Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Trung Tá Nguyễn Văn Năm

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Trung Tá Nguyễn Văn Năm

In PDF.

 



Thân gửi em Sơn,
  
Đọc thư của em xong, tôi thấy buồn và cảm động, bởi vì tôi cảm thông nỗi khổ của gia đình trong suốt 31 năm qua, và cũng bởi vì sau khi bài viết về Thiếu tá Lê Ân, trong đó có nhắc tên ba em, được post lên Diễn Đàn CTCT, tôi không nghe ai feedback, hồi âm, hay hỏi thêm, hay cho tin tức gì về Th/tá Ân, hoặc ba em, hoặc Trung tá TMT trường CTCT Nguyễn Quang Hưng, để tôi có dịp, có cớ bàn rộng hơn, như tôi làm hôm nay. Có thể bài post lên, nhưng ít người đọc, đôi khi không trúng đề tài, họ delete ngay. Và việc rất là thường. Về Tr/tá Hưng thì vợ là nữ sĩ Bích Huyền có kể lại cái chết trong quyển sách của bà, từ một nguồn tin nào, tôi không rõ, nhưng không đúng với sự thật, mà bà cũng không bao giờ hỏi, nên tôi cũng im lặng. Nếu em có đọc bài "Đá nát vàng phai" đăng trong Ức Trai (đã lâu), em sẽ thấy tôi có nhắc tên ba em và vài vị khác. Trước những cái chết ấy, do định mệnh, tôi đã trở thành một chứng nhân tình cờ mà  thôi. Lúc ấy, đâu biết có ngày phải kể lại cho thân nhân của họ nghe, để mà thu thập chi tiết kỹ hơn. Vả lại, kỷ luật của trại giam, khó có thể làm việc ấy. Cùng là tù, mà tù nhân đội này tiếp xúc với tù nhân đội kia cũng bị cấm, huống chi là tiếp xúc với người sắp chết, đã chết, điều mà cai tù không muốn cho ai biết.


    Như vậy cho đến bây giờ em vẫn chưa biết cái chết của ba em ra sao ư? Dài dòng phi lộ để em chuẩn bị tinh thần mà thôi.
 
    Hình như đó là vào khoảng 1979, tại K1, trại Vĩnh Phú. Cũng nói sơ cho em biết về chữ K. Trại nằm tít chân núi, trong thung lũng sông Hồng. Chúng tôi từ các trại sát biên giới được chuyển về Vĩnh Phú khi Tàu Cộng sắp tấn công. Trại rộng thênh thang chia làm bảy khu, gọi là K, cách nhau trung bình 5, 6 cây số. K1 xa nhất, tuốt sâu trong núi. K7 gần nhất, giam riêng các anh biệt kích bị bắt thời TT Ngô Đình Diệm. Tôi và Trung Tá Năm, lúc ấy ở K1. Không biết Tr/Tá từ trại nào chuyển đến. Khi tôi đổi về trường CTCT, đầu năm 1973, ba em hình như không còn ở trường, nhưng thỉnh thoảng bác có đến, để thăm ai đó chăng, và tôi có gặp, chào, để kịp thấy, và nhớ, bác rất hiền lành, như một nhà nho, nhà tu (nghe anh em sĩ quan trường khen bác rất rành bói toán, dịch lý) không có vẻ gì nhà binh, đeo kính trắng, mặt trắng xanh. Cũng đủ cho tôi nhận ra đúng là bác, trước khi bác chết. Nghĩa là trước đó, không bao giờ gặp nhau, dù cùng trại. Lúc ấy chắc mùa hè, vì thời tiết nóng và nắng kinh khủng. Bác ở đội Rau Xanh, chuyên trồng rau, gồm các sĩ quan cấp tá, trong đó có Nguyễn Hữu Trí, Trung tá biệt phái làm phi công Air Vietnam (hy vọng anh Trí nếu ở đâu đó trên thế gian này và đọc những dòng này làm ơn lên tiếng, đồng thời bổ sung thêm chi tiết). Tôi ở đội Xây Dựng, lưu động đi hết các K, có nhiệm vụ cất nhà cửa, sửa đường. Tôi và một anh khác (Thiếu tá Lưu Ninh, rồi trung tá Đào Văn Bảnh) bao thầu "khâu" trộn vữa (trộn hồ, gồm xi măng, cát, vôi, và nước), trộn chừng hai đống vữa bự, là có quyền ngồi nghỉ, chờ toán khác đem xe cải tiến đến xúc cho toán xây, hết thì trộn tiếp. Ngày bác chết là lúc đội xây dựng đang cất một căn nhà cho cán bộ, phía ngoài cổng trại.


    Khoảng 1 giờ trưa hôm ấy (chịu, không nhớ ngày tháng), tôi thấy có một chiếc xe trâu được hai anh tù đẩy về phía cổng trại, trên đó nằm hai người, chân thò xuống mặt đường. Đang ngồi nghỉ, tôi chạy lại xem, nhưng bị tên vệ binh chặn lại. Tuy vậy, tôi vẫn kịp nhận ra, và sau đó nghe anh em và các đội viên đội Rau Xanh xác nhận, đó là Trung tá Đặng Bình Minh và Trung tá Nguyễn Văn Năm, ba em. Cũng nghe các anh đội Rau Xanh kể lại, hai người đang ngồi đập đất trồng rau tại hiện trường lao động, cách trại khoảng một cây số, thì bị trúng nắng cùng một lượt. Cán bộ cho xe trâu chở cả hai về trại. Gần đến cổng trại (chưa qua khỏi cổng trại) thì cả hai hôn mê, và trút linh hồn cùng một lúc. Sau này, những anh tù "ngụy" rành về y khoa bảo rằng trường hợp trúng nắng như thế thì chỉ cần khiêng nạn nhân vào bóng mát, cho nghỉ, chườm nước đá (làm gì có lúc bấy giờ!), một lúc là khỏi. Còn vứt người ta lên xe trâu như thế, đẩy đi khoảng một cây số dưới ánh nắng chang chang như thế, làm sao chịu thấu, còn gì là người. Hai vị trung tá quả là chết oan. Chết xong, bắt đem chôn liền, trong "nghĩa địa" của K1 (tôi có kể về "nghĩa địa" này trong bài "Đá nát vàng phai"). Và vì tôi không ở trong toán đi chôn, nên không biết thêm gì nữa về ba em. Chỉ nghe toán chôn về kể lại chuyện Trung tá Đặng Bình Minh, đúng hơn chuyện vợ của ông.


    Trung tá Minh là phi công, trưởng phi đội trực thăng của Tổng thống Thiệu, người Huế pha giọng Nam, mặt vuông chữ điền, tính tình dễ thương, cởi mở. Thời gian bị giam chung ở Sơn La, tôi nằm kế bên ông khoảng hai tháng, nên khá thân, biết nhiều chuyện về ông, chẳng hạn tại sao trong tay có một phi đội trực thăng mà vẫn bị kẹt lại, vợ con như thế nào, v.v... Ông có cho tôi một áo jacket "ngụy" rằn ri. Khi ông chết, tôi vốn sợ ma, sợ ông hiện về đòi lại, nên tìm cách "bàn giao" cho một anh khác. Ông chết một hay hai ngày sau khi được vợ, một dược sĩ trẻ đẹp, từ Sài Gòn ra thăm nuôi. Bà vợ lúc ấy chưa về Sài Gòn, ghé Hà Nội, mua thêm vài món đồ. Trở lại K1 thì nghe tin ông mất. Mới nhờ, và được trại cho phép, anh em trong toán chôn dẫn ra nghĩa địa viếng mộ. Bà khóc như mưa như gió, làm một bài thơ, cắt một lọn tóc, đặt xuống mộ, rồi ra về, tặng luôn con gà luộc và dĩa xôi đã cúng cho các anh trong toán ăn liền tại chỗ. Tất cả quà thăm nuôi của trung tá Minh được nhà bếp trại đem ra nấu chung trong một chảo lớn, rồi phát cho tất cả các trại viên, mỗi người nửa chén chè thập cẩm.
       
    Lý do trại đưa ra về cái chết của ba em ("trụy mạch tim") là hoàn toàn ngụy tạo, để chạy tội đã không giúp đỡ, cấp cứu tù nhân kịp thời và đúng cách trong cơn nguy biến, nghĩa là, theo họ, ba em chết vì tình trạng sức khỏe của ba em, điều không thuộc trách nhiệm của họ.


    Tôi cố gắng lục lọi trí nhớ để kể lại trung thực những gì tôi thấy, tôi nghe, tôi biết, không thêm không bớt, và tôi chịu trách nhiệm về điều tôi viết ra, theo yêu cầu của em. Có thể có sơ sót, hoặc nhầm lẫn về vài chi tiết nhỏ nhặt (chẳng hạn tôi phải nặn óc để nhớ chính xác lúc ba em bị nạn đội Xây Dựng lưu động của tôi đang công tác ở K nào), vì thời gian quá xa rồi, nhưng những gì em muốn biết về cái chết của ba là như thế, không sai. Về tình trạng "nghĩa địa" chôn ba em và các vị khác năm tôi còn đó (1979) đã tồi tệ rồi, không biết bây giờ còn tồi tệ đến mức nào. Đa số không có bảng tên, hoặc có chỉ là một miếng gỗ nhỏ mỏng, viết vội vã, có thể bay đi theo gió bất cứ lúc nào. Đội Xây Dựng có lần được điều đi làm cỏ sạch sẽ "nghĩa địa" ấy, nên tôi biết rõ. Trong lúc dọn cỏ, tôi thầm khấn xin tất cả các anh, trong đó có ba em và Trung tá Đặng Bình Minh, hãy phù trợ cho tôi tai qua nạn khỏi, sớm về sum họp với gia đình.


    Tuy vậy, nếu muốn, và nếu có phương tiện, em có thể cố gắng làm hết sức điều mình cho là đúng, dù không thành công chăng nữa, với sự giúp đỡ của ba em từ bên kia cõi đời.
  
    Nếu bác gái không muốn nhắc nữa, thì thôi, em nên giữ trong lòng điều này. Xin Bình An đến với em và cả gia đình. Tôi post thư này lên hai Diễn Đàn Thụ Nhân của Viện Đại Học Đà Lạt. Biết đâu có những đồng tù, cũng đã chứng kiến điều tôi mới kể, tình cờ đọc được, sẵn sàng góp thêm tin tức.
  
Thân mến.

Nguyễn Kim Quý
Giáo sư VĐH/ĐL