Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2012 BIỂN ĐÔNG CUỒNG NỘ SÓNG

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

BIỂN ĐÔNG CUỒNG NỘ SÓNG

In PDF.



Sự hung hăng ngang ngược của chính quyền Bắc Kinh trong thời gian vừa qua đã gây quan ngại và phẫn nộ trong cộng đồng thế giới nhất là tại các nước thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương. Sóng nước biển Đông lại thêm một lần nữa sục sôi trong cuồng nộ, như điềm báo gở cho cơn điạ chấn, phong ba đang ẩn hiện, chực chờ trước mắt!



Trong suốt năm 2010, châu Á Thái Bình Dương nổi lên như một điểm nóng, với những va chạm xảy ra trên biển giữa Trung Quốc với Nhật Bản và các nước thành viên ASEAN như Việt Nam, Phillipines, và Malaysia…Sự căng thẳng dâng cao sau vụ chiến hạm  Cheonan của Nam Hàn bị Bắc Hàn đánh chìm trong vùng lãnh hải đang tranh chấp giữa hai nước, với hàng loạt những cuộc tập trận trên biển để phô diễn sức mạnh quân sự của cả  hai bên: Trung Quốc,  Nhật Bản, Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên.



Tháng Bảy năm 2010, tại hội nghị an ninh khu vực Đông Nam Á mở rộng (ARF)  tổ chức tại Hà Nôị, ngoại trưởng Mỹ, Harry Clinton đã lên tiếng tái khẳng định lập trường bất di bất dịch của Hoa Kỳ về vấn đề tự do lưu thông  hàng hải trên biển Đông, một trục lộ giao thông huyết mạch của các quốc gia Đông Nam Á, Đông Bắc Á, cũng như của toàn thế giới ( với hơn  60%  tổng số lượng hàng hoá, nguyên- nhiên liệu trên thế giới được vận chuyển qua vùng biển mênh mông này), và việc giải quyết một cách hòa bình, trên căn bản đa phương các xung đột về lãnh thổ trong khu vực giữa các bên , là mối quan tâm chính yếu của Hoa Kỳ, vì có liên hệ mật thiết đến các  lợi ích quốc gia quan yếu của nước Mỹ.



Trong lúc đó tại các diễn đàn an ninh khu vực, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, Robert Gates, cũng đã lên tiếng tái xác nhận cam kết thực hiện những nghĩa vụ của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ sự tự do lưu thông hàng hải, duy trì an ninh, ổn định cần yếu cho sự phát triền trong khu vực. Trước những phản ứng mạnh mẽ của Hoa Kỳ và các nước thuộc hiệp hội Đông Nam Á, giới lãnh đạo tại Trung Nam Hải đã tạm lùi bước, hậm hực đợi chờ cơ hội mới! Nam Hải nhờ đó được tạm thời sóng lặng, biển êm trong cái yên tĩnh ngột ngạt bất thường, như đang đợi chờ những cơn giông bão phủ phàng, vùi dập khác!


Hơn sáu tháng chờ đợi có lẽ là một khoảng thời gian quá dài cho một Trung Hoa đang thôi thúc, nung nấu trong ngọn lửa cuồng vọng bành trướng bá quyền để làm chủ thế giới! Ngày 2 tháng Ba năm 2011, các tàu tuần tiễu của Trung Quốc đang hoạt động trái phép trong khu vực quần đảo Kalayaan thuộc vùng lãnh hải của Philippines, đã ngang nhiên áp sát một tàu thăm dò dầu khí của Phi, và ra lịnh cho tàu nầy phải lập tức rời vùng. Đầu tháng Năm, 2011, Trung Quốc lại đơn phương áp đặt lịnh cấm đánh bắt cá trong vòng ba tháng tại vùng biển Đông của Việt Nam, viện lý do để bảo vệ nguồn cá đang phát triển, nhưng thưc chất là để ngư dân Trung Quốc có cơ hội vơ vét hải sản trong những ngư trường truyền thống của ngư phủ Việt Nam! Ngày 26 tháng Năm, 2011, ba tàu hải giám của Trung Quốc đã bám sát tàu khảo sát và thăm dò dầu khí Bình Minh, thuộc Tổng Công Ty Dầu Khí Việt Nam, đang hoạt động sâu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, cách đảo Hải Nam gần cả ngàn cây số, ra lịnh cho tàu phải rời vùng họat động sau khi cố tình cắt đứt đoạn cáp ngầm để thăm dò địa chấn của con tàu! Hai tuần lễ sau đó, các tàu đánh cá và hải giám Trung Hoa lại quấy phá và cản trở hoạt  động của tàu thăm dò điạ chấn Viking 2, cũng thuộc Tổng Công Ty Dầu Khí Việt Nam, đang thực hiện việc khảo sát điạ chấn ngay trong vùng thềm lục địa Việt Nam!


 Trước  sự hành xử ngang ngược, và thái độ áp chế thái quá của gìới thẩm quyền Trung Hoa, các quốc gia thuộc khối ASEAN (đang tranh chấp về lãnh thổ với Trung Quốc) đã có những phản ứng rất quyết liệt. Hải quân Việt Nam đã thực hiện một cuộc diễn tập bắn đạn thật lần đầu tiên tại vùng biển miền trung bộ, đối diện với vùng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đã đánh chiếm vào tháng Giêng năm 1974 (sau một trận hải chiến đẫm máu  với hải quân miền Nam Việt Nam). Ngay cả Phi Luật Tân, một nước có truyền thống hiếu hòa, cũng đã phản ứng rất cứng rắn qua việc điều chiến hạm tới tuần tiễu vùng biển tranh chấp, và cho nhổ bỏ các cọc mốc do người Trung Quốc cắm bất hợp pháp tại các vùng đảo san hô của Phi. Thậm chí quốc hội nước nầy còn thông qua một đạo luật mới đổi tên Nam Hải thành biển tây Phi Luật Tân! Riêng Malaysia đã xử dụng cả tàu chiến lẫn phi cơ chiến đấu để rượt đuổi các tàu hải giám-ngư chính Trung Hoa xâm nhập bất hợp pháp vào vùng biển Mã Lai.  Và gần đây nhất, hải quân các nước Indonesia,  Philippines, Việt Nam đã có những cuộc tập trận phối hợp với các chiến hạm của đệ thất hạm đội Hoa Kỳ tại vùng biển Đông đang tranh chấp với Trung Hoa; ngay cả Nhật Bản và Úc cũng vừa tham dự một cuộc diễn tập với hải quân Hoa Kỳ lần đầu tiên tại vùng Nam Hải, như một biểu lộ cho sự quyết tâm đoàn kết chống lại mọi sự ‘ Hán hoá’ vùng biển quốc tế  trọng yếu nầy!


Đứng về phương diện địa dư chiến lược, Nam Hải có một vị trí vô cùng quan trong đối với Trung Hoa. Theo quan điểm về phòng thủ và mở rộng phạm vi ảnh hưởng quyền lực, làm chủ Nam Hải sẽ giúp Bắc Kinh  mở rộng vòng đai an toàn của mình từ vùng cận duyên ra tới tận các chuỗi hải đảo thuộc tuyến một và tuyến hai ( the first and second island chains); đặt Nhật Bản, Đài Loan, và Nam Hàn dưới áp lực nặng nề về kinh tế của Hoa Lục, do việc khống chế các tuyến giao thông hàng hải huyết mạch qua biển Đông mà các quốc gia nầy hoàn toàn lệ thuộc vào để sống còn! Khống chế Nam Hải sẽ giúp hải quân Trung Quốc vươn được tới tận vùng eo biển chiến lược Malacca, nằm giữa Malaysia-Singapore và Indonesia, yết hầu giao thông trọng yếu giữa các quốc gia vùng Đông Bắc Á và Trung Đông qua ngả  Ấn Độ Dương. Việc phát triển và canh tân hoá lực lượng hải quân trong những năm vừa qua đã giúp Trung Quốc gần như có đầy  đủ năng lực  để bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải tối quan trọng cho nền kinh tế nặng về sản xuất xuất khẩu, và tiêu thụ nguyên- nhiên liệu của Hoa Lục; đồng thời khóa chặt cửa ngõ  vào vùng tây bộ Thái Bình Dương của hải quân Ấn Độ, trung hòa một mối đe dọa truyền thống cho vùng duyên hải và vùng biển quanh Trung Hoa (Eurasia Review). Khống chế được biển Đông sẽ tạo được một áp lực về quân sự thường xuyên lên đảo quốc Đài Loan cũng như các quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á mà Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Singapore... là những nước sẽ phải gánh chịu những áp lực nặng nề nhất! Cộng thêm vào đó là  áp lực về kinh tế mà Bắc Kinh đã xử dụng để khuynh đảo nền kinh tế chính trị của các lân bang nầy ( trong bối cảnh mà Hoa Kỳ đang suy yếu sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chánh toàn cầu năm 2008 chưa hồi phục được!), chắc chắn Trung Nam Hải, về phương diện điạ dư chính trị, sẽ  có thể  biến vùng châu Á Thái Bình Dương, môt địa bàn chiến lược trọng yếu cho nền an ninh thế giới, thành một khu vực do Trung Quốc khống chế và chỉ đạo, tái lập một tân đế chế phương Đông hùng mạnh  mà các nước láng giềng vệ tinh ngày nay chính là các nước chư hầu hàng ngàn năm về trước đã  phải chịu khuất  phục và triều cống  Thiên Triều !


Về phương diện kinh tế, biển Đông có một giá trị rất lớn đối với Trung Hoa. Vùng biển bạt ngàn nầy là một nguồn cung cấp hải sản khá lớn, chiếm đến 10% tổng sản lượng cá đánh bắt hàng năm của thế giới. Trong tình trạng khan hiếm lương thực hiện nay của thế giới, nguồn hải sản dồi dào của biển Đông sẽ là một giải pháp tối ưu cho vấn nạn thiếu thốn thưc phẩm của người dân Trung Hoa.


Ngoài vấn đề hải sản của biển Đông ra, môt nguồn lợi kinh tế mà Trung Quốc đang vô cùng đói khát, gần như không hề thỏa mãn, đó chính là nguồn dầu khí và khoáng sản thiên nhiên kết tụ dưới đáy biển Đông. Theo ước tính của các chuyên gia dầu khí Trung Hoa thì trữ lượng dầu khí tại Nam Hải mà phần lớn tập trung tại vùng quần đảo Trường Sa của Việt Nam, không thua kém gì trữ lượng dầu khí của Ả Rập Saudi.  Trong tình hình thế giới với nhiều biến động ở những quốc gia sản xuất dầu mỏ tại Phi Châu và Trung Đông, Trung Quốc đang là quốc gia phải gánh chiụ rất nhiều áp lực, do sự hạn chế của nguồn dầu thô cung ứng, tối cần thiết cho nhu cầu sản xuất của nền kinh tế lệ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu như  hiện nay của Trung Hoa.Có lẽ đó là tác nhân chính cho quyết tâm tiếm đoạt vùng biển Đông bằng mọi giá của giới lãnh đạo Trung Nam Hải?!


 Việc bất chấp những luật lệ quốc tế qui định về lãnh hải và thềm lục địa của Công Ứơc về Luật Biển (UNCLOS) của Liên Hiêp Quốc, và sự cố tình giải thích sai lạc những qui định của công ước nầy để nghiêng phần lợi về cho Trung Quốc ( trong những tranh chấp lãnh thổ với các quốc gia láng giềng), nhất là tấm họa đồ ‘khét tiếng’, gồm chín đoạn tạo thành một chữ U lưỡi bò, bao phủ hầu hết vùng Nam Hải mà Trung Quốc đã đệ trình lên Ủy Ban đặc trách về những giới hạn của thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc năm 2009        ( UN Commission on the Limits of the Continental Shelf), đã gây xôn xao,phẫn nộ trong  dư luận tại các nước  Đông Nam Á , nơi đang có những tranh chấp về lãnh hải với Trung Hoa ( cũng như tại các quốc gia  Đông Á: Nhật Bản, Nam Hàn, và trên toàn thế giới!), vì có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền an ninh-kinh tế-chính trị, hay sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia nầy.


Trung Quốc tuyên bố chủ quyền bất khả tranh tụng (indisputable sovereignty) trên hầu hết biển Đông và tất cả các quần đảo trong phạm vi khu vực nầy, thuần túy chỉ dựa trên những chứng cớ lịch sử rất mù mờ có từ những triều đại phong kiến Trung Hoa xa xưa, hoàn toàn không có cơ sở pháp lý theo tiêu chuẩn luật pháp quốc tế hiện hành (đòi hỏi phải có những bằng chứng cụ thể, rõ ràng). Quần đảo Trường Sa (The Spratly Islands) của Việt Nam là một nhóm gồm khoảng 100  bờ đá và đảo nhỏ, với tổng diện tích chừng 5 km vuông, nhưng trải rộng hơn 400,000 cây số vuông  trên mặt biển,(nằm giữa Việt Nam và Philippines, cách xa Trung Quốc đến cả ngàn hải lý!). Trường Sa có một tầm vóc quan trọng đối với khu vực vì đươc xem là nơi có một trữ lượng dầu khí và một nguồn hải sản rất lớn. Một yếu tố khác không kém phần quan trọng là yếu tố pháp lý về chủ quyền: bất cứ quốc gia nào có được chủ quyền hợp pháp trên quần đảo nầy sẽ có thể hưởng được một vùng đặc quyền kinh tế (Extended EEZ) mở rộng có ảnh hưởng đến quyền lợi đánh bắt hải sản và các tuyến đường giao thương trên biển? Có lẽ vì những lý do nêu trên mà Trung Quốc đã ngang nhiên tuyên bố Trường Sa là một phần lãnh thổ từ ngàn xưa của tổ tiên họ để lại bất chấp mọi lý lẽ và lề luật quốc tế hiện hành!!


Cách lý giải của Trung Quốc cho những đòi hỏi về chủ quyền của mình hoàn toàn đi ngược lại các qui định về lãnh hải và thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc.  Theo công ước về luật biển, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của một quốc gia duyên hải (littoral states) là khu vực tính từ đường đáy chuẩn (baseline) thẳng vạch quanh vùng duyên hải của quốc gia đó, kéo dài ra phía đại dương khoảng 200 hải lý. Các quốc gia có toàn quyền xử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, khoáng-hải sản trong khu vực đặc quyền kinh tế của mình. Trong khi đó, các chuyên gia về luật biển của Trung Quốc có lẽ đã nghĩ rằng với 9 bờ đá mà họ chiếm được ở quần đảo Trường Sa, theo quốc tế công pháp, chính là các ‘hải đảo’, do đó được hưởng trọn quyền lợi của vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ phạm vi các đảo đó ra?! Thực tế thì đây chỉ là cách giải thích có phần tham lam hoang tưởng vì để được gọi là đảo, theo luật lệ quốc tế hiện hành, ít nhất phải hội đủ các điều kiện: con người có thể sinh sống được và có phần hành về kinh tế, nhưng các bờ đá mà Trung Quốc chiếm giữ ở Trường Sa thì hoàn toàn không!! (Carl Thayer--Defense News) Tham vọng bành trướng bá quyền của Bắc Kinh đã thể hiện rõ rệt qua việc gia tăng kinh phí quốc phòng hàng năm (tăng đều 10% mỗi năm trong thời hạn 20 năm) để phát triển và hiện đại hóa quân đội. Với con số choáng ngợp gần 100 tỷ đô la cho ngân sách quốc phòng năm 2011 (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), đầu tư chủ yếu cho việc cải tiến, nâng cao tiềm lực và hiệu năng tác chiến (lên tầm vóc quốc tế) của các quân binh chủng Hải-Lục-Không Quân của Trung Quốc, nhất là việc nghiên cứu và sản xuất các loại hoả tiển địa- không, địa-địa, địa-hải tầm trung có độ chính xác và sức công phá cao, các tiềm thủy đỉnh, khu trục hạm, và các máy bay chiến đấu tối tân … trang bị vũ khí, khí tài hiện đại nhất, nhằm phục vụ cho mục tiêu mở rộng vùng ảnh hưởng quyền lực của Trung Hoa, bảo vệ lãnh hải, không phận, cùng các tuyến giao thương hàng hải huyết mạch, quan trọng cho sự sống còn của nền kinh tế-chính trị Trung Quốc.


Để đối phó với lực lượng quân sự hùng hậu của Hoa Kỳ và các nước đồng minh tại vùng châu Á-Thái Bình Dương, Trung Quốc đã áp dụng một hình thái chiến tranh trong binh pháp cổ điển của Trung Hoa, được mệnh danh “chiến-tranh-bất-cân-xứng” (Asymmetric warfare), hay còn gọi là ‘nghệ  thuật quân sự lấy đoản chế trường--lấy yếu chống mạnh’,  đặt trọng tâm vào việc trì hoãn, ngăn chận và phá vỡ mọi sự tiếp cận chiến trường của các lực lượng can thiệp nhanh của Hoa Kỳ và đồng minh trong những tình huống được tăng phái khẩn cấp để yểm trợ giải quyết các xung đột vũ trang bùng phát trong khu vực (A2/AD: anti-access/area denial), cũng như buộc Hoa Kỳ phải trả một giá rất đắt nếu quyết tâm can thiệp vào những xung đột nầy. Trong hai thập niên vừa qua, Trung Quốc đã chú trọng đầu tư vào các lĩnh vưc chiến tranh tin học (cyber warfare), chiến tranh không gian (space warfare) với các vũ khí chống vệ tinh (ASAT)…. nhằm triệt hạ những hệ thống chỉ huy, tình báo, thám thính và thông tin liên lạc đầu não (C4ISR: Command & Control, Computers, Communications, Intelligence, Surveillance and Reconnaisance), tối cần yếu cho việc chỉ đạo, điều khiển các lực lượng quân sự tác chiến của Hoa Kỳ trên các chiến trường. Với sự phối trí thử nghiệm bước đầu loại hỏa tiễn đạn đạo tầm trung chống chiến hạm DF21D cho các đơn vị thuộc Quân Đoàn Pháo Chiến Lược số 2 (trang bị các hoả tiễn nguyên tử liên lục điạ tầm trung và tầm xa), Trung Quốc hiện nay đã có khả năng đánh đắm các hàng không mẫu hạm, lực lượng xung kích chủ yếu của hải quân Hoa Kỳ, đang hoạt động trên biển xa cách đó hàng ngàn dặm; hạn chế tầm hoạt động của lực lượng nầy và vô hiệu hoá khả năng của các máy bay tiêm kích, lực lượng tấn công chủ yếu của các mẫu hạm Hoa Kỳ nhằm vào Trung Hoa.


 Lực lượng tiềm thủy đỉnh của hải quân Trung Quốc, với khoảng 15 chiếc chạy bằng diesel thuộc lớp Song, 17 chiếc thuộc lớp Ming và một số thuộc loại Kilo tối tân mua lại của Nga, trang bị ngư lôi vận tốc nhanh (200 knots/giờ), và các loại hoả tiễn ‘cruise’ chống hạm do vô tuyến điều khiển, là một trong những mũi nhọn bảo vệ vùng lãnh hải Trung Hoa, yểm trợ hữu hiệu cho các chiến hạm nổi thuộc các hạm đội của hải quân Trung Quốc, đồng thời là một mối đe dọa rất nguy hiểm cho các lực lượng đặc nhiệm xung kích của hải quân Hoa Kỳ, và lực lượng hải quân các nước đồng minh, hoạt động trong khu vực Đông Hải, Hoàng Hải và Nam Hải, những vùng biển bao quanh Trung Hoa. Lực lượng hải quân Trung Quốc còn được trang bị 5 tiềm thủy đỉnh nguyên tử lớp Han, 6 chiếc lớp Shang, với nhiệm vụ săn chống hàng không mẫu hạm và các chiến hạm của hải quân Hoa Kỳ. Gần đây nhất, Trung Quốc đã đưa vào hoạt động một tiềm thủy đỉnh nguyên tử lớp Jin, được trang bị hoả tiễn liên lục địa với tầm bắn xa hơn 8,000 km.


Một trong những mối lo ngại của các quốc gia láng giềng của Trung Quốc, nhất là các nưóc Đông Nam Á đang có những tranh chấp về lãnh hải với Trung Hoa như Việt Nam, Philippines, Brunei, Malaysia… là sự phối trí lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa một hàng không mẫu hạm (HKMH Thi Lang-- tháng Tám, 2011) với khả năng tấn công bằng không quân vào các mục tiêu ngoài phạm vi của các máy bay chiến đấu tại các căn cứ quân sự trên đất liền của Trung Hoa.Tháng Giêng năm 2011, Trung Quốc đã bất ngờ cho tiến hành chuyến bay thử nghiệm lần đầu tiên loại chiến đấu cơ tàng hình, thế hệ thứ năm J20, gây kinh ngạc cho các chuyên gia hàng không quốc tế hàng đầu, kể cả bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, Robert Gates, đang thăm viếng chính thức nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, vì mức độ phát triển về kỹ thuật hàng không quân sự của Trung Hoa, ngoài mọi sự tiên liệu của các cơ quan tình báo Mỹ!


Lực lượng pháo binh chiến lược của Trung Quốc được trang bị, với tầm vóc qui mô, các loại hoả tiển đạn đạo tầm trung và tầm xa tối tân (kể cả loại hoả tiển mang đầu đạn hạt nhân và chống vệ tinh), với độ chính xác và sức hủy diệt rất cao, có khả năng đánh phủ đầu (pre-emptive strike) phá hủy các căn cứ quân sự chiến lược của Hoa Kỳ tại vùng châu Á Thái Bình Dương (Nhật Bản, Nam Hàn, thậm chí tại cả Guam và Trân Châu Cảng!), nhằm làm tê liệt và trung hòa mọi hoạt động hữu hiệu của lực lượng không quân chiến thuật và hạm đội số 7 của Hoa Kỳ, trong những tình huống  xung đột vũ trang bùng phát tại vùng tây bộ Thái Bình Dương! Tóm lại, để giành chiến thắng trong cuộc đọ sức cho ngôi vị đầu bảng của các cường qưốc trong khu vực, Trung Quốc  bằng mọi giá và mọi phưong tiện  sẵn có, phải tạo cho bằng được  một khu vực ‘Cấm đi lại’ ( No-go zone) ‘ưu ái dành riêng’ cho lực lượng  Hoa Kỳ và phe đồng minh, để có thể dễ dàng thanh toán mục tiêu một cách nhanh chóng, gọn gàng, và trong trường hợp cần thiết, đánh bại và tiêu diệt  các lực lượng quân sự Mỹ và đồng minh đang hoạt động trong vùng để làm (bá) chủ khu vực!
 
Có lẽ chủ thuyết Monroe (Monroe Doctrine) là một ám ảnh định mệnh, và đồng thời cũng là một nguồn ‘cảm hứng’ cao độ cho tham vọng bá quyền đang sục sôi trong tâm trí các nhà lãnh đạo Bắc Kinh. Với sức mạnh và tiềm năng kinh tế-quân sự hiện nay, giới lãnh đạo bảo thủ Trung Hoa cảm thấy họ đã có đủ khả năng để phô trương và áp đặt quyền lực lên các quốc gia khác, nhất là các nước láng giềng trong vùng. Cách đây gần hai thế kỷ (1821), Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, một cường quốc khu vực đang lên, cũng đã có tham vọng áp đặt quyền lực lên toàn khu vực đang chịu ảnh hưởng của mình , giống hệt như Trung Quốc ngày nay. Tổng thống Hoa Kỳ, James Monroe, đã đơn phương tuyên bố, châu Mỹ nằm ngoài tầm với của các cường quốc Âu Châu (như những tuyên bố của Trung Quốc yêu cầu Hoa Kỳ không nên dính dáng gì đến những vấn đề châu Á!) khi ông không muốn các nước thực dân châu Âu trở lại tái áp đặt nền đô hộ lên vùng châu Mỹ Latin! Hoa Kỳ sẽ xem các hành vi thuộc địa hóa hay can thiệp vào nôi bộ các nước Nam Mỹ ( của các quốc gia Âu châu) là những hành động xâm lăng gây hấn và Hoa Kỳ sẽ không ngần ngại can thiệp! Điểm hoàn toàn khác biệt là nước Mỹ đã không hề có tham vọng bành trướng lãnh thổ như Trung Quốc; không hề ngang ngược áp chế, đe dọa các lân bang để đòi hỏi những nhượng bộ về quyền lợi kinh tế-chính trị hay lãnh thổ như tập đoàn lãnh đạo của Trung Hoa cộng sản hiện nay! Và cho dù chưa có được một lực lượng hải quân đủ mạnh để thực hiện lời hứa, Hoa Kỳ đã được Anh Quốc, một siêu cường thế giới lúc đó, vì những lý do riêng tư, ngầm ủng hộ. Do đó, các cường quốc Âu châu đưong thời, dù muốn dù không, đã không dám lên tiếng thách thức Washington, và nước Mỹ có được một khoảng thời gian an toàn quý báu để phát triển tiềm năng quân sự đủ sức hỗ trợ cho chính sách đối ngoại của mình (Christian Science Monitor). Ngược lại, Trung Quốc ngày nay chưa hề có được một lực lượng quân sự (như hải quân) đủ mạnh để áp đặt những đòi hỏi ngang ngược của mình về chủ quyền lãnh thổ cùng ảnh hưởng chính trị-kinh tế lên toàn khu vực châu Á Thái Bình Dương như họ đã mong muốn; nhất là Hoa Kỳ và các cường quốc khu vực khác như Nhật Bản, Nga, Ân Độ, Úc và các quốc gia ASEAN đều công khai chống lại những cuồng  vọng bành trướng bá quyền của giới lãnh đạo Bắc Kinh! Chính sự khác biệt nầy sẽ là một yếu tố quan trọng trong việc ngăn cản những toan tính đầy tham vọng của tập đoàn lãnh đạo Trung Nam Hải trong ý đồ thống trị và nô dịch thế giới!!


Những sự nhượng bộ mới đây của Trung Quốc tại hội nghị an ninh khu vực Đông Nam Á mở rộng (ARF) tổ chức tại Bali, Indonesia ngày 21 tháng Bảy vừa qua, sau những lời đe dọa đầy ngạo mạn nhắm vào Hoa Kỳ của một viên chức ngoại giao cao cấp Trung Hoa tại Bắc Kinh hôm 22 tháng Sáu, 2011, thực chất chỉ là một bước hoãn binh cho một toan tính chiến lược lâu dài hơn nhằm nuốt trọn biển Đông (“ Những quốc gia đang thách thức chủ quyền tuyệt đối của Trung Quốc tại Nam Hải và các quần đảo nằm trong phạm vi biển nam Trung Hoa, đang đùa với lửa! Hy vọng rằng Hoa Kỳ sẽ không để bị bỏng vì chính ngọn lửa đó! ”— Cui, Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc).Tại hội nghị Bali, Trung Quốc và 10 nước thành viên của ASEAN đã đạt được thỏa thuận bước đầu về các nguyên tắc ứng xử nhằm làm giảm bớt những căng thẳng tại biển Đông hiện nay. Phải mất gần một thập niên để ‘Tuyên Bố về Nguyên Tắc Ứng Xử tại biển Đông’ (DOC, 2002) đạt được sự thoả thuận sơ bộ về những ‘hướng dẫn căn bản’ trong việc giải quyết mọi xung đột về lãnh thổ trên biển Nam Hải qua hình thức hợp tác và thương lượng hòa bình (không có tính cách ràng buộc pháp lý!) Quả là một sự ‘lãng phí thời gian’ có mưu đồ, tính toán của một Trung Hoa đang ôm ấp giấc mộng siêu cường!


Thật ra trong lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc đang vấp phải những trở lực rất lớn. Sự mất cân đối trong việc phát triển kinh tế có thể đẩy kinh tế Trung Hoa vào những khủng hoảng nghiêm trọng trong thời gian sắp tới. Nền kinh tế quá lệ thuộc vào xuất khẩu những sản phẩm tiêu dùng rẻ tiền (chiếm gần 40% tổng sản lượng quốc gia!) như hiện nay đã buộc Bắc Kinh phải đầu tư liên tục vào khu vực quốc doanh đầy rẫy tham nhũng và kém hiệu năng. Các công ty quốc doanh Trung Quốc nhận được khoảng 70% nguồn vốn kinh doanh do nhà nước cấp hoặc cho vay với gần như không có lãi suất, nhưng chỉ cung cấp được khoảng 30% thành phẩm công nghiệp gồm phần lớn là những sản phẩm tiêu dùng được lắp ráp tại nội địa Trung Hoa. Đây không phải là một năng suất hữu hiệu cho bất cứ một nền kinh tế đang phát triển nào nếu so sánh giữa tỷ lệ đầu tư và hiệu năng sản xuất! Khu vực tư nhân gồm các doanh nghiệp tư doanh và các công ty đa quốc gia với vốn đầu tư từ nưóc ngoài chiếm một tỷ lệ vốn khoảng 30% nhưng lại cung ứng một sản lượng hàng hoá chiếm đến 70% hàng xuất khẩu của Trung Quốc hiện nay. Mặc dầu là động cơ chính yếu thúc đẩy đà phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, khu vực nầy vẫn bị bạc đãi và bị kiểm tra chặt chẽ bởi chính quyền trung ương.


Mô hình kinh tế thiên về sản xuất hiện nay của Trung Hoa với việc kềm giá đồng nhân dân tệ (so với đồng đô la) để tạo lợi thế trong cạnh tranh xuất khẩu, chú trọng thuần vào việc tái đầu tư nguồn vốn và lợi nhuận cho khu vực quốc doanh rộng lớn, kìm hãm nhu cầu tiêu thụ nội địa để dồn tư bản cho sản xuất xuất khẩu, tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt trong nước để hạ giá thành sản phẩm, tước đoạt mọi quyền lợi về an sinh xã hội của giới công nhân lao động, với một mục đích rõ rệt tạo những đặc quyền đặc lợi dành cho một giai cấp tư bản mới gắn bó về quyền lợi và trung thành hơn với đảng CS và chính quyền Trung Hoa! Đó chính là lý do có sự cách biệt giàu nghèo quá lớn trong xã hội Trung Hoa hiện nay, với khoảng 200 triệu người thuộc thành phần trung lưu, mà phần lớn là con cháu, thân nhân của giới đảng viên Cộng Sản cao cấp, đưọc ưu đãi bởi chính quyền, so với hơn 1 tỷ người vẫn còn phải sống thiếu thốn, nghèo khổ trong xã hội: Mầm mống của những bạo loạn xã hội rất khó lòng tránh khỏi trong tương lai!


Sau cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu năm 2008, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc tại Hoa Kỳ và các nước thuộc Liên Hiệp Âu châu đã sút giảm rõ rệt, lý do: nền kinh tế của các quốc gia công nghiệp giàu có nầy bị khủng hoảng và suy thoái trầm trọng do chính sách tài chánh đầu tư sai lầm gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho mọi thành phần kinh tế trong xã hội, nhất là giới trung lưu và lợi tức thấp! Tác động dây chuyền ảnh hưởng trực tiếp lên khu vực sản xuất của các nước thuần về xuất cảng hàng hoá tiêu dùng như Trung Hoa! Hàng loạt cơ xưởng sản xuất phải đóng cửa, hàng chục triệu công nhân thất nghiệp đã ảnh hưỏng đến sự ổn định kinh tế-xã hội của Trung Quốc. Để đối phó với những tác động tiêu cực nầy, Bắc Kinh đã lập tức rót một ngân khoản khổng lồ, 585 tỷ đô la vào các dự án phát triển hạ tầng cơ sở… để kích thích nền kinh tế quốc gia đang gặp khó khăn do ảnh hưởng chung  của sự suy sụp kinh tế toàn cầu.


Hàng trăm tỷ đô la đã được các ngân hàng nhà nước cho các chính quyền địa phương vay mượn để đổ vào việc xây dựng cầu cống, đường sá, phi cảng, đường hỏa xa cao tốc, bến cảng, các nhà máy điện….nhằm duy trì công việc cho các công nhân cũng như duy trì mức tăng trưởng kinh tế quốc gia; nhưng trên thực tế thì  một số lớn những nguồn tài trợ nầy đã bị chính quyền điạ phương xử dụng cho những dich vụ đầu tư lãng phí trong các đầu cơ về bất động sản, thậm chí cả vào đầu cơ chứng khơán cho lợi nhuận cá nhân!  Những dự án lớn về hoả xa cao tốc ngập chìm trong bể nợ; trong khi hàng loạt thành phố, thương xá sang trọng được xây dựng chỉ để bỏ hoang, không người lai vãng! Theo công bố mới nhất của cơ quan kiểm sát của chính quyền trung ương tại Bắc Kinh, khi kiểm tra sổ sách tại 31 tỉnh và hàng trăm thành phố địa phương, đã phát giác khoảng 20% trong số 1600 tỷ đô la công nợ của điạ phưong, được ghi nhận là ‘nợ xấu (bad debts)” phải xóa bỏ không thể đòi được! Những dịch vụ đầu tư về xây dựng hạ tầng cơ sở  (dịch vụ cho vay bởi ngân hàng) đã đóng góp tới hơn 50% tổng sản lượng quốc gia (GDP) hàng năm của Trung Quốc, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu 2008! Đó chính là nguyên nhân đã gây nhiều khó khăn cho chính quyền Trung Quốc trong việc thực thi những cải tổ về kinh tế-chính trị, khi tổng sản lượng quốc gia vẫn còn là một thước đo chuẩn mực cho sự thành công trong việc phát triển nền kinh tế quốc gia, một nhân tố hàng đầu biện minh cho tính chính danh hợp pháp của việc độc quyền lãnh đạo chính trị của đảng CS Trung Hoa!


 Với sự trì trệ trong khu vực sản xuất do nhu cầu tiêu thụ sụt giảm tại các thị trường chủ yếu trên thế giới; với vấn nạn lạm phát hoành hành do chính sách kềm giá tiền tệ để được lợi thế cho xuất khẩu; với sự mất khả năng cạnh tranh về lao động do việc gia tăng lương bổng cho công nhân để bù cho giá cả lạm phát; những đầu tư sai lầm với hậu quả tai hại về kinh tế cho quốc gia; những khoản ‘nợ xấu không thể thu hồi’ trong trương mục cho vay của các ngân hàng nhà nước; một quả bóng địa ốc đã sẵn sàng vỡ tung với rất nhiều hệ lụy. Với những rối loạn xã hội đang gia tăng do nạn lạm phát về giá cả lương thực hoành hành, do nạn thất nghiệp tăng cao, và những hố sâu ngăn cách giàu nghèo quá lớn giữa các tầng lớp trong xã hội; cộng thêm vào đó là những bất ổn chính trị do tranh chấp quyền lực trong nội bộ giới lãnh đạo đảng CS Trung Hoa và cuộc chuyển giao quyền lực sắp tới vào năm 2012; Trung Quốc chắc chắn sẽ tỏ ra cứng rắn hơn trong chính sách đối ngoại, nhất là đường lối giải quyết những tranh chấp về lãnh thổ tại vùng Đông Bắc Á, tại biên giới với Ấn Độ, và đặc biệt là tại vùng biển Đông nơi có quá nhiều quyền lợi chiến lược cho Trung Hoa!


Trong những năm tháng tới biển Đông có lẽ sẽ không còn yên bình gợn sóng cho những chuyến hải hành ra khơi của bao chàng trai trẻ ôm ấp mộng hải hồ, vui cùng sóng nước bạt ngàn; mà chắc chắn sẽ là một vùng lửa đạn với máu xương của bao người lính chiến dập vùi, tan tác trong những vũng dầu thô đen đủi, ngun ngút nỗi hận thù! Bắc Kinh với những toan tính chiến lược cho giấc mộng bá quyền của mình chắc chắn sẽ không bao giờ buông tha Nam Hải! Trong tình hình đầy rẫy khó khăn về chính trị-kinh tế-xã hội như hiện tình Trung Quốc hiện nay; thêm vào đó là sự suy yếu của siêu cường Hoa Kỳ trên lãnh vực kinh tế và lãnh đạo-chính trị, Trung Nam Hải có thể tự tin rằng đây chính là cơ hội ngàn năm để Trung Hoa thôn tính vùng địa dư chiến lược tối quan trọng nầy, quan trọng không những trong lĩnh vực an ninh quân sự mà còn trong lĩnh vực giao thương- kinh tế với một trữ lưọng dầu khí rất dồi dào và các tuyến đưòng giao thông hàng hải  huyết mạch, quan yếu cho sự sống còn của vùng châu Á Thái Bình Dương. Riêng Việt Nam và các nước ASEAN nên chuẩn bị sẵn sàng vì chiến tranh có lẽ  là điều không tránh khỏi!!



NT4 Phạm Đình Bằng
California, tháng Bảy, năm Hai Ngàn Mười Một