Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai TÌM HIỂU VỀ CẢI CÁCH Y TẾ Ở MỸ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

TÌM HIỂU VỀ CẢI CÁCH Y TẾ Ở MỸ

In PDF.



Cải cách y tế đã được đề cập đến nhiều trong suốt 60 năm qua, nhưng có lẽ chỉ đến nay toàn bộ xã hội mới đạt được sự đồng thuận cao về sự cần thiết phải bắt tay vào thực hiện. Trước đó, nhiều lần nổ lực cải cách đã được đưa ra, nhưng đều chết yểu vì gặp phải sự chống đối mãnh liệt từ phía này hoặc phía khác. Lần này, mọi phía từ Cộng Hoà đến Dân Chủ, từ Bảo thủ đến Cấp tiến, từ các hảng bảo hiểm cho đến giới cung cấp dịch vụ y tế, đều đồng ý rằng đã đến lúc việc cải cách y tế là tất yếu và không thể trì hoản. Vấn đề tranh chấp còn lại là cải cách như thế nào. Sự tranh luận, cho đến nay, vẫn chưa kết thúc, dự luật vẫn còn nằm kẹt ở Thượng Viện, chưa thông qua được.



Để góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu về cuộc cải cách, bài viết này xin được, trước hết, lược qua các mô hình và hệ thống bảo hiểm y tế của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới; sau đó tóm tắt về hiện trạng của nền y tế Mỹ cùng những tranh luận chính xoay quanh việc thực hiện cải cách hiện nay.





CÁC MÔ HÌNH BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI:




A. Mô hình Bismarck: Đức, Nhật, Pháp, Thụy sĩ, v.v..: Giới cung cấp dịch vụ và người chi trả cho các dịch vụ y tế hoàn toàn là tư nhân, trên căn bản từ thiện, không kiếm lời (not for profit); luật lệ chặt chẻ về dịch vụ và lệ phí. Mô hình này do cố thủ tướng Von Bismarck của Đức đưa ra vào năm 1883, nằm trông nổ lực thống nhất quốc gia, xây dựng một dân tộc khỏe mạnh làm nền tảng cho một đội lục quân tinh nhuệ. Trong mô hình này, chủ và thợ cùng chia nhau trách nhiệm về bảo hiểm y tế. Chính phủ đảm trách việc giúp chi phí y tế cho người nghèo; còn những người giàu có nhất được miễn khỏi mua bảo hiểm y tế.




B. Mô hình Beveridge:
là mô hình của Anh quốc, theo đó Chính phủ cung cấp toàn bộ dịch vụ y tế cho người dân qua National Health Services. Có bệnh viện và bác sĩ tư, nhưng đa số còn lại nằm trong tay của chính quyền. Ý, Tây Ban Nha, Na Uy, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hong Kong theo mẫu này. Mô hình này cung cấp bảo hiểm y tế phổ quát cho mọi người.




C. Mô hình Bảo Hiểm Y tế Quốc gia: Dịch vụ y tế do khu vực tư nhân cung cấp, nhưng người trả phí tổn là chính phủ thông qua hảng bảo hiểm y tế do chính phủ kiểm soát. Chính phủ là người quyết định dịch vụ y tế nào nên được làm và thời gian chờ đợi. Canada, và ở mức độ nào đó, Đài Loan, Nam Hàn là những nước theo mô hình này.




D. Mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model): Đa số hơn 150 quốc gia trên thế giới không có hệ thống chi trả cho chi phí y tế. Bệnh nhân phải tự trang trãi cho các chi phí y tế bằng tiền túi của mình; không có những chương trình bảo hiểm do tư nhân hay chính phủ điều hành. Chẳng hạn, ở Camphuchia, 91% chi phí y tế trong nước được trả bằng tiền túi; 85% ở Ấn Độ và 73% ở Ai Cập. Trong khi đó ở Anh, có chừng 3% và Mỹ có chừng 17% dịch vụ y tế được trả bằng tiền túi của bệnh nhân ( từ hơn 45 triệu người không có bảo hiểm).





BẢO HIỂM Y TẾ CỦA VÀI QUỐC GIA TIÊU BIỂU:




PHÁP: Carte vitale

Nước Pháp có hệ thống bảo hiểm y tế cho mọi người (universal health care).
Giá cả dịch vụ y tế được niêm yết ngay tại các phòng mạch bác sĩ cũng như các tại các trung tâm y tế. Bệnh nhân được thông báo trước bách phân chi phí họ sẽ được hoàn trả từ hảng bảo hiểm. Toàn bộ tiểu sử y tế (medical history) của mỗi người được nhị phân hoá (dìgitzed) và bỏ vào trong một tấm thẻ plastic gọi là Carte Vitale. Mọi công dân Pháp tuổi trên 15 đều được cấp Carte vitale; tiểu sử y tế của trẻ em được ghi trên carte vitale của người mẹ. Chính nhờ loại thẻ này mà các văn phòng bác sĩ, trạm xá hay bệnh viện của Pháp không cần phải có hồ sơ bệnh nhân bằng giấy chứa trong các dãy kệ dài đựng hồ sơ như hiện nay vẫn có ở Mỹ.




Có cả bảo hiểm của các công ty bảo hiểm tư lẫn của chính phủ. Công nhân được bảo hiểm thông qua công ty nơi họ làm việc hoặc vùng họ cư trú; họ không có tự do lựa chọn chương trình bảo hiểm; chủ nhân và công nhân chia nhau đóng tiền bảo hiểm.




Đặc điểm là Caisse d’assurance maladie (sickness insurance funds): Quỹ bảo hiểm bệnh tật là những định chế bất vụ lợi (not for profit) với mục đích duy nhất, không phải là kinh doành, mà là giúp chi trả chi phí chữa bệnh cho mọi người. Người Pháp không bị các quỹ này từ chối bảo hiểm vì bất cứ lý do gì, và khi mất việc làm, họ không bị mất bảo hiểm y tế, chính phủ tiếp tục trả cho họ trong thời gian thất nghiệp. Chi phí điều hành của các Quỹ này rất thấp chỉ chừng 5%; so với chi phí đó của các hảng bảo hiểm Mỹ là 20%.




Tổ chức Y tế Thế Giới (World Health Organization, WHO) xếp hạng nền y tế của Pháp là số một của Thế giới về khả năng chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo (mortality amenable to healthcare), về tử suất trẻ sơ sinh và tuổi thọ của người lớn tuổi.




Người Pháp khi đi khám bác sĩ không phải lo vấn đề trong hay ngoài network như ở Mỹ, cũng không phải qua sự giới thiệu của bác sĩ gia đình (family doctors, primaryphysicians) khi đi gặp bác sĩ chuyên môn (specialists).




Bảo hiểm y tế là một sự cưỡng bách; mọi người đều phải có bảo hiểm y tế, tự ý bỏ bảo hiểm y tế là một hành vi phi pháp. Mọi người trả tiền mua bảo hiểm tuỳ theo lợi tức của mình. Chẳng hạn một người thu nhập 20,000 dollars/ năm phải trả chừng 150 dollars/ năm cho bảo hiểm y tế.




Chi phí y tế bình quân đầu người hàng năm của Pháp là chừng $3165, và mọi người đều được bảo hiểm; trong khi Mỹ thì đến $7000/người, nhưng có đến hơn 45 triệu người không được bảo hiểm!Lợi tức của các bác sĩ Pháp rất thấp so với các bác sĩ Mỹ; trung bình một bác sĩ toàn khoa ở Pháp chỉ kiếm được chừng 80, 000 dollars/ năm.

Pháp chi gần 10% của GDP, tổng sản phẩm nội điạ quốc gia (general domestic products) cho y tế; trong lúc Mỹ chi đến 17% của GDP!





ĐỨC:

Người Đức xử dụng thẻ Die elektronischen Gesundheitskarte, the digital heath card (Thẻ Y tế điện tử) tương tự như Carte Vitale của Pháp, giúp giảm chi phí về quản lý hồ sơ và thanh toán y phí.




Hệ thống bào hiểm y tế của Đức dựa vào Luật Bảo Hiểm Bệnh tật ra đời từ năm 1883 dưới thời của thủ tướng “ sắt “ Otto Von Bismarck. Người Đức, bị bắt buộc theo luật, mua bảo hiểm từ hơn 200 quỹ bệnh tật Krankenkassen trên toàn quốc. Các qũy bệnh tật này, tương đương với hảng bảo hiểm y tế ở Mỹ, là những tổ chức không kiếm lời, nghĩa là không phải chạy đua theo lợi nhuận để thoả mãn yêu cầu của giới đầu tư (investors) như các hảng bảo hiểm ở Mỹ. Lệ phí bảo hiểm hàng tháng ấn định dựa trên lợi tức cá nhân. Trung bình một công nhân Đức hiện nay đóng 15% tiền lương cho bảo hiểm y tế; chủ nhân sẽ chịu một phần tương đương cho mỗi công nhân. Khác với công nhân Mỹ, người công nhân Đức có thể lựa chọn bất kỳ Krankenkassen nào và thay đổi bất kỳ lúc nào. Khi bị thất nghiệp, tự động chính phủ sẽ trả chi phí bảo hiểm cho người thất nghiệp.




Các quỹ bệnh tật Krankenkassen là bất vụ lợi, không từ chối bảo hiểm cho bất kỳ ai cần cũng không từ chối chi trả cho bất cứ dịch vụ y tế nào được cung cấp bởi các bác sĩ và bệnh viện. Chi phí điều hành của các Krankenkassen này trung bình chỉ bằng chừng 1/3 chi phí của các hảng bảo hiểm Mỹ. Tuy bất vụ lợi, nhưng các Krankenkassen cạnh tranh nhau ráo riết để thu hút người mua bảo hiểm, nâng cao uy tín và thu nhập cho nhân viên điều hành. Các Krankenkassen này cung cấp bảo hiểm cho hầu hết người Đức, 93%. Còn lại chừng 7% những người giàu nhất xã hội, được miễn bị bắt buộc phải mua bảo hiểm từ Krankenkassen, chọn mua bảo hiểm từ các hảng bảo hiểm tư khác; tất nhiên với giá cả cao hơn rất nhiều.




Bác sĩ ở Đức chỉ phải trả một số tiền nhỏ hàng năm cho bảo hiểm sai lầm nghề nghiệp (malpractice insurance), khoảng $1400/năm; tương đương với lệ phí một tuần của bác sĩ ở Mỹ. Nhưng đồng thời, thu nhập của bác sĩ ở Đức cũng thấp hơn nhiều, trung bình từ $ 100, 000 đến $150,000/ năm.





NHẬT BẢN:

Là một hệ thống bảo hiểm tư nhân với ít nhiều tài trợ từ chính phủ. Hệ thống bảo hiểm của Nhật bắt chước theo khuôn mẫu Bismarck của Đức, được thiết lập ra từ hồi cuối thế kỷ 19 trong quá trình nước Nhật canh tân hóa theo Tây Phương. Người Nhật bắt chước cách tổ chức hải quân theo mẫu của người Anh; luật pháp thì theo mẫu Luật Napoleon của Pháp; còn lục quân, hệ trung học và an sinh xã hội thì theo mô hình của Đức.




Mọi người bắt buộc (personal mandate) phải đăng ký với một chương trình bảo hiểm y tế.Tổng cộng Nhật Bản có chừng 3,500 chương trình bảo hiểm y tế khác nhau, có thể gộp chung thành 3 loại:



1.- Loại của các đại công ty và các cơ quan chính phủ lớn, trong đó công ty trả 55% lệ phí bảo hiểm (premium), công nhân trả 45% còn lại. Loại này không nhận bất kỳ sự trợ cấp tài chánh nào từ chính phủ trong vấn đề bảo hiểm y tế. Những công ty như Honda, Toyota có bệnh viện lớn riêng cho công nhân của họ.




2. - Công nhân làm cho các hảng nhỏ đóng một nửa lệ phí bảo hiểm, chủ nhân đóng nửa còn lại. Nhưng các hảng nhỏ này được chính phủ trung ương trợ cấp 14% lệ phí bảo hiểm y tế.




3. - Chương trình Bảo hiểm Y tế Công dân: dành cho những người về hưu và các tiểu chủ, tiểu thương. Trong chương trình này cá nhân và chính quyền địa phương cùng nhau chia đều lệ phí bảo hiểm y tế.




Thông thường bệnh nhân phải trả 30% co-payment, hảng bảo hiểm trả 70% cho các dịch vụ y tế. Nhưng mỗi người không phải trả quá 650$/ tháng cho các dịch vụ này.



Các công ty bảo hiểm y tế Nhật là những công ty không vì lợi nhuận (not for profits); lý do tồn tại của họ là giúp thanh toán chi phí y tế, chứ không phải để kiếm lợi nhuận.




Bộ Y tế và An sinh ( Ministry of Health and Welfare) của Nhật thỏa thuận với giới cung cấp dịch vụ y tế ( providers) một Biểu đồ giá cả (Fee Schedule) áp dụng chung cho tất cả bác sĩ, bệnh viện, trạm y tế trên toàn quốc, và một hướng dẩn tổng quát về quy trình y tế cùng giá thù lao kèm theo có tên là Shiryo Tensu Hyakumihyo (Quick reference Guide to Medical treatment points), dày như một cuốn niên giám điện thoại, liệt kê chi tiết các dịch vụ với phần thù lao đi kèm. Chẳng hạn: gặp bác sĩ gia đình giá 5$, một đêm tại bệnh viện 90$ (gồm cả thức ăn), v.v…

Trung bình một bác sĩ gia đình ở Nhật có thu nhập chừng 120,000$/ năm; các bác sĩ chuyên môn (specialists) thì chừng 200,000$/năm. Các bác sĩ hàng năm chỉ phải trả chừng 1200$ cho bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice). Học phí của các trường y khoa rất rẽ chỉ chừng 1500 $/năm và sinh viên y khoa thường được chính quyền địa phương trợ cấp học phí, vì vậy không sinh viên nào mắc nợ khi tốt nghiệp bác sĩ cả.





Ngoài ra các bác sĩ Nhật, do ảnh hưởng của văn hoá Đông phương, không xem bác sĩ như là một nghề để làm giàu mà cho rằng cứu nhân độ thế là thiên chức của người thầy thuốc, vì vậy đa số họ bằng lòng với mức thu nhập nêu ở trên. Mặt khác, bác sĩ vẫn là giới rất được trọng vọng trong xã hội Nhật.




Một điểm đặc biệt là bảo hiểm y tế Nhật không bảo hiểm cho phụ nữ có thai. Người Nhật quan niệm rằng thai nghén là một quá trình tự nhiên, không phải là một bệnh tật nên không nằm trong sự che chở của bảo hiểm y tế. Tuy nhiên mỗi thai phụ lại được chính quyền địa phương hay thành phố trợ cấp 3000$/lần (maternity grant).




Những biện pháp khống chế giá cả y tế như trên đã góp phần hạ thấp chi tiêu y tế ở Nhật, tổng chi phí y tế chỉ chiếm 8% GDP, thấp hơn cả Đức quốc (11%).Nhưng sự khống chế chặt chẻ giá cả này cũng tạo ra những nhược điểm cho nền y tế; đó là sự xuống cấp trầm trọng của các bệnh viện, bệnh xá, trang thiết bị, và đời sống của các bác sĩ, chuyên viên y tế cũng ngày càng khó khăn hơn.





ANH QUỐC: Bảo hiểm y tế phổ quát.




Cơ quan British National Health Service (NHS), do vương công William Beverdige khởi xướng trước đây 60 năm, đảm trách việc bảo hiểm y tế cho mọi người ở Anh. Công dân Anh không phải trả lệ phí bảo hiểm (premium). Trẻ em; người già trên 60, người có bệnh kinh niên và thai phụ không phải trả 10$ copayments tiền thuốc; khoảng 85% thuốc cho bệnh nhân là miễn phí. Tuy cũng có bảo hiểm y tế tư nhân, nhưng tuyệt đại đa số, 97%, dân Anh không ai mua bảo hiểm y tế cả, họ xem việc đi khám bác sĩ hay vào bệnh viện không phải trả tiền là điều bình thường.




Cơ quan NHS nói trên có tổng cộng hơn 1 triệu nhân viên, hơn 2000 bệnh viện.




Nền y tế trên đem đến cho Anh quốc một tử suất trẻ em rất thấp, tuổi thọ trung bình rất cao, và mức độ bình phục cho các chứng bệnh hiểm nghèo cao hơn ở Mỹ.



Một đặc điểm của y tế Anh quốc là không có hoá đơn đòi tiền đối với các dịch vụ y tế như vẫn thấy ở Mỹ (no medical billing in England).




Chính phủ Anh đã dùng mức thuế cao thay cho lệ phí bảo hiểm y tế. Thuế bán lẽ (sale taxes) ở Anh là từ 15-17.5%, thuế lợi tức và an sinh xã hội cũng cao hơn ở Mỹ rất nhiều. Chẳng hạn một gia đình thu nhập 150,000$ phải trả thuế lợi tức đến 50%!




Nhược điểm là thời gian chờ đợi để gặp bác sĩ chuyên khoa, để được chẩn đoán hoặc điều trị phức tạp thường khá lâu. Vấn đề hạn định (rationing) đối với một số dịch vụ y tế là một nhược điểm lớn khác của nền y tế Anh.




Ở Anh, mọi người được yêu cầu phải đăng ký với một bác sĩ tổng quát, như một y sĩ đầu tiên, vị bác sĩ này (General Practices) có thẩm quyền giới thiệu đến các chuyên khoa hay những chữa trị phức tạp. Đây là hình thức ở Mỹ gọi là giữ cửa (gatekeeping), trong đó bác sĩ gia đình có thẩm quyền trong việc giới thiệu (recommendation) những xét nghiệm hoặc chẩn đoán chuyên môn cho bệnh nhân; bệnh nhân không được phép tự mình gặp thẳng các bác sĩ chuyên môn mà không có sự đồng ý của bác sĩ gia đình.




Sự hạn định đó thuộc về NHS. NHS ,thông qua cơ quan NICE, có thẩm quyền khống chế khá rộng đối với các xét nghiệm, chẩn đoán, các dịch vụ y tế dành cho bệnh nhân. Sự hạn định này cũng có ở Mỹ, nhưng khác ở chỗ là ở Mỹ các hảng bảo hiểm tư nhân kiểm soát sự hạn định này thường do động cơ lợi nhuận, còn ở Anh, cơ quan NICE (national institute for Health and Clinical Excellence) lại dựa trên hiệu quả thiết thực của dịch vụ y tế cho từng trường hợp bệnh nhân trong tương quan với tài nguyên của xã hội.




Để bù lại, nền y tế Anh quốc đặt trọng tâm vào việc phòng bệnh (preventive care), tỉ lệ bác sĩ gia đình chiếm đến 60%, cao hơn ở Mỹ. Lợi tức trung bình của một bác sĩ gia đình là chừng 125,000$/năm, thu nhập này thay đổi dựa vào số bệnh nhân đăng ký đối với mỗi bác sĩ. Ngoài ra cơ quan NHS còn trao phần thưởng tay nghề (performance bonus) hàng năm cho những bác sĩ có thành tích giúp duy trì sức khoẻ tốt cho số bệnh nhân của mình.



Lệ phí bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice) là khoảng 4,200$/năm; rất thấp so với ở Mỹ. Học phí tại các trường y khoa khá rẻ chỉ chừng 4,000$/năm, vì vậy đa số các bác sĩ mới tốt nghiệp không phải mắc nợ khi ra trường.




CANADA



Trước hết vào năm 1944, thống đốc Tommy Douglas của tỉnh Saskatchewan thành lập một hệ thống bảo hiểm y tế do chính quyền điều hành cho toàn thể 1 triệu dân trong tỉnh. Hệ thống ấy thành công rực rỡ đến độ từ năm 1961 trở đi chính phủ Canada đã thành lập hệ thống National Health Insurance, hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát toàn quốc, phỏng theo mô hình của Douglas, với dịch vụ y tế được cung cấp bởi tư nhân và chính phủ là người chi trả cho các dịch vụ ấy. Năm 1965 chính phủ Mỹ tiếp nhận hình thức bảo hiểm này của Canada cho công dân trên 65 tuổi, và cho ra đời chương trình Medicare.




Tuy 10 tỉnh và 3 lãnh thổ của Canada có các chương trình bảo hiểm y tế riêng với ít nhiều khác biệt; chẳng hạn có nhiều tỉnh trả 100% chi phí khám bác sĩ, có tỉnh thì bệnh nhân phải trả chút ít co-payment. Nhưng nhìn chung thì chính quyền Liên bang là người cung cấp ngân sách và quy định luật lệ bảo hiểm cho các địa phương, đứng ra thương lượng về giá cả cho việc chữa trị, thiết bị y tế và thuốc men. Giá thuốc ở Canada rẽ hơn, chỉ bằng ¼ hoặc ½ giá ở Mỹ.




Đạo luật Canada Health Act 1984 quy định vấn đề bảo hiểm y tế như sau:



• Chương trình bảo hiểm của mỗi tỉnh phải do một cơ quan công cộng điều hành, không có mục đích kiếm lời (non-profit public body).



• Các chương trình bảo hiểm phải trả cho mọi dịch vụ y tế cần thiết (medically necessary services) được liệt kê trong danh sách của chính phủ Liên Bang.



• Bảo hiểm y tế của các tỉnh phải phổ quát, bảo đảm cho mọi công dân cơ hội đồng đều được chữa trị và cấp thuốc men theo quy định của kế hoạch. Các bác sĩ và bệnh viện phải tiếp nhận và chữa trị cho mọi bệnh nhân, không phân biệt, với cùng một mức giá cả.


• Bảo hiểm phải trả ở mọi nơi trên lãnh thổ Canada.




Với hệ thống bảo hiểm y tế như vậy, người Canadian không phải trả tiền cho việc khám bác sĩ, cho việc cấp cứu, nằm bệnh viện, bệnh tâm thần, chích ngừa, các xét nghiệm, MRI, v.v… Nhưng nha khoa thông thường thì không được bảo hiểm chi trả, chỉ có giải phẩu nha khoa tại bệnh viện thì khỏi trả tiền. Tại phần lớn các tỉnh, bệnh nhân phải trả tiền thuốc. Riêng người nghèo, già cả và bệnh kinh niên thì được miễn trả tiền thuốc.




Tuy hệ thống bảo hiểm y tế của chính phủ bao trùm phổ quát như vậy, nhưng bên cạnh vẫn có một số chương trình bảo hiểm tư nhân, dù rằng chiếm một bách phân rất nhỏ, dành cho các dịch vụ nha khoa hoặc những dịch vụ y tế mà bảo hiểm của chính phủ không đãm nhận. Các chương trình bảo hiểm tư nhân này rất rẽ so với Mỹ.




Một nhược điểm của bảo hiểm y tế Canada là thời gian chờ đợi cho một số các dịch vụ y tế đặc biêt thường kéo dài khá lâu. Chẳng hạn một ca giải phẩu cột sống phải chờ trung bình một năm; giải phẩu thay xương bả vai (shoulder arthroplasty) mất chừng 18 tháng chờ đợi; hoặc mổ thay cổ xương đùi phải chờ hằng 10 tháng!




Cùng với sự chờ đợi lâu như trên là sự thiếu hụt bác sĩ. Trung bình ở Canada có 2.2 bác sĩ / 1000 dân, trong khi ở Mỹ là 2.4/ 1000. Hiện nay chính phủ Canada đang nổ lực gia tăng ngân sách để thu hút thêm bác sĩ và giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân đối với các dịch vụ điều trị phức tạp và đặc biệt.




Ưu điểm của hệ thống Canada là chi phí điều hành của hệ thống bảo hiểm y tế thấp, phía cung cấp dịch vụ y tế, như bác sĩ hay bệnh viện, không phải gởi bills cho bệnh nhân, họ nhận thù lao thẳng từ các văn phòng bảo hiểm y tế của chính phủ. Ngoài ra, người dân Canada không ai phải khai phá sản vì chi phí y tế và cũng không ai chết vì lý do là không có bảo hiểm sức khoẻ và; do đó, đã không được chữa trị. Tử suất trẻ sơ sinh là 5.4 so với ở Mỹ là 7.0 (trên 1000 trẻ). Khả năng chữa trị những bệnh hiểm nghèo của nền y tế Canada, gọi là avoidable mortality, của Canada được WHO xếp hạng 7 trong số 19 quốc gia cao nhất thế giới ( Mỹ được xếp hạng 15/19) .





VIỆT NAM:




Cho đến nay tuổi thọ trung bình (life expectancy) của người Việt là 72.2 năm, tuổi thọ sống khoẻ mạnh (healthy life expectancy) là 60.2 năm, xếp hạng 116 trên tổng số 174 quốc gia được thống kê. Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế hoạch Gia đình thì có đến 1.5% trong tổng số 85.8 triệu dân thuộc về dạng chậm trí; 1.5-3% trẻ sinh ra có khuyết tật; Việt Nam hiện có 5.3 triệu người tật nguyền. Dân số gia tăng hàng năm là 947,000 người tương đương với tăng suất 1.2%, có giảm so với tăng suất 1.7% của năm 1999.




Trung bình có 5 bác sĩ cho 10,000 dân (Xin nhớ rằng tỉ số bác sĩ/ dân ở Mỹ là 2.4/1000). Theo thống kê năm 2001 thì chi phí y tế bình quân đầu người hằng năm của VN là 134 dollars/ người (so với Philippine 169$, Trung Quốc 224$, Nhật 2131$ và Úc 2532$). Cũng theo thống kê đó thì tổng chi phí y tế của VN chỉ chiếm 5.1% GDP (tổng sản lượng quốc gia).




Chi tiêu cho săn sóc y tế của chính phủ không được phân phối đồng đều giữa các thành phần dân cư và khu vực. Mức độ chi tiêu của nhà nước cho săn sóc y tế cũng rất thấp, chỉ chiếm chừng 1% của GDP. 80% chi phi y tế là do tiền túi của người dân (out-of-pocket).Mức chi tiêu quá ít này của nhà nước cho lãnh vực y tế hoàn toàn trái ngược với danh xưng Xã hội Chủ nghĩa của VN; nó là kết quả của “đổi mới để sống còn” để duy trì sự độc quyền của đảng CS và của áp lực từ các định chế quốc tế IMF, World Bank và WTO cũng như từ các quốc gia Tây phương đối với VN trong việc cắt giảm chi tiêu công ích, chuyển hướng hẳn về kinh tế thị trường, mở ngõ lãnh vực y tế nội địa cho quá trình tư nhân hoá và tư bản bên ngoài .




Những năm gần đây, Quỹ Y tế cho Người Nghèo (Health Care Funds for the Poor, HCFP) được thành lập, chỉ cấp rất khiêm tốn 70,000 đồng/người (gần 5dollars); trong đó trung ương cung cấp 76%, số còn lại do địa phương đóng góp. Số tiền đó được dùng hoặc để trả chi phí y tế cho những bệnh nhân nghèo, hoặc để giúp thêm vào việc mua bảo hiểm. Có chừng 11 triệu người hưởng sự giúp đỡ từ HCFP. Hiện Bộ Y tế VNCS đang có chương trình gia tăng gấp đôi ngân sách cho quỹ HCFP này.




Việc xữ dụng thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa trở nên phổ biến, đa số các giới cung cấp dịch vụ y tế vẫn duy trì thói quen thu tiền mặt từ bệnh nhân, không tỏ ra tích cực trong việc chấp nhận thẻ bảo hiểm. Kể từ 1992, chính quyền VNCS đưa ra những chương trình bảo hiểm y tế cưỡng bách và tự nguyện do cơ quan, đại diện của Bộ Y tế, là Bảo Hiểm Y tế VN điều hành. Có 3 chương trình:




1. Cưỡng bách: Dành cho công nhân viên trong biên chế nhà nước và trong các công ty tư nhân có từ 10 người trở lên. Lệ phí là 3% tiền lương, trong đó phía chủ nhân đóng 2%, công nhân đóng 1%.



2. Tự nguyện: Là chương trình dành cho học sinh, sinh viên và các nông dân. Thường nông dân đóng 30%, chính quyền cấp tỉnh đóng 70%.



3. Những chương trình dành cho người nghèo do nhà nước tài trợ.

Tóm lại hệ thống bảo hiểm y tế VN, trong bước đầu hướng theo kinh tế thị trường, vẫn còn thuộc về mô hình out-of-pocket của các nước thứ ba, trong đó 80% chi phi y tế được trang trãi bằng tiền túi của người dân. VN chưa có một hệ thống bảo hiểm y tế thống nhất, được tổ chức chặt chẻ với những luật lệ rõ ràng như các nước phát triển.






CƠ CẤU HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ HIỆN NAY CỦA MỸ:




Hệ thống y tế hiện nay của Mỹ là một hổn hợp của cả 4 mô hình nêu ở phần đầu:



A. Đối với những người trên 65 tuổi thì Mỹ lại theo mô hình của Canada. Hệ thống Medicare, do chính phủ Liên bang điều hành, là một hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát áp dụng cho mọi công dân trên 65 tuổi. Mỹ hoàn toàn sao chép chương trình này từ Canada, kể cả tên gọi, từ năm 1965. Chính phủ chi trả cho tất cả mọi chi phí y tế cho các thành viên của chương trình Medicare. Số người trên 65 tuổi chiếm khoảng 13%, tức chừng 40 triệu (con số năm 2007).



B. Người Da đỏ, Quân nhân và Cựu chiến binh thì được hưởng bảo hiểm y tế theo mô hình Beveridge của Anh. Chính phủ Liên bang đảm nhiệm cả việc cung cấp dịch vụ y tế lẫn việc chi trả cho các dịch vụ đó. Các trạm xá và bệnh viện đều là của chính phủ Liên bang; các bác sĩ là nhân viên của chính phủ.


C. Những người trong độ tuổi lao động lại thuộc về mô hình Bismarck. Các chủ nhân và các công ty cùng với công nhân, viên chức chia nhau chi phí mua bảo hiểm. Và công nhân trả thêm co-payment cho một số dịch vụ y tế. Các hảng bảo hiểm y tế hoàn toàn là tư nhân, là những tổ chức có mục đích kiếm lời (for profit entity). Nhóm này chiếm đại đa số dân chúng, đến khoảng 160 triệu người.



D. Cuối cùng là những người không có bảo hiểm y tế. Thành phần này rơi vào mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model) nói ở trên. Nghĩa là họ phải dùng tiền riêng của mình để trả cho toàn bộ những chi phí y tế do họ phát sinh. Hiện nay có chừng hơn 47 triệu người Mỹ thuộc vào mô hình này!






NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN NAY CỦA HỆ THỐNG Y TẾ MỸ




• Phẩm chất của nền y tế kém so với chi phí cao và gia tăng nhanh. Mỹ là nơi quy tụ các bác sĩ, chuyên gia y tế, y cụ và phương pháp điều trị tối tân vào bậc nhất trên thế giới.Tuy nhiên, một cách tổng quát thì phẩm chất của nền y tế, xét theo các tiêu chuẩn quốc tế, lại không cao so với các quốc gia khác và so với mức chi phí. Có đến gần 47 triệu người không có bảo hiểm, khoảng 25 triệu với bảo hiểm giới hạn và hàng năm có đến cả trăm ngàn người chết chỉ vì lý do đơn giản là không có bảo hiểm để được gặp bác sĩ, được chẩn đoán và điều trị.




• Chi phí săn sóc y tế hàng năm của Mỹ cao hơn các nước khác; chẳng hạn gấp đôi Canada, chiếm đến gần 17% Tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và mức chi phí y tế gia tăng quá nhanh; gần gấp đôi chỉ trong vòng chưa đầy một thập niên.




• Các hảng bảo hiểm khống chế thị trường, đẩy giá bảo hiểm lên cao khiến nhiều người không mua nổi. Có trường hợp hảng bảo hiểm từ chối bảo hiểm khi bệnh xảy ra cho những người đã có mầm bệnh, hoặc những chứng liên quan, trước khi mua bảo hiểm, nhưng không ghi trong hợp đồng bảo hiểm; tiếng Mỹ gọi là pre-existing conditions.




• Tất cả các hảng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, for-profit organization; lý do tồn tại của các hảng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải vì sức khoẻ của khách hàng. Quyền lợi kinh tế của hảng bảo hiểm và quyền lợi y tế của khách hàng luôn mâu thuẩn và tiêu trừ lẫn nhau. Một trong những thủ thuật thông thường của các hảng bảo hiểm là từ chối, hoặc trì hoản, chi trả phí tổn dịch vụ y tế cho khách hàng (deny or delay customer’s claim payments). Họ mướn những chuyên viên để lo việc này (gọi là các claim adjusters), hoặc thiết lập các hệ thống computer tối tân để tự động hoá việc từ chối chi trả. Họ cũng tưởng thưởng cho những nhân viên nào thực hiện được tốt những sự từ chối hoặc trì hoãn như vậy. Theo National Association of Insurance Commissioner thì chỉ riêng trong năm 2008 có đến hơn 195,000 khiếu nại của khách hàng về việc bị các hảng bảo hiểm từ chối chi trả dịch vụ y tế. Có trường hợp khách hàng đã chết rồi mà sự khiếu nại vẫn chưa giải quyết




• Ngoài ra còn có trường hợp huỷ bỏ hồi tố hợp đồng bảo hiểm (retroactive cancellations/ after-the-fact policy cancellations) nếu hảng bảo hiễm khám phá ra là khách hàng trước đó, khi ký hợp đồng bảo hiểm, đã cố ý hay vô tình không khai một chi tiết bệnh lý nào đó trong hồ sơ cá nhân của mình. Ngay cả những người vì không biết mà không khai cũng chịu sự chế tài đó. Và sự huỷ bỏ này có thể áp dụng cho cả gia đình dù chỉ một thành viên trong gia đình sai phạm. Chẳng hạn một phụ nữa ở Texas bị phát hiện có bướu trong vú. Ngay lúc đó hảng bảo hiểm điều tra và tìm ra là trước đó người phụ nữ này đã mắc chứng rỗng xương (osteoporosis) mà không khai khi lập hợp đồng bảo hiểm. Tuy rằng chẳng có mối liên hệ gì giữa hai căn bệnh, hảng bảo hiểm vẫn lấy lý do đó để huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm!




• Sự an toàn của các dịch vụ y tế là một vấn đề khác. Hàng năm có đến gần 100,000 người chết trong các bệnh viện gây ra do các nhầm lẫn có thể tránh được trong dịch vụ y tế (preventable medical errors), nhiều hơn thương vong do tai nạn xe cộ hay do bệnh AIDS! Vấn đề này dẩn đến việc giới cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, dược sĩ, bệnh viện, v.v… phải trả bảo hiểm nghề nghiệp cao hơn nhiều lần so với đồng nghiệp ở các quốc gia khác. Nó cũng làm gia tăng các vụ kiện tụng giữa bệnh nhân và các bác sĩ. Tất cả những vấn đề này góp phần không nhỏ vào việc đẩy chi phí y tế nói chung lên cao rất nhanh; hơn gấp đôi chỉ trong một thập niên.




• Một thiếu sót khác liên quan đến vấn đề phòng bệnh (preventive care). Khác với các quốc gia tiên tiến khác, như Anh Quốc chẳng hạn, hệ thống y tế của Mỹ không chú ý đúng mức đến công tác phòng bệnh. Những bệnh trạng đứng đầu trong danh sách gây tử vong hàng năm như các chứng tim mạch, tiểu đường, ung thư phổi, ung thư vú, v.v… là những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được với hiệu quả cao nếu như sự phòng bệnh được thực hiện chu đáo và người dân có bảo hiểm y tế đầy đủ. Sự thiếu chú trọng đến vấn đề phòng bệnh phản ảnh trong hiện tượng thiếu thốn bác sĩ gia đình.Một số ước tính trong năm 2008 cho thấy nước Mỹ thiếu đến 14,000 bác sĩ gia đình. Hiện nay bác sĩ tổng quát chỉ chiếm 35% tổng số bác sĩ; so với Anh Quốc là 60%.Thu nhập trung bình của một bác sĩ tổng quát là chừng 200,000 dollars/năm; của một bác sĩ giải phẩu chừng 350,000 dollars/năm. Tỉ lệ sinh viên y khoa chọn đi chuyên ngành rất cao so với số chọn đi toàn khoa. Học phí tại các trường Y khoa rất đắt, trung bình một sinh viên y khoa tốt nghiệp nợ từ 60,000 cho đến 100,000 dollars!




• Sự hạn định dịch vụ y tế (healthcare rationing): Một vấn đề khác trong bảo hiểm y tế ở Mỹ, ít được đề cập đến, là sự hạn định các dịch vụ y tế đối với bệnh nhân. Trước hết là sự giới hạn việc đi khám bác sĩ. Thông thường hảng bảo hiểm buộc bệnh nhân chỉ được đến khám ở những bác sĩ có tên trong một mạng nhất định (in network); hảng bảo hiểm sẽ không chi trả nếu người bệnh tự ý đi khám ở những bác sĩ ngoài mạng (out-of network). Việc phải trả co-payment hoặc deductible cũng là những hình thức buộc người bệnh phải tự hạn định mình trong việc đi khám bác sĩ hoặc chữa trị. Kế đến là hảng bảo hiểm từ chối không chi trả cho những sự chữa trị hoặc các dược liệu nào đó đối với bệnh nhân (như CT scan, làng răng gỉa, niền răng, chiropractice, thuốc mới…). Các bác sĩ chỉ có quyền đề nghị sự chữa trị hay các xét nghiệm; còn người quyết định cuối cùng trong mọi trường hợp, ngoài bệnh nhân ra, là hảng bảo hiểm với quyền chi trả của mình.



Ngay cả bảo hiểm của chính phủ, như Medicare hay Medicaid, cũng có sự hạn định nêu trên. Sự khác biệt là những hạn định của bảo hiểm chính phủ không vì mục đích kiếm lời, như của bảo hiểm tư nhân, mà thường là để dành một số dịch vụ nào đó cho những trường hợp cần thiết hơn.






QUAN ĐIỂM VỀ CẢI CÁCH CỦA HAI BÊN

A.-NHỮNG ĐIỂM CHÍNH TRONG KẾ HOẠCH CỦA TT OBAMA:





1. Nổ lực đầu tiên đáng chú ý trong kế hoạch của chính phủ của TT Obama là tìm cách tạo một hệ thống bảo hiểm phổ quát để chấm dứt tình trạng về số lượng người không có bảo hiểm quá lớn hiện nay. Theo kế hoạch đó một cơ quan có tên là Health Insurance Exchange (HIE) sẽ được thành lập với nhiệm vụ thực hiện các cải cách y tế, bảo vệ giới tiêu thụ, thúc đẩy việc mua bảo hiểm, điều hành các tín dụng, giúp những người có lợi tức thấp và trung bình mua bảo hiểm. Chính yếu là HIE sẽ tạo ra một loại bảo hiểm y tế công cộng (public insurance option) do chính phủ điều hành với nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi, bằng tín dụng thuế và giá bảo hiểm rẻ, để cho những người hiện nay không mua nổi bảo hiểm, những người lợi tức thấp và các tiểu chủ (small business) có thể mua được bảo hiểm y tế với đầy đủ phẩm chất quy định. Vai trò đặc biệt của bảo hiểm công cộng là cải thiện mức cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm bằng cách trở thành đối trọng của hệ thống các công ty bảo hiểm tư nhân.




2. Kế hoạch cũng đề ra những biện pháp nhằm chấm dứt việc các hảng bảo hiểm tư nhân từ chối bán bảo hiểm cho một số người nào đó vì tình trạng sức khoẻ của họ, hoặc huỷ bỏ bảo hiểm vì những điều kiện bệnh lý trong quá khứ (pre-exising conditions) trước ngày ký hợp đồng bảo hiểm. Theo kế hoạch này thì lệ phí bảo hiểm (premiums) không được tăng cao vì các lý do sức khoẻ, tính phái; mà chỉ được biến đổi dựa vào tuổi tác, kích thước gia đình và vùng địa lý mà thôi.




3. Phẩm chất tiêu chuẩn: Một Uỷ ban Tư vấn (Advisory Committee) gồm các chuyên gia trong giới cung cấp dịch vụ y tế (providers), với sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ Y tế, sẽ soạn thảo một bộ tiêu chuẩn phẩm chất bảo hiểm tối thiểu (minimum quality standard) làm căn bản cho mọi hợp đồng bảo hiểm. Tiêu chuẩn căn bản đó sẽ bao gồm các dịch vụ phòng bệnh miễn phí, các dịch vụ dành cho bệnh tâm thần, y tế đối với mắt và tai của trẻ em, cũng như ấn định giới hạn ở đó cá nhân hay gia đình phải trả thêm hàng năm cho co-payment và dedutible. Giới hạn việc trả out-of-pocket này là để tránh việc đẩy bệnh nhân vào tình trạng phá sản vì chi phí y tế khi gặp tai nạn hay bệnh nan y.




4. Một thang tín dụng thuế, gọi là scale affordability credits, sẽ được thiết lập để giúp giới nghèo có đủ khả năng mua bảo hiểm. Tín dụng đó khởi sự nhiều cho người nghèo và sẽ giảm dần theo mức lợi tức gia tăng; là zero đối với người có lợi tức cao hơn 43,000 dollars/năm (hoặc 88,000 dollars/ gia đình).




5. Mở rộng chương trình Medicaid: Những người có lợi tức bằng 133% mức nghèo khổ của Liên bang sẽ được hưởng một chương trình Medicaid mở rộng trong đó mức chi trả cho bác sĩ sẽ được gia tăng. Sự mở rộng chương trình Medicaid này hoàn toàn do Liên bang tài trợ. Chương trình Medicare của người già cũng sẽ được cải thiện.




6. Cá nhân nào tự ý không mua bảo hiểm y tế sẽ bị chế tài bằng 2.5% của mức lợi tức chịu thuế hàng năm (modified adjusted gross income, modified AGI).




7. Các công ty và chủ nhân có quyền chọn lưạ hoặc cung cấp bảo hiểm y tế cho công nhân mình theo phẩm chất tiêu chuẩn, hoặc không thì đóng tiền vào quỹ bảo hiểm cho công nhân với mức là 8% của mức lương. Những tiểu doanh nghiệp lợi tức dưới 250,000 dollars/ năm thì được miễn đòi hỏi bảo hiểm y tế cho công nhân. Những doanh nghiệp có lợi tức trên 250,000 dollars sẽ đóng 2% mức lương và doanh nghiệp có lợi tức 400,000 dollars trở lên sẽ phải đóng 8% cho bảo hiểm y tế đối vớ công nhân mình. Những tiểu chủ mua bảo hiểm y tế cho công nhân của cơ sở mình sẽ được hưởng tín dụng thuế.




8. Cuối cùng, kế hoạch đề ra thêm một số biện pháp nhằm cắt giảm chi phí của hệ thống y tế toàn quốc. Biện pháp đầu tiên là chú trọng nhiều hơn đến sự phòng bệnh. Kế đến là tìm cách loại trừ những lãng phí, sai sót và lạm dụng trong hệ thống; đặc biệt là giảm thiểu các sai sót y tế (malpractice) và những vụ kiện tụng liên quan đến vấn đề này. Sau cùng là tối tân hoá và giản dị hoá sự điều hành của hệ thống.






B. CÁC QUAN ĐIỂM ĐỐI LẬP:


Có nhiều quan điểm đối lập được đưa ra dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng có thể vắn tắt tóm gọn vào 3 quan điểm chính sau:




1. Trước hết, có một số quan điểm cho rằng kế hoạch cải cách y tế của chính phủ Obama là nhằm mục đích xã hội hoá nền y tế (socialized medicine); làm suy yếu kinh tế thị trường và tự do cạnh tranh vốn là tính chất đặc thù của xã hội Mỹ; và làm cho quyền lực của chính quyền Liên bang ngày càng lớn hơn, trái với truyền thống chính trị của người Mỹ. Người ta cho rằng sự can thiệp sâu của chính phủ vào lãnh vực bảo hiểm y tế sẽ làm giảm hiệu năng của nền y tế, hạn chế sự cạnh tranh lành mạnh, vi phạm quyền tự do cá nhân và tạo thêm một bộ máy quan liêu ngăn trở người dân trong việc chọn lựa dịch vụ y tế thích hợp.





2. Bảo hiểm y tế công cộng (Public insurance option, hoặc Public option) do chính phủ điều hành, là một dạng khác của chương trình Medicaire, sẽ đặt thị trường y tế trong một môi trường cạnh tranh không công bằng, đẩy các công ty bảo hiểm tư nhân vào phá sản, và cắt giảm thu nhập của giới cung cấp dịch vụ y tế (bác sĩ và bệnh viện). Bảo hiểm y tế công cộng sẽ dẩn đến việc cắt giảm giá cả thị trường một cách tuỳ tiện, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực hơn là giải quyết vấn đề. Vì vấn đề hiện nay của hệ thống y tế không phải là vấn đề giá cả mà là vấn đề hiệu năng, và bảo hiểm công cộng, hay Public option, chẳng những không phải là giải pháp cho vấn đề hiệu năng (efficiency), mà trái lại còn tăng thêm sự quá lạm trong việc tiến hành chữa trị và điều hành của nền y tế. Những người chủ trương quan điểm này đã dẩn chứng chương trình Medicare như là một ví dụ điển hình của sự thất bại của gỉai pháp bảo hiểm y tế công cộng do chính phủ điều hành.




3. Phí tổn cho kế hoạch là quá lớn. Mối quan tâm lớn nhất là chi phí lớn lao do việc thực hiện kế hoạc cải cách y tế sẽ tạo ra. Dự trù lúc đầu là sẽ mất 1,000 tỉ dollars trong 10 năm. Đó là một chi phí lớn trong tình hình kinh tế suy thoái nặng nề và nợ nần chồng chất của nước Mỹ hiện nay. Theo lời của Dân biểu Quốc hội, bác sĩ Charles Boustany, thuộc đảng Cộng Hoà thì kế hoạch cải cách của chính phủ sẽ tăng thêm hàng trăm tỉ dollars nợ cho cả nước, người dân phải trả thêm chừng 600 tỉ dollars tiền thuế, chương trình Medicare sẽ bị cắt giảm khỏang 500 tỉ, tất cả để có kinh phí trang trải cho kế hoạch cải cách do chính phủ đưa ra. Phí tổn lớn lao đó sẽ là gánh nặng tài chánh lớn lao cho các thế hệ tương lai.




Cùng với mối quan tâm về kinh phí cho kế hoạch cải cách, có một số người cho rằng việc cải cách y tế chưa quá cấp bách, trước mắt cần nổ lực vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, việc cải cách y tế nên được hoãn lại.

Trên đây là các quan điểm chính chống lại kế hoạch cải cách y tế của chính phủ Obama đưa ra. Những quan điểm đó đã gợi dẫn những phản bác như sau:




Việc xem xã hội hoá y tế như là một điều xấu xa và đồng nhất nó với hệ thống xã hội chủ nghĩa là sai, không có căn cứ. Trước hết, hệ thống y tế các quốc gia tân tiến khác ở Âu Châu cho thấy rằng việc xã hội hoá y tế không có gì là xấu, và không nhất thiết phải đi ngược với bản chất của nền kinh tế thị trường hoặc làm giảm sút sự cạnh tranh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trái lại, chính nhờ phần nào vào việc xã hội hoá nền y tế như Pháp, Nhật, Đài Loan, Canada, Anh quốc v.v… mà nhiều quốc gia có được một hệ thống y tế lành mạnh, hiệu năng cao, phổ quát và chi phí thấp hơn hệ thống của Mỹ rất nhiều. Hơn nữa, tính chất đặc trưng của chế độ xã hội chủ nghĩa là sự công hữu hoá phương tiện sản xuất của toàn xã hội, chứ không chỉ là việc chính quyền tham gia vào việc điều hành một hệ thống bảo hiểm y tế không vì lợi nhuận (not-for-profit entity) mà vì lợi ích chung.





Còn nếu hiểu xã hội hoá y tế là việc chính quyền đứng ra điều hành việc bảo hiểm y tế cho dân chúng thì từ mấy chục năm qua, một phần trong hệ thống y tế của Mỹ đã có sự hiện diện của sự xã hội hoá; các chương trình Medicare và Medicaid chính là thuộc về hình thái ấy và đã tồn tại suốt mấy thập niên qua, không tác hại gì đến sự tự do cạnh tranh của nền kinh tế.




Mục tiêu chính của sự chống đối là kế hoạch bảo hiểm y tế công cộng, Public option. Điểm đáng chú ý là sự chống đối kế hoạch đó không chỉ đến từ phiá những người của đảng Cộng Hoà, mà cả trong hàng ngũ đảng Dân Chủ nữa. Kế hoạch bảo hiểm công cộng này còn gặp phải sự chống đối mãnh liệt hơn cả chương trình Medicare trước đây, và là nguồn gốc chính phát sinh ra tất cả những sự chống đối khác, đa dạng hơn mà phạm vi hạn hẹp của bài viết này không thể đề cập hết.





Sự chống đối quyết liệt đối với Public Option tương đối không khó hiểu.Nhìn vào cơ cấu hệ thống hiện nay mọi người sẽ thấy ngay rằng, hệ thống các hảng bảo hiểm y tế tư nhân đã độc chiếm thị trường hơn 160 triệu khách hàng của những người trong hạng tuổi lao động suốt mấy chục năm qua. Xét từ góc độ kinh doanh thì đây là thị trường gồm những đối tượng ít rủi ro (low risk), và hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao (high return) nhất. Họ là những người có xác suất bệnh tật thấp, nhu cầu xữ dụng dịch vụ y tế ít hơn so với những người cao niên hay những người trong quân ngũ và cựu chiến binh, là những người thuộc về các chương trình Medicare và VA. Hệ thống bảo hiểm tư nhân, như vậy đã chiếm lĩnh từ hàng chục năm qua một thị trường béo bỡ nhất. Thị trường này đã mang lại những lợi nhuận khổng lồ, cho cả các hảng bảo hiểm lẫn các đại công ty chế tạo dược phẩm. Theo thống kê năm 2008, thì 5 hảng bảo hiểm y tế lớn nhất hưởng được trung bình mỗi hảng là 1.56 tỉ dollars tiền lời. Giám đốc của các hảng này có thu nhập trung bình là 15 triệu dollar/năm! . Ngoài ra, sự hiện diện một đội ngũ hơn 47 triệu người, trong độ tuổi lao động, không có bảo hiểm là một yếu tố rất tốt để duy trì mức cầu cao , giúp các hảng bảo hiểm y tế luôn giữ được giá cả mong muốn. Việc đưa cơ quan bảo hiểm công cộng (public option), do chính phủ điều hành, vào trong thị trường này để làm đối thủ cạnh tranh, sẽ là một đe doạ nghiêm trọng, khó lòng chấp nhận được, đối với quyền lợi kinh tế của các hảng bảo hiểm y tế tư nhân. Đó là lý do sâu kín nhất của mọi phản ứng đối với Public option.





Những món lợi nhuận khổng lồ đã giúp các hảng bảo hiểm y tế có hấp lực rất mạnh đối với giới đầu tư (investors) ở Wallstreet, New York.Và cũng chính vì vậy mà các hảng bảo hiểm đó đang có khuynh hướng tập trung lại trong những tổ hợp lớn (consolidation) để gia tăng khả năng khống chế thị trường. Bằng chứng là có nhiều vùng địa lý rộng lớn chỉ có 2, 3 hảng bảo hiểm y tế cung cấp bảo hiểm cho nhiều triệu người; nghĩa là một khuynh hướng làm giảm thiểu cạnh tranh tự do.Điều ngạc nhiên là những người cổ vũ cho kinh tế thị trường và bảo vệ tự do cạnh tranh, đặc biệt là các chính khách ở Washington D.C., lại ít chống đối khuynh hướng độc quyền trá hình này của các hảng bảo hiểm hơn là chống lại kế hoạch bảo hiểm công cộng, public option, một kế hoạch có mục đích gia tăng cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm, của chính phủ hiện nay.






Một khiá cạnh đáng chú ý khác là sự vận động hành lang (lobby activity) ở thủ đô Washington liên quan đến công cuộc cải cách bảo hiểm y tế hiện nay. Theo Bloomberg thì có khoảng 3,300 lobbyists đang thường xuyên vận động các Dân biểu và Nghị sĩ cho vấn đề cải cách y tế; tính trung bình có 6 lobbyists cho một vị dân cử ! Có 1,500 tổ chức vận động hành lang về y tế ghi danh, thông qua 10 công ty vận động hành lang chuyên nghiệp. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2009 giới vận động hành lang này đã chi hơn 260 triệu dollars cho hoạt động của mình. Đa số nổ lực vận động này đến từ phiá các công ty bảo hiểm y tế và công ty sản xuất dược phẩm. Điều đó cho thấy ai là người thật sự đang đứng đằng sau những chống đối quyết liệt hiện nay đối với giải pháp Public Option.






Cuối cùng, còn có vài câu hỏi tuy đơn giản, nhưng quan trọng, laị bị chìm khuất trong các tranh luận, có ít cơ hội xuất hiện trên diễn đàn Quốc Hội cũng như trên các phương tiện truyền thông; đó là: Chăm sóc y tế là vấn đề đạo đức hay vấn đề kinh tế? Và chăm sóc y tế có nên trở thành một quyền của con người trong xã hội hay không? Hy vọng rằng những vấn đề này sẽ được đề cập đến rộng rãi hơn trong tương lai. Bởi vì chỉ có giải quyết xong những vấn đề đó thì nước Mỹ mới thật sự có một nền y tế tương xứng với vai trò quốc tế của mình.




Ngay khi những dòng cuối này đang được viết ra thì số phận của dự luật cải cách y tế vẫn chưa rõ ràng. Hìện dự luật đang được giao cho Tiểu ban Tài chánh Thượng Viện thảo luận, nhưng tin mới nhất cho biết là nổ lực thoả hiệp của TNS Max Baucus, người đứng đầu “ Gang of Six” đang gặp phải sự phản đối, không chỉ từ phiá các nhà lập pháp đảng Cộng Hoà mà ngay cả, của đảng Dân Chủ. Dự định của TT Obama để ký một đạo luật lịch sử về cải cách y tế trước cuối năm nay, như vậy, không biết có tựu thành hay không? Đành chờ xem!








Sunnyvale, CA 20/9/2009
TRƯƠNG ĐÌNH TRUNG








Tài Liệu tham khảo:
The Healing of America, T.T.Reid, Penguin Press, New York 2009.
WHO, the World Health Report 2000.
http://en.wikipedia.org/wiki/Taxation_in_the_United_Kingdom
http://en.wikipedia.org/wiki/Comparison_of_Canadian_and_American_health_care_systems.
Health Affairs, May/June 2001.
http://www.presscenter.org.vn/en/content/view/924/89/.
Susan Adam, Vietnam healthcare system, IMF-Hanoi, 2005.
http://www.moneyandmarkets.com/health-care-war-35069.
http://patients.about.com/od/empowermentbasics/a/iom-err.htm.
http://www.cejkasearch.com/compensation/amga_physician_compensation_survey.htm
House Committees on Ways and Means, Energy and Commerce, and Education and Labor, July 14,2009.
http://www.pbs.org/newshour/bb/health/july-dec09/health_09-02.html.
http://www.familiesusa.org/assets/pdfs/health-reform/why-a-public-plan-is-important.pdf.
http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601070&sid=aqMce51JoZWw.