Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2012 MỘT CHUYẾN VỀ THĂM

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

MỘT CHUYẾN VỀ THĂM

In PDF.

RỜI PHI TRƯỜNG SAN FRANCISCO
 
   Đoạn đường từ nhà tôi từ thành phố San José đến phi trường SanFrancisco, bình thường chỉ mất từ 45 đến 1giờ bằng xe hơi, nhưng để kịp chuyến bay lúc 1giờ 25 sáng chúng tôi đã rời nhà lúc 10 giờ tối, phòng mọi trục trặc dọc đường và trong lúc làm thủ tục check in.


   Kể từ sau vụ 911, việc kiểm soát an ninh tại các phi trường rất chặt chẽ. Hành khách phải qua thủ tục rà soát bằng máy, hành khách nối đuôi dài dằng dặc...Nhân viên an ninh cẩn trọng, cần mẫn làm nhiệm vụ...kiểm soát kỹ từ cái xách tay, những vật dụng bằng kim loại đều phải bỏ vào một cái khay bằng nhựa cho chạy qua máy, mọi người đều qua "cổng nhà trời", hai tay giơ cao, nhân viên với dụng cụ đặc biệt rà sát thân mình. Trước tôi là một người Mỹ, nhân viên rà mấy lần vẫn nghe tiếng reng của máy báo động, cuối cùng phát hiện ra anh là cựu chiến binh có giấy chứng thương và trong cơ thể còn mảnh đạn…


   Xong thủ tục, chúng tôi vào phòng đợi. Phòng đợi là một thế giới thu nhỏ đủ hạng người, đủ màu da, đủ mọi lứa tuổi, từ những trẻ con chạy nhảy vô tư, đến những anh chàng râu xồm bụng bự đăm chiêu, những thiếu nữ ăn mặc như đi dự dạ hội, những thanh niên giản dị trong chiếc quần sọt với đôi dép, những cụ già trên chiếc xe lăn, những cháu nhỏ còn bồng trên tay bố mẹ...


   Chiếc máy bay Boeing 747 của hãng hàng không China Airlines cất cánh đúng giờ lúc 01giờ25 phút sáng thứ sáu ngày 24 tháng 10-2010.
 
...Sau khi đã ổn định chỗ ngồi, tôi mới có dịp quan sát chung quanh và nhìn kỹ hơn về con tàu đang nắm giữ sinh mạng của mình và bao nhiêu hành khách khác.


   Chiếc tàu trang bị đã lỗi thời, cũ kỹ như một cô gái giang hồ quá thời xuân sắc, những tiếp viên hàng không nam nữ với những cử chỉ lịch sự một cách nghề nghiệp.


...Đa số hành khách trên chuyến bay này là người Đài Loan, số còn lại là nhiều quốc tịch khác nhau. Bên cạnh tôi là một thiếu phụ người Hoa khá trẻ, bà ta sinh sống ở San Francisco, hai cô con gái đang theo học tại UC Santa Cruz, nhưng gia đình còn ở Taipei nên mỗi năm bà ta về thăm ít nhất là một lần.


   Nhìn những tiếp viên bận rộn với công việc của họ, nhưng luôn luôn với nụ cười niềm nở trên môi, sốt sắng khi yêu cầu sự giúp đỡ, quả là họ được hướng dẫn nghiệp vụ một cách chu đáo!


    Đã đến giờ ăn, tôi chọn món cơm cho buổi ăn trưa (nhìn đồng hồ khoảng 3 giờ sáng tại Mỹ), bụng đói nên ăn khá ngon miệng, uống một ly rượu chát nhỏ, chừng hơn giờ sau tôi thấy khó chịu, như bị ngạt thở, mặt mày tái xanh, như có con gì ngọ nguậy trong cơ thể, buồn nôn...con trai tôi dẫn tôi vào toilet, sau hai lần như vậy và uống thêm mấy ly nước lạnh, tôi cảm thấy dễ chịu hơn...Tôi sợ dại lỡ mình “ngoẻo” lúc này thì sao đây?...không biết những người đi mây về gió hưởng thú yêu đương giữa không trung đạt sự khoái lạc thế nào, chứ qua lần này thì tôi tởn tới già! ...chập chờn trong giấc ngủ, tôi thấy mình đang sống lại những ngày thơ ấu, dưới mái nhà tranh một gian hai chái, bà ngoại tôi như một bà tiên dịu hiền, những khuôn mặt thân thương của Ba mẹ, mấy người em...mà mỗi người tôi có những kỷ niệm riêng tư sâu đậm, những khuôn mặt bạn bè cùng trang lứa:
 
"Vện, Kình, Thanh, Kế, Tùy, Tư
Bé, Đức, Tráng, Khởi, Tiêm, Chu...Vện, Kình."
 
   Đây là hai câu "vè" được “sáng tác” lúc chúng tôi đang còn học “lớp ba trường làng” Ngôi trường thân yêu đó trải qua thời gian nay không còn dấu vết!


   Lớp học của chúng tôi lúc đó chừng bốn chục mạng gồm cả nam lẫn nữ. Đó là tên của những người bạn cùng lớp, nhưng tài ghép tên của nhà thơ tí hon chỉ mức đó, nên đành bằng lòng với tác phẩm không trọn vẹn của mình!
 
...Tính lại, những người bạn học ngày xưa nay còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Có những người chưa bao giờ ra khỏi "lũy tre xanh", vẫn còn sống sót sau bao “mùa mưa nắng” như Chu, Triêm và Tùy. Tôi hy vọng sẽ tìm thăm lại họ như thăm lại chính tuổi thơ của mình.


   Một số khác không biết lưu lạc phương nào hay đã qua đời, vì trải qua nhiều biến động của một quê hương nhiều bất hạnh...một vài đứa nay định cư ở nước ngoài .


  Lớp học của chúng tôi lúc đó còn có những bạn gái, sau này là giai nhân một thời, đã làm xuyến xao bao trái tim những chàng trai trẻ: như Th.Th. hiện ở Oregon, T.ở Texas, H.ở Florida


...Giọng nói của nhân viên hàng không, kéo tôi về thực tại. Phi cơ đang giảm cao độ, sau mười mấy giờ bay. Qua ô cửa sổ phi cơ Taipei lấp lánh những ánh đèn. Cũng lạ, tôi không có được chút cảm xúc nào trong khi bà "bạn" bên cạnh không che dấu nổi những xúc động, mặc dù bà vẫn đi về hằng năm. Phải chăng đó là tình quê hương thiêng liêng đầy mầu nhiệm?


   Máy bay đáp xuống Taipei lúc 6 giờ sáng giờ địa phương.


   Rời máy bay, đoàn người lũ lượt vào toilet để giải quyết những việc cần thiết. Chúng tôi đến phòng chuyển tiếp, chiếc Airbus đưa chúng tôi đến chỗ Vietnam Airlines.
 
...Chúng tôi có 1 giờ 45 phút để di chuyển và làm thủ tục chuyển tàu.
 
   Chuyến bay khởi hành lúc 7 giờ 45 sáng từ Taipei về Sài gòn, đa số hành khách là người Việt, có nhiều bà mẹ trẻ Việt với những đứa con lai Tàu. Đây là những cô gái "đi lấy chồng xa" nay có dịp trở lại quê hương, trông họ có vẻ hạnh phúc với cuộc hôn nhân ngoại tộc, ăn diện, trang sức đầy người, trao đổi với nhau bằng những tiếng Tàu lơ lớ, số còn lại là một ít người ngoại quốc.


   Phía những hành khách đi Hà Nội cũng đông đúc không kém, bên cạnh những thanh niên ăn mặc bảnh chọe, rất mode, tay xách nặng những túi hàng ngoại như ruợu mạnh, thuốc lá...là những cụ bà đầu vấn khăn mỏ quạ, quần lĩnh...làm tôi chợt nhớ câu thơ của Nguyễn Bính, bất giác mỉm cười.
 
   Những nhân viên hàng không Việt Nam nữ trong chiếc áo dài màu đỏ chót với phù hiệu kỷ niệm "ngàn năm Thăng Long" nét mặt ánh mắt vẫn vô cảm như lần tôi về thăm 9 năm trước.

   Màu đỏ cũng có cái đẹp riêng của nó, nhưng sao tôi vẫn thấy yêu thích cái áo màu xanh da trời của các cô tiếp viên Hàng Không VN. trước đây hơn.
 
  Chiếc Hoa Sen của Vietnam Airlines chở chừng hai trăm hành khách, được trang bị tối tân, sạch sẽ, trước mỗi ghế ngồi có một màn ảnh nhỏ để khách tùy nghi giải trí theo chương trình có sẵn.


   Sau phần hướng dẫn cho hành khách cách xử dụng những thiết bị cần thiết khi hữu sự mà hãng Hàng Không nào cũng làm, chúng tôi được mời dùng buổi sáng.


... Qua khung của sổ máy bay, bình minh đang chiếu những tia nắng đầu tiên trong ngày.


Không biết có phải ly cà phê đã làm tôi trở nên hưng phấn hay là cảm giác mỗi phút giây thêm gần được quê hương làm tôi trở nên rạo rực?


   Con trai tôi, đây là lần đầu tiên cháu trở về Việt Nam. Lúc rời nước cháu mới lên bốn nay vừa đúng 23 tuổi vào tháng trước. Trước lúc đi định cư, trong buổi tiệc mừng thọ song thân tôi, ba mẹ tôi đã căn dặn "Ly Hương, bất ly Tổ", lời di huấn đó, tôi vẫn canh cánh bên lòng.


Trong thâm tâm tôi vẫn nuôi rất nhiều hy vọng là sau chuyến đi thăm này sẽ để lại một dấu ấn tốt đẹp trong lòng đứa con trai duy nhất của tôi, mà các chị của cháu nay vì hoàn cảnh gia đình không thể về thăm được.


   Tôi hỏi cháu "con cảm thấy thế nào?" cháu lắc đầu không trả lời.


   Bà xã tôi không tỏ vẻ xúc động nhiều như chuyến về thăm lần đầu, nhưng cũng không dấu được sự nôn nao sắp gặp lại những người thân yêu đang chờ đón.



   Không thấy phần khai báo hải quan, hỏi ra thì thủ tục này mới được bãi bỏ.


Máy bay vào không phận Việt Nam, đã trông thấy màu nước biển xanh ôm lấy dãi cát trắng phau ngoằn ngoèo xa xa .Ôi quê hương, biển trời Tổ quốc quả là tuyệt đẹp... thật đau lòng khi nghĩ đến một phần đất, biển của ông cha để lại đang bị dâng hiến cho Tàu cộng. Bên dưới, những khu rừng, những cánh đồng, những khối nhà, những con đường trông như những món đồ chơi ... máy bay càng đến gần thì mọi người càng tỏ ra xúc động...tiếng loa nhắc nhở vấn đề an toàn khi máy bay sắp đáp vang lên nhưng cũng không ngản cản được sự chộn rộn, nhốn nháo của nhiều người .
 
   Phi cơ lượn vòng trước khi hạ cánh, càng xuống thấp, mọi vật như cao vút lên. Tôi nhận ra con sông Sài Gòn ngoằn ngoèo xuôi ra biển, đã là nhân chứng cho bao chuyện bể dâu.
 
SÀI GÒN PHÚT ĐẦU TIÊN.
 
   Máy bay ngừng hẳn, từ phía sau xe bốc hành lý và chiếc bus đón khách chạy lại.
   Hành khách xuống bằng cầu thang ở cửa trước và phía sau. Những tiếp viên hàng không đứng bên để chào từ giã khách theo thông lệ.


   Bước ra khỏi tàu là cái nóng đập ngay vào mặt. Chúng tôi lên chiếc Airbus đậu sẵn cách máy bay chừng mươi mét.
...Phi trường quốc tế Tân sơn Nhất dù được xây dựng "đàng hoàn hơn, to đẹp hơn" nhưng chưa biết đến bao giờ mới hoàn chỉnh!


   Sau khi lấy hành lý, chúng tôi đẩy xe qua phòng kiểm soát và thị thực giấy tờ, vẫn những khuôn mặt lạnh lùng sau quày thủ tục "đầu tiên" không làm tôi ngỡ ngàng mọi việc “vũ như cẩn”
 
   Liên lạc với người cháu, được cho biết là đã có xe thuê sẵn đậu bên ngoài và mấy chị em từ Đà Lạt về Sài gòn hôm trước, đang chờ đón.


   Chúng tôi thực sự vui mừng và cảm động gặp lại những người thân sau gần mười năm xa cách, nhất là các cháu bây giờ đã trưởng thành, có cháu đã có những thành công đáng kể trong cuộc sống. Con trai tôi tỏ ra rất thích thú và vui vẻ đón nhận những tình cảm không che dấu của những bà dì và các cô cậu em họ của mình.


   Nhìn đồng hồ phi trường: 10 giờ 44 phút sáng thứ bảy ngày 25 tháng mười năm 2010, chúng tôi thực sự đang ở trên quê hương những giây phút đầu tiên, khởi đầu cho những ngày "hành hương Quê Mẹ"
 
   Sài gòn đón chào những người con xa quê huơng trở về bằng cái nóng rát da và những tiếng ồn ào của sinh hoạt chợ búa.


   Những chiếc taxi tập nập đến rồi vội vàng đi, vì có hai chuyến bay đáp cùng lúc, mỗi chiếc xe ra, vào phải đóng lệ phí 15 ngàn (tiền Việt Nam) cho trạm kiểm soát ở cổng,  ban đầu tôi chưa hiểu nghĩa mấy chữ "15 ngàn, xin mời qua", sau hỏi ra mới biết.


   Ra khỏi cổng phi trường,cái đầu tiên gây ấn tượng mạnh là tiếng còi và những dòng xe cộ, một bức tranh hết sức sống động đầy màu sắc, âm thanh, con người... Ở đây người ta theo một trật tự riêng: xe máy chạy lẫn với ô tô, xe đạp, người đi bộ...ngược chiều, đâm thẳng, xiên hông, luồn lách, qua mặt, vượt lên...quẹo trái, bẻ phải...xử dụng cả vĩa hè, lề đường.. Ở những giao lộ ngã tư, ngã năm, ngã sáu , ngã bảy... là cả một sự nhịp nhàng kỳ lạ, diễn ra theo một thứ tự rất vô trật tự đến chóng mặt,  thể hiện bản năng tự tồn của người tiền sử, như được điều khiển bởi bàn tay thần diệu của vô hình nào đó đã làm con trai tôi há mồm kinh ngạc, và tôi thì nhiều lần tim muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.


   Anh tài xế nhìn chúng tôi mỉm cười như thương hại!
 
 Nhớ ngày đầu tiên mới đến Cali, lúc gia đình tôi được người bảo trợ đón từ phi trường San Francico về nhà, nhìn dòng xe cộ như nước lũ cuồn cuộn, không dứt trên xa lộ, tôi tự nhủ: "có lẽ mình không bao giờ dám đi bộ ra đường chứ đừng nói đến chuyện lái xe!". Nhưng rồi mọi chuyện đâu cũng vào đó! Đã gần hai mươi năm rồi còn gì!


   Nhưng dù sao cũng phải công nhận việc lái xe hơi ở Mỹ dễ hơn nhiều so ở đây. Xin bái phục tài lái xe của dân taxi Sài gòn, phải thường xuyên cảnh giác, đối phó với vô số ổ voi trên đường, những dòng thác xe cộ sẵn sàng đâm bổ vào mình, những "xa tặc" chuyên nghề bẻ kiến chiếu hậu và những tia súng đo vận tốc của cảnh sát giao thông chực chờ trong hẽm.
 
Sau chặng đường 17 giờ bay cộng với cái nắng nóng của Sài Gòn, những hồi còi liên tục, những dòng xe cộ và bụi bặm...tôi thật sự mệt mỏi, muốn tìm một giấc ngủ. Nhưng làm sao chúng tôi chối từ được những tấm lòng nồng nhiệt đầy thương mến của những người thân! Một bữa ăn trưa nóng sốt do những bàn tay khéo léo và những tấm lòng đôn hậu đang chờ đợi.


Khi cất xong hành lý, dội mấy gáo nước lạnh để lấy lại sự tỉnh táo, chúng tôi dùng trưa và trả lời những câu hỏi tưởng như không bao giờ dứt.


   Theo dự tính, chúng tôi lưu lại Sài gòn mấy hôm để giải quyết một số công việc sau đó về Huế chừng hai tuần, một tuần đi thăm Đà Lạt, tuần chót trở lại Sài gòn trước khi về Mỹ.



   Hôm sau là chủ nhật theo gợi ý của  cô cháu - gọi vợ tôi bằng dì ruột - từ hồi nhỏ các cháu vẫn quen gọi tôi là cậu thay bằng dượng.


   "Cậu Dì và anh B. nên may một ít áo quần và mua sắm ít đồ dùng vì ở đây giá rẽ hơn bên đó, hôm nay tụi cháu sẽ phục vụ cậu dì."


   Quả là đúng ý bà xã tôi, vì cả mấy tuần trước khi đi, các con tôi mỗi đứa đã lên một danh sách: "mẹ nhớ mua cho con cái nầy, cái nầy... cho các cháu cái nầy cái nầy.." Vậy là sau khi điểm tâm xong, đoàn Honda của chúng tôi trực chỉ chợ An Đông.


   Tôi có cái tật xấu là không bao giờ chịu đi shopping với vợ con, "thà nhận hình phạt ngủ riêng còn sướng hơn!” Tôi vẫn thường nói đùa như vậy với vợ con.


Nhưng lần nầy tôi lại vui vẻ nghe theo, dù đầu phải đội “cái nón bảo hộ” như cái cối đá dưới cái nắng nóng và len lách giữa dòng xe cộ của Sài gòn. Thâm tâm tôi cũng muốn làm quen và tìm hiểu và Sài gòn thay đổi như thế nào sau ngày "định hướng"


   Các cháu tôi từ Đà Lạt về Sài gòn học Đại học, kiếm được việc làm rồi lập nghiệp luôn ở đây kể từ sau thời kỳ mở cửa.  Đứa trước kéo đứa sau, ban đầu rất gian nan, nay đã tạo dựng được chút cơ ngơi. Không biết dân Sài gòn trước năm 1975 còn lại bao nhiêu phần trăm, nhưng chắc chắn hiện nay đa số dân Sài Gòn gồm đủ mọi thành phần từ khắp mọi miền đất nước tụ về.


   Sài gòn xô bồ hỗn tạp cũng đấy, Sài gòn trẻ trung sáng tạo cũng đấy, là một thành phố đầy tiềm năng và khát vọng vươn tới tương lai.



...Sau khi mua sắm những thứ dự trù, rời chợ An Đông, chúng tôi ghé lại Siêu thị của Thành phố, gởi xe xong chúng tôi đi một vòng cho biết.



So với những của hàng như Macy's, Old Navy, Target, Mevyn... thì qui mô nhỏ hơn, hàng hóa kém về cả chất lẫn lượng, nhưng khách khứa lại rất đông.


   Qua loa phóng thanh chúng tôi nghe những lời thông báo: "bây giờ là giờ cao điểm, xin bà con hãy cẩn thận về tiền bạc, xách ví..."


   Tôi chọn mua được mấy cái quần lỡ để dùng tạm trong thời gian ở đây, vì quần dài không có đất dụng võ trong cái thời tiết của Sàigòn mùa này.


Bà xã tôi cũng chọn được những bộ bà ba cần thiết, việc này đã xảy ra chuyện ngộ nghĩnh buồn cười sẽ đề cập phần sau.
 
   Trong khi chờ đợi bà xã trả tiền, tôi đi restroom, không ngờ khi đi ra cửa người nữ lao công hỏi tiền, tôi ú ớ vì không có sẵn tiền VN. Phải nói khó để khất lại rồi vội vàng chạy tìm vợ xin hai ngàn đem trả, sự xui xẻo vẫn chưa buông tha, lúc lấy xe cái mũ bảo hộ treo nơi xe biến mất, hỏi người giữ xe, họ làm hiệu không biết, kiện ai bây giờ? Tôi định nói cháu chạy đi mua cho tôi cái mũ khác, để tránh khỏi bị công an giao thông làm khó, giá tiền mua cái mũ loại "đối phó với công an" tức là loại "dỗm" thì rẻ hơn rất nhiều so với tiền để mua sự "thông cảm" của cớm giao thông. Nhưng cô cháu "lì lợm" của tôi nói như đinh đóng cột: "không sao cậu, giờ này là buổi trưa, tụi nó đi nhậu hết rồi, con chở cậu về tới nhà bảo đảm, vô tư!". Chỉ khổ nỗi cái đầu hói của tôi chịu nắng gió suốt hơn một tiếng đồng hồ trên những con đường ngoằn ngoèo mà chỉ những kẻ "thổ công" mới biết. Mà tôi nghĩ mình cũng dại, giá có tờ báo, cuốn sách hay cái túi xách che đầu thì đâu đến nỗi da mặt bị bỏng rát và đỏ như tôm luộc suốt cả tuần sau!



   Sau khi nghỉ ngơi, bà xã tôi đem mấy bộ áo quần mua hồi sáng đem khoe, nào rẻ, nào đẹp, nhưng khi mặc lại - bả đã thử trước khi quyết định mua - thì mặc không vô, dù còn thiếu mấy pounds bà xã tôi mới đạt con số100. Chỉ tội nghiệp mấy đứa cháu nhiệt tình đầy mình : "Dì để tụi con đem đi đổi ngay", thế là hai đứa cháu đầu đội mũ bảo hộ, miệng bịt khẩu trang, tay mang găng ...xông pha vào chốn lửa đạn quyết đem công lý về cho bà dì. Hơn hai tiếng sau các cháu mang về một đống chiếm lợi phẩm là mấy thùng mì ăn liền, mấy gói bột ngọt, mấy chai xì dầu ... để dùng vào việc bếp núc... vì "nói chi, họ cũng không chịu đổi, họ ép phải lấy các thứ ni để trừ vào tiền mấy bộ quần áo". Vậy là bà xã tôi đành phải cười...gượng!


   Cả tuần, trừ buổi chiều thứ bảy và ngày chủ nhật ra, các cháu bận rộn công việc bán buôn và đi làm, ngay hôm sau, chúng tôi đã cảm nhận ra điều này, thấy các cháu bận bịu vì sự hiện diện của chúng tôi, chúng tôi hết sức áy náy, mặc dù các cháu đã thu xếp thật tế nhị nhờ mẹ - em gái kế bà xã tôi- từ Đà Lạt về giúp các cháu trong những ngày chúng tôi "tạm trú". Để giảm nhẹ việc nội trợ, tôi đề nghị những món ăn thật đơn giản và mua thêm thức ăn ngoài. Món ăn đầu tiên của ngày hôm sau là món "cơm hến" tại Sàigòn do "bà cụ chính gốc người Huế bán"- theo lời đứa cháu- Quả là ngon danh bất hư truyền.


Mường Mán -Trần văn Quảng

Nghe tôi khen ruốc ngon khi thêm chút ruốc vào món cơm hến, thì cô cháu dâu nhanh nhẩu: "Cậu, ở đây có Quán Ruốc, bán toàn món ăn Huế, do một người Huế làm chủ, cơ quan con hay đặt tiệc ở đây, vì sếp của con cũng người Huế, hôm nào tụi con mời cậu dì thưởng thức món ăn ở quán Ruốc". Câu nói của cháu, làm tôi nhớ lại lúc còn ở San José bạn tôi cũng đã nhắc tên quán Ruốc vì chủ nhân của nó là bạn học của hai chúng tôi thời còn học trung học ở Huế, Mường Mán -Trần văn Quảng - người An Truyền là cựu Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, khối Chiến Tranh Chính Trị
 Sư Đoàn 1 Bộ Binh, đi tù sau 75, không đi định cư, nay là chủ nhân quán Ruốc độc đáo này!


Không ngờ cháu lại là khách quen, tôi không hứa chỉ nói "nếu lần sau vào Sài gòn còn thì giờ, chúng ta sẽ đến đó".


Chúng tôi nhờ người cháu lấy vé vào ngày thứ ba  tuần sau để về Huế.
 


NT2 Nguyễn Hữu Tư