Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2012 Xuân về gợi nhớ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Xuân về gợi nhớ

In PDF.



Mỗi độ Xuân về thường gợi cho tôi những điều để nhớ. Với cuộc sống đời thường, và theo giòng đời trôi chảy mãi cùng năm tháng. Tuổi tác ngày lại càng chồng chất thêm trên đường đi tới “thất thập cổ lai hy”, tóc đã muối tiêu, nếu nói thẳng thừng thì đầu tóc dường như sắp trắng bạc hết.


Hôm nay, thời gian này, lòng tôi miên man, qua âm vang tôi nghe thấy:



Thu tàn lá rụng ngoài hiên cửa
Đông đến sầu ai nói nửa lời
Có kẻ thất tuần đang tựa cửa
Chợt thấy Xuân về một sớm mai



Thật vậy, có những buổi sớm mai thức dậy hoa xuân khoe sắc, lòng tôi cảm thấy thổn thức nhớ về mùa xuân năm nào. Đi ngược lại quá khứ để tìm lại chút hương thơm phứt, vị ngọt ngào của tình yêu quê hương, yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Người xưa đã nói: “Lúc quốc biến mới thấy được tôi trung.”. Lịch sử cận đại của Việt Nam ta gần đây nhứt, mới trong vòng ba mươi sáu năm qua, vào mùa Xuân Ất Mão 1975, chúng ta đã có một Nguyễn Khoa Nam, một Lê Văn Hưng, một Lê Nguyên Vỹ, đã tuẫn tiết cho thành, không chịu đầu hàng bọn giặc cộng, một lũ hung tàn, xão trá, lưu manh và đầy gian ác.



Sự tuẫn tiết không chịu đầu hàng giặc, điều này đã nói lên được cái tình yêu nước vô biên, vô bờ bến. Cái sống của các vị này là sống cho quốc gia, dân tộc. Cái chết của các vị này cũng là cái chết cho đất nước. Chết vinh hơn sống nhực, cái chết của họ chẳng khác nào ngọn đuốc soi đường cho thế hệ con cháu mai sau.



Hôm nay xuân về đang gợi lên trong tôi những điều cần phải nhớ, phải tôi thờ. Đó là những trang sử oai hùng và tôn thờ những anh hùng hào kiệt của mùa xuân năm nào. Họ là những bậc thầy, những đàn anh, những đồng đội của chúng ta. Họ là những anh hùng tử nhưng “khí hùng bất tử”. Họ là những anh hùng đã khuất, đã vị quốc vong thân, nhưng tên tuổi của họ vẫn sáng ngời và để tiếng thơm lại muôn đời không bao giờ phai lạt được. Xưa nay ở trên đời này rất hiếm những người như thế. Bởi vì cổ nhân đã nói:



“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử.
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.”



Xuân về bên cạnh những điều cần nên nhớ và bên cạnh những đấng anh hùng cần đáng tôi thờ, lại có những điều mà lòng tôi chẳng thích thú mấy để nghĩ tới. Song mỗi lần xuân đến là tôi không bao giờ quên được. Lòng tôi cảm thấy bực tức và đôi lúc dẫn đến hờn căm, mặc dù lòng dặn lòng thôi thì đừng nghĩ đến nữa. Đó là những điều mà tôi xin lược kể về những việc làm tồi tệ của những kẻ đâm sau lưng chiến sĩ, giết hại anh em đồng đội. Cái hạng người hèn hạ, khiếp nhược, bợ đỡ, bán rẻ lương tâm. Cái hạng người chỉ biết mưu sự sống trên cái chết thê thảm của những người anh em của chúng ta. Hôm nay tôi xin ghi rõ lại vào những trang giấy những gì tai nghe, mắt thấy, để chúng ta, khả dĩ, suy gẫm sự đời, buồn cho nhân thế.



Xuân Ất Mão 1975 hầu hết chúng ta là những cựu chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị sa cơ thất thế. Với âm mưu đen tối của chính quyền cộng sản Việt Nam, chúng lùa tất cả những công chức, nhân viên, cán bộ và toàn bộ chúng ta vào những trại tù, mà bọn cộng sản Việt Nam gọi là “trại tập trung cải tạo”. Nếu có ai trong chúng ta, đã một lần ở trong trại tù của cộng sản, đều ít nhiều chi cũng nghe hoặc biết đến những hạng người “trở cờ”, “luồng gió bẻ măng”. Họ là những người chỉ biết luồng cúi và làm “ăn ten” cho cộng sản để được cái gọi là “lập công chuộc tội”. Tôi là một trong những nạn nhân của hạng người đầy ghê tởm này.



Vào một buổi sáng cuối đông năm 1976, thời gian này tôi ở trại 3 Kỳ Sơn, thuộc quận Tam Kỳ, tỉnh Quảng Tín. Với cuộc sống lam lũ, đúng là “khổ sai” hàng ngày. Tôi được một anh bạn tên là Nguyễn Văn Khánh cựu thiếu tá tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn địa phương quân ở Quảng Ngãi, kể cho tôi nghe là trên đường đi đại tiện, tình cờ anh nhặt được một mảnh giấy được viết dưới hình thức một bản văn báo cáo. Sau khi đọc xong anh cất kỹ và anh đã cho tôi xem. Nội dung bản văn báo cáo rằng: Anh Khánh là một người phản động, và dưới bản văn ký tên là Nguyễn Đ.... Cái tên Nguyễn Đ... này không lạ gì đối với anh em tù của ta ở trại Kỳ Sơn và Tiên Lãnh. Ông ta dáng người không lùn lắm nhưng có cặp mắt mà giờ này, tôi chẳng bao giờ quên được, nghĩa là cặp mắt toàn cả tròng trắng, ít thấy tròng đen, mặt thì xanh, luôn tái mét. Hạng người này, nếu ta không phải là thầy bói cũng đều nhận dạng được ông ta thuộc loại người hung ác, nham hiểm. Anh Nguyễn Văn Khanh tâm sự với tôi rằng, mối hận này anh sẽ mang theo xuống tận tuyền đài. Thật vậy, anh Khanh vô cùng hận, vô cùng tức giận ông Nguyễn Đ... này đến nỗi mà đôi mắt anh Khanh bị lòa đi, không còn trông rõ được nữa. Nếu nói cho đúng và quá tội nghiệp anh Khanh là đội mắt của anh ta bị mù vì quá sức căm hờn một người mà trước đây đã cùng anh khoác lên mình bộ đồ quân phục và đứng trong hàng ngũ của những chiến sĩ QL/VNCH. Những giòng trên đây là tôi nghe, mắt thấy. Tai tôi được nghe anh Khanh kể lại và thấy cái bản văn vô cùng tan nhẫn, hết sức quái ác này.



Bây giờ tôi xin kể về bản thân tôi. Chính tôi là một trong những nạn nhân của ông Nguyễn Đ... Đầu Xuân 1978, Tổng trại 3 Kỳ Sơn, nơi mà chúng chia ra làm nhiều trại: Trại 1, trại 2, trại 3 Kỳ Sơn v.v... để giam giữ anh em chúng ta, được lệnh cấp trên của bọn chúng là đốn sạch cây rừng ở Phú Ninh. Bọn Việt cộng đã đày ải anh em chúng ta, hành hạ anh em chúng ta cho đến tận xương tủy. Một sáng nọ, bọn chúng phân công từng toán nhỏ, tập họp anh em tù lại tại một ngọn đồi thuộc Phú Ninh để phân chia khu vực đón cây. Tôi đang đứng trong hàng bỗng dưng tôi bị té sấp xuống đất. Trong một chớp mắt tôi thấy “gô” cơm của tôi bị văng ra và tôi thì oẹ mửa, nước xanh, nước vàng lai láng. Có lẽ là bị ngộ gió ngộ máy gì đây, với lại cũng tại vì buổi sáng ăn không đủ no cho mấy. Suốt ngày hôm đó tôi vẫn bị đày đi làm lao động khổ sai. Chỉ một chiếc rìu đùi, hoặc một chiếc rựa cùn, dùng sức người nhiều hơn là dùng dụng cụ. Cứ vậy mà thều thào, ì à, ì ạch đốn cây cho qua ngày. Ôi là một ngày như mọi ngày quá sức ê chề, quá ư là khốn khổ. Nhưng tôi lại chịu khó ngậm đắng nuốt cay cho qua ngày đoạn tháng. Thế mà sau ngày lao động hôm đó, tôi lại về trại, tôi chưa kịp đi rửa tay, rửa mặt để chuẩn bị lãnh cơm thì ông Nguyễn Đ...tổ trưởng tổ lao động của tôi và cũng là người mà ban đêm tôi nằm ngủ sát bên cạnh. Có những lúc tôi thở dài vì ngao ngán sự đời, vì đau nhức trong người nên không thể nào  có giấc ngủ cho tròn được, thì tôi đều bị ông Nguyễn Đ...”lưu ý”.  Ông Đ...kêu giựt tôi lại và bảo: “Anh Thuận lên gặp “cán bộ” Tánh.”. Tên cán bộ Tánh này có một bàn tay sáu ngón, khác với người thường. Lúc tôi vừa mới đi vào cái chòi tranh của tên cán bộ Tánh thì thấy mặt hắn ta hằm hằm, đằng đằng sát khí, tay cầm khẩu AK 47 chằng mạnh khẩu súng xuống đất và tôi nghe tựa hồ như có một viên đạn chuẩn bị lên nòng. Thấy tôi, hắn liền hỏi ngay:



- Anh Thuận, anh cho tôi biết, ý đồ trốn trại và đồng bọn của anh hôm nay?”



Tôi không trả lời trực tiếp câu hỏi của hắn mà tôi nói tiếp bằng cách hỏi ngược lại ý của hắn rằng:



- Nếu cán bộ là tôi, cán bộ sẽ suy nghĩ như thế nào trong lúc mẹ già đang đợi, vợ trẻ đang trông và các con thơ đang chờ ngày mình trở về, thì giữa cái chết và cái sống, cán bộ nên chọn cái nào?



Thì té ra cách hỏi của tôi đối với tên ấy cũng chính là nhằm thức tỉnh cho hắn biết tôi có một người cùng màu áo, ông Nguyễn Đ...vì khiếp nhược và sợ chết quá mà đi báo cáo ẩu cho tôi là có ý đồ trốn trại hôm đó, nhưng thật ra sáng sớm hôm đó tôi bị trúng gió nên ngất xĩu, chứ không phải là tôi có ý đồ trốn trại chi cả. Cho nên trong một thoáng chốc, tên cán bộ đã nói với tôi:



- Anh Thuận, anh về nhận cơm đi.



Tôi lủi thủi đi về nhận cơm tối thì gặp ngay cặp mắt toàn cả tròng trắng của ông Nguyễn Đ... đang chăm chăm nhìn tôi. Ông ta đang theo dõi và trông chờ những gì đã xảy ra cho tôi. Nhưng may quá, người xưa có nói: “Ở hiền gặp lành” cho nên  tôi được tai qua nạn khỏi. Thế là Nguyễn Đ... đã không thành cái mộng gọi là “lập công chuộc tội” được. Vậy loại người như ông Nguyễn Đ...này không những đã làm cho tôi và anh Nguyễn Văn Khanh là những nạn nhân rất chi là cụ thể của ông ta mà còn làm cho hàng trăm anh em ta không cách nào tránh khỏi sự rình mò, nhòm ngó của tên Đ... hèn hạ này.



Ngoài ông Đ... ra còn có một số người tay sai, làm “ăn ten” trong tù nữa. Họ là những người đã vô tình hay cố ý xô đẩy không biết bao nhiêu mà kể đồng đội của chúng ta, bị đưa ra trước tòa án, hết sức bỉ ổi của chúng. Gọi là Tòa Án Nhân Dân từ Quảng Nam Đà Nẵng đến trại Tiên Lãnh vào khoảng tháng 5, tháng 6 năm 1980. Sau phiên tòa này, một anh hùng Trần Quang Trân của chúng ta đã bị bọn cộng sản xử tử. Một số anh em khác, kẻ thì bị kết án chung thân, người thì bị kêu án mười năm, bảy năm...Và cũng chính mắt tôi chứng kiến, tai tôi nghe rõ mồn một từng tiếng của anh Trần Quang Trân, khi tòa phán lịnh xử tử xong, chúng hỏi anh Trân: “Bây giờ anh có gì để nói không?” Anh Trân hỏi lại: “ Phải chăng đây là lời nói cuối cùng?”. Chúng đáp: “Vâng”. Anh Trân với đôi chân run run, đứng không vững vì vì bị cùm lâu ngày quá, mặt nhợt nhạt như màu tàu lá chuối non vì bị thiếu ăn, khát uống, nhưng bằng một giọng hùng hồn, anh Trân trả lời: “Rất tiếc tôi chưa làm tròn bổn phận của người trai nước Việt.” Và thật vậy, sau đó anh Trân bị bọn cộng sản đem ra xử bắn.



Được tin anh Trân bị giết, chúng tôi luôn luôn biết thương tưởng đến tình đồng đội, nghĩa anh em, nên chi rất bàng hoàng, đau đớn, ngậm ngùi, thương tiếc khôn nguôi. Ngoại trừ những kẻ đê hèn, sống trên cái chết của những người anh em, những lũ người này chúng ta không thể nào cho phép chúng xếp hàng đứng chung với chúng ta được.
Cổ nhân đã nói:



“Hùm chết để da.
Người ta chết để tiếng»



«Để tiếng» ở đây, đối với những hạng người này, là để tiếng xấu cho người đời sau ta thán bằng những ai oán, hờn căm không bao giờ nguôi được. Và tôi cũng xin được nhắc lại thêm một lần nữa lời của người bạn của tôi đã tâm sự với tôi ở phần đầu là : «Mối hận này, khi nào chết, tôi thề sẽ mang xuống tận tuyền đài.»



*



Gió xuân nhè nhẹ thổi và mưa Xuân lất phất bay, lòng tôi muốn trút bớt đi những ưu tư, phiền muộn. Tôi muốn nhớ về một kỷ niệm êm đềm và rất chi là đẹp vẻ tình người. Tôi muốn nói đến cái nghĩa cử cao đẹp của tình chiến hữu và cũng là tình bạn ở cùng một đơn vị của một thời xa xưa ấy. Tôi xin được nhắc đến quý danh anh bạn của tôi. Anh Đào Minh Châu, cựu trung úy thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong thời gian ở trại tù anh ta ở trong đội chuyên môn làm mộc. Một cái nghề mà bất đắc dĩ, đúng là trời ban, chứ ở ngoài đời tôi chưa hề thấy anh ta làm mộc bao giờ cả. Thường ngày như vậy, anh lợi dùng giờ giải lao, anh trồng bầu, trồng bí, hoặc trồng rau cải. Đến khi thu hoạch hoa trái được rồi, là anh nấu canh hoặc luộc rau để độn thêm vào phần ăn của mình. Không những giúp cho anh được no bụng mà anh còn lén lút, cứ mỗi trưa về hay tối đến là anh cho tôi một «gô» canh hoặc bầu, hoặc bí. Lúc nào không có canh thì có «gô» rau khoai lang hay là rau muống luộc để giúp cho tôi được ấm lòng.



Có một thời gian vắng bặt tin anh, tức là mỗi lúc chiều về, tối đến, tôi không còn có bát canh, gô rau nữa. Thì ra trại tù chuyển anh ta đi một nơi khác để làm mộc. Tôi còn nhớ trước khi anh đi, anh có tặng tôi một bộ cờ tướng bằng gỗ do chính anh chạm trỗ rất đẹp. Đó cũng là một tặng vật của anh dành cho tôi làm kỷ niệm sau này. Thế rồi từ khi vắng anh, mỗi bữa ăn của tôi không còn những lương thực do anh Châu tiếp tế nữa. Tôi lại phải tiếp tục đói và đói dài dài, đói cồn cào như cái của bao nhiêu anh em khác. Thời gian dần trôi, chúng tôi mỗi người mỗi ngã, bắt vô âm tín. Và đúng là quả đất tròn, tròn thật. Mùa Xuân năm 2005, tôi gặp lại được anh Đào Minh Châu ở trên đất Mỹ này. Do một sự tình cờ, trong một buổi lễ tốt nghiệp đại học tại thành phố Binhamton, tiểu bang New York, người con trai thứ của tôi có làm quen với một người bạn cùng tốt nghiệp hôm ấy, qua vài câu thăm hỏi, thì được được biết người bạn của con tôi là con trai trưởng của anh Châu. Sau đó chúng tôi liên lạc với nhau thì được biết anh Đào Minh Châu hiện nay cư ngụ tại thành phố Bronx, thuộc tiểu bang New York. Từ dạo ấy cho đến nay, hai gia đình chúng tôi thường tạo điều kiện để lui tới thăm nhau. Mới đây, nhân dịp anh Châu đưa út nữ của anh đến trường nhập học, trên đường đi, anh đã ghé đến thăm gia đình tôi. Lần này anh tâm sự với tôi là khi ở trong tù, có lần trại tù chuyển anh ra làm mộc nơi khác và có dịp trại cũ, anh đã dấu một gô cá đã kho sẵn để tặng tôi, nhưng khi đến nơi thì được biết tôi đã được ra trại rồi. Nghe tôi được ra trại về với gia đình, anh mừng ghê lắm, nhưng buồn là buồn không được tặng gô cá cho tôi. Nghe anh tâm sự như vậy, tôi liếc mắt nhìn anh thì thấy anh đầm đìa giọt lệ, khiến tôi cũng mủi lòng và khóc theo.

Ôi ! Mùa Xuân về gợi nhớ...



NT1 Lương Văn Thuận