:

Nước Non Bình Định- Quách Tấn
Hồi ký Ở lại dòng sông -Nguyễn Trung Tín