Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 Bình Định, Những Ngày Trong Chiến Tranh

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Bình Định, Những Ngày Trong Chiến Tranh

In PDF.



(Đọc Hồi ký "Ở Lại Dòng Sông" của Nguyễn Trung Tín, Nguyên Bí Thư Tỉnh Ủy Bình Định)




   Sau khi Nhật đầu hàng quân đội Đồng Minh. Cuộc khởi nghĩa của Việt Minh, mùa thu tháng 8 năm 1945 thành công. Trong khí thế hăng say giành độc lập sau hơn 80 năm bị đô hộ, đồng bào không phân biệt tôn giáo đảng phái, tham gia mọi công tác xây dựng đất nước do Việt minh đề xướng. Quân đội  Pháp theo chân quân đội Hoàng gia Anh vào Việt nam tước khí giới quân đội Nhật. Chiến tranh Việt Pháp lại bùng nổ.


 Miền Nam Trung Việt lúc bấy giờ được phân ra hai khu vực rõ rệt: Nam từ Đèo Cả trở vào, Bắc từ sông Thu bồn trở ra, Tây từ đèo An khê trở lên là vùng thuộc Pháp, Việt Minh gọi là vùng bị chiếm. Phần còn lại từ mạn Nam sông Thu bồn cho đến Bắc Đèo Cả do Việt Minh kiểm soát được gọi là vùng tự do Liên Khu 5. Từ  năm 1946 đến trước khi ký kết Hiệp định Genève tháng 5 năm 1954, vùng Liên Khu 5 trong suốt cuộc kháng chiến chín năm đã trở thành hậu phương vững chắc.


Với những ưu thế về địa lý, kinh tế, đất đai, dân số..., Bình Định trở thành Thủ Phủ của Liên Khu Kháng Chiến gồm Liên Khu ủy Liên Khu 5, Ủy ban Kháng Chiến Hành Chánh Nam Trung bộ, Cơ quan Thông tin Tuyên truyền, Tòa án, Tư pháp, Mặt trận Liên Việt, Nhà xuất bản Sự Thật, Nhà in Sao Vàng, Cơ quan In Bạc Tín phiếu... đều đóng tại Hoài Ân, Hoài Nhơn, An Lão. Đặc biệt Đài phát thanh "Tiếng nói Nam Bộ" tại An Lão, hàng ngày phát đi tin tức "kháng chiến trong Nam". Thời ấy, các cơ quan kháng chiến, các cán bộ của Đảng và Ủy ban hành chính Liên Khu đều ở trong nhà dân.


 Bồng Sơn còn là nơi hội tụ dân cư từ Quảng Nam vào và Phú Yên, Khánh Hòa ra. Dân các vùng này đã tản cư về đây, làm ăn sinh sống, tạo cho vùng đất này thêm đông đúc. Bồng Sơn trở thành một đô thị Kháng Chiến sầm uất. Đường sá được khôi phục từ thị xã Tam Kỳ vào thị trấn Bồng Sơn. Cảng Kỳ Hà - Bến Vạn (Tam Kỳ) là tiểu cảng xuất nhập khẩu. Hàng tiêu dùng, vải vóc, thuốc chữa bệnh từ Đà Nẵng vào, hàng hóa từ Bình Định ra cũng đều qua bến cảng này. Giao thương rất nhộn nhịp. Bình Định còn là nơi sản xuất các loại hàng tiêu dùng cung cấp cho cả vùng tự do miền Trung... Đồng tiền Tín phiếu Việt Minh được sử dụng để trao đổi hàng hóa.


Khi lệnh Toàn-quốc-Kháng-chiến (tháng 12.1946). Thị xã Qui Nhơn được đặt trong tình trạng tản cư và tiêu thổ.  Dân chúng lương, giáo đều bị bắt buộc rời khỏi thành phố về các làng mạc vùng nông thôn. Tất cả lâu đài, dinh thự, phố xá, nhà cửa đều có lệnh phải triệt phá. Đường sá bị đào phá và cắt đứt từng đoạn, cầu cống bị giật sập, sông nào sâu có đò du kích đưa qua, nơi nào cạn không đò phải vác xe lội bộ. Ban ngày thường bị máy bay Pháp oanh kích nên mọi sinh hoạt đều phải tổ chức ban đêm. Các nhà thờ, thánh lễ chủ nhật cũng phải cử hành vào lúc trời chưa sáng. Giáo dân ở xa phải đi từ nửa đêm, do chính sách tiết kiệm, người dân chỉ được mặc quần đùi áo cánh, nên giáo dân phải gói gọn quần áo dài cầm theo đến nhà thờ mới dám mặc, xem lễ xong lại cởi ra gói lại mang về.


Bình Định luôn luôn phải đón nhận những trận càn, nhiều ngày, nhiều tháng các gia đình phải bồng bế con cái chạy tản cư vào vùng núi vì giặc tới. Rất nhiều đợt máy bay Pháp quần đảo ném bom bắn phá, làng xóm, nhà cửa bị cháy năm lần bảy lượt.


 Dọc ven biển, dựng các trạm gác trên các mỏm núi cao, dùng trụ "bồ" treo báo hiệu. Khi phát hiện có máy bay địch từ xa thì kéo bồ lên, thuyền bè, người tìm chỗ nấp; khi tàu địch đi thì hạ bồ xuống. Đặc biệt là phong trào đi dân công hỏa tuyến, người dân Bình Định đã vượt qua mọi hy sinh gian khổ, từ năm 1948, trung bình mỗi năm đã có hàng chục vạn lượt người, bằng mọi phương tiện ngựa, xe đạp, quang gánh... vận chuyển hàng ngàn tấn gạo, muối, vũ khí, nông cụ từ hậu phương đến các mặt trận Kon Tum, Gia Lai. Kể từ năm 1947, chính sách thuế Nông nghiệp được ban hành. Các giáo xứ đều có ruộng đất, bị ghép vào thành phần địa chủ độc lập phải đóng thuế cao mức ấn định là 45% lợi tức. Ruộng phát canh lợi tức chia đôi, người chủ ruộng nhận 50%, đóng thuế 45% vẫn còn 5% để dùng. Nhưng thực tế, sản lượng thu hoạch do Ban Nông hội bình nghị và ấn định thường cao gấp đôi so số lượng thực sự thu hoạch. Mỗi kỳ thu lúa vào gom góp chỉ mới nạp được phân nửa số thuế. Mỗi năm có hai vụ lúa là hai lần nạp thuế. Mỗi mùa thuế thu làm ba đợt: tạm thu, tiếp thu và thanh thu. Nông hộ nào đợt tạm thu chưa đủ thì qua đợt tiếp thu phải bán dụng cụ, đồ vật trong nhà để đóng. Nếu còn thiếu, đến đợt thanh thu bắt buộc phải thanh toán cho xong. Không nạp đủ thuế, hộ chủ bị chính quyền đòi lên buộc phải viết giấy hẹn thanh toán. Nông hộ còn tổ chức những buổi họp nhân dân ngoài trời, mang các hộ chủ chưa trả đủ thuế ra để nhục mạ, ném đá, hay nhiều hình thức hành hạ khác và bắt hứa có kỳ hẹn thanh toán trước dân. Chẳng những chủ ruộng, người lãnh ruộng cũng không thể nào kiếm đủ lúa đóng thuế nông nghiệp cho nên phải trả ruộng lại. Ruộng không người canh tác Nhà nước tịch thu cấp phát cho bần cố nông.


Cuối năm 1949, những cuộc lén lút vượt tuyến trốn thoát được vào Nha trang hoặc ra Đà nẵng. Nhiều cuộc vượt tuyến khác được tổ chức thành phần ra đi phần đông là trí thức, thanh niên và nhất là học sinh. Việt minh bấy giờ chưa có lực lượng kiểm soát vùng ven biển nên các ghe thuyền đánh cá cũng dễ dàng đưa người trốn đi, có những người mạo hiểm băng rừng vượt suối hoặc men theo đường xe lửa ra đến Trà kiệu là vùng Pháp kiểm soát. Cho đến đầu năm 1950 Việt minh mới khám phá ra phong trào vượt tuyến  bị bắt tại cửa Cách thử .


 Để đàn áp phong trào và khủng bố tinh thần khối Công giáo, họ đã lần lượt cho bắt hết những người liên can hay bị tình nghi chống lại chế độ và thẳng tay trừng trị.


 Tại Bình Định một số đông Linh mục bị bắt như cha Ân, cha Tịch, cha Bính (xứ Tân dinh), cha Tới (xứ Gò thị), cha Bảo (xứ Lạc điền), cha Suất (xứ Kim châu), cha Hội (xứ Xóm Chuối vừa thay cha Lành), cha Biên (Qui hoà), cha Nhã (Chủng viện), cha Tước (xứ Gia chiểu)... Một số Thầy già cũng bị bắt như Thầy Vang ở Gò thị, thầy Y ở Thạnh hòa, thầy Quá ở Kim châu, thầy Như ở Nhà đá. Về thành phần nhân sĩ trí thức gồm có: các ông Đoàn Đức Thoan, Nguyễn Hữu Lộc, Võ Minh Vinh, Đặng Hiếu An, Đoàn Thế Khuyến, Đặng Hiếu Khẩn, Đoàn Thế Nhơn, Võ Thu Tịnh, Đào Trữ, Nguyễn Bá Tín, Nguyễn Bá Lý, Trần Tài, Trần Lộc ... Riêng cụ Tạ Chương Phùng bị Công an lùng bắt may mắn thoát vào vùng Quốc gia. Ngoài ra còn một số đông thanh niên cũng bị bắt đi. Tính đến năm 1951, số bị bắt lên đến hai ngàn người.


Tại Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên cũng có người bị bắt như giáo sư Phạm đình Nghị bị tình nghi có liên can. Linh mục Sơn Ủy ban Hành kháng Liên Khu V mời họp vừa tới Sa huỳnh bị Công an đón đường bắt dẫn đi.


Việt Minh dựng lại vụ án này gọi là Vụ "Gián Điệp Bình Định" để lập bản cáo trạng kết tội phản quốc làm tay sai cho Pháp.


Cuối năm 1951 một phiên toà Quân sự đặc biệt Liên Khu 5 mở ra để xét xử. Phiên toà kéo dài trong 15 đêm để nghe Công tố viên đọc bản cáo trạng và đưa đến phán quyết có 4 án tử hình gồm: Đoàn Đức Thoan, cựu Tri huyện Phù cát, Nguyễn Hữu Lộc, giáo sư, Võ Minh Vinh, chức sắc Cao đài và Tạ Chương Phùng, nhân sĩ (xử khuyết tịch): tội trạng phản quốc, thuộc thành phần chính phủ Việt gian - 8 án chung thân với tội tham gia tổ chức và làm kinh tài cho Việt gian: linh mục Ân, linh mục Tịch, Nguyễn Bá Tín, Nguyễn Bá Lý, Đoàn Thế Khuyến, Đặng Hiếu An, Đào Trữ, Đoàn Thế Nhơn (Võ Phiến) . Gần 200 người khác lãnh án tù từ 5 đến 20 năm. Số còn lại gần 2000 người được tha nhưng bị quản chế  có thời hạn tại địa phương.


   Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954), Hội nghị Genève về Đông dương được ráo riết thảo luận. Ngày 21.7.1954, Hiệp định Genève được ký kết, Hòa bình được lập lại ở 3 nước: Việt Nam, Campuchia và Lào.


 Hiệp định đã quy định việc chấm dứt chiến sự, qui định giới tuyến quân sự tạm thời và khu phi quân sự giữa hai miền Nam - Bắc ở vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) và việc chuyển quân tập kết của hai bên. Một cuộc Tổng Tuyển Cử sẽ tổ chức vào tháng 7.1956 dành cho nhân dân VN quyền tự do chọn lựa thể chế chính trị. Về vấn đề tập kết, Hiệp định Genève quy định ở miền Bắc có các vùng tập kết của quân đội Pháp: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng, Kiến An, Hồng Quảng (300 ngày). Ở miền Nam, các vùng tập kết của Việt Minh là: Hàm Tân, Xuyên Mộc (80 ngày), Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày), Quảng Ngãi, Bình Định (300 ngày).


Tại Cao Lãnh và những vùng tập kết khác, trong những ngày tháng 10.1954, nhiều đám cưới tập thể đã được các má dẫn lên tận nơi tập trung quân để làm lễ cưới cùng các chiến sĩ: "Các con liệu mà trọn niềm chung thủy, sau hai năm về đây các má sẽ giao lại tụi nó vẹn toàn", các má bảo đảm như vậy. Tổng tuyển cử là tụi nó thua chắc nên đời nào chúng chịu thực hiện.


 Đối với Việt Minh bên ngoài thì vẫn nói chấp hành nghiêm túc hiệp định, đồng thời cũng dặn dò xa xa với bà con trường hợp đi hai năm chưa về được. Còn nội bộ thì như Lê Duẩn đã nói trong cuộc họp: "Nó sẽ phá đó, sẽ không để cho tổng tuyển cử diễn ra đâu. Nhưng chúng ta sẽ không chịu thua". Trong chuyến cuối cùng ra đi ở đây (tháng 2.1955) vì sợ địch theo dõi quân số phát hiện không đủ người (danh sách tập kết nhưng bí mật ở lại) nên anh em cứ lên tàu rồi lại quay xuống. Cứ lên-xuống, lên-xuống nháo nhào như thế tụi nó làm sao kiểm soát được.


 Ở khu tập kết Cà Mau, trong thời gian 200 ngày, đã mở được nhiều lớp học bình dân, xóa mù...Phụ nữ ngồi vẽ nguệch ngoạc hình bản đồ Việt Nam, cố gắng hiểu kinh độ, vĩ độ, tìm vĩ tuyến 17: "Đây là giới tuyến quân sự tạm thời, sẽ được xóa bỏ sau tổng tuyển cử. Đảng đã bảo thế...".Sáng ngày 5.2.1955, chuyến tàu tập kết cuối cùng tại sông Ông Đốc, bà con dong xuồng, chèo ghe đến tiễn bộ đội. Ông Nguyễn Chánh, Tham Mưu trưởng Phân Khu Miền Tây, đọc lời tạm biệt đồng bào, hứa hai năm quay trở lại miền Nam.


Tại Quy Nhơn 300 ngày, bộ phận hát bội đi chuyến tàu sớm nhất, khoảng tháng 8 hoặc 9-1954 có mặt ở Hà Nội kịp khai mạc Đại hội văn công toàn quốc. Về Hà Nội tất cả đều phải tập trung ở Chèm (ngoại thành Hà Nội) học chính trị. Sau hai tuần xuống tàu trở lại Quy Nhơn cùng các Đoàn Văn công biểu diễn phục vụ đồng bào khu vực từ nam sông Vệ đến Quy Nhơn rồi rút quân ra Bắc bằng chuyến tàu cuối cùng ngày 16.5.1955.


 Bàn giao Quy nhơn, Ông Nguyễn Chánh trở vô Khu 5 trong đoàn Đại biểu Trung Ương, gặp một số cán bộ ông nói chuyện tình hình: "Tôi nghe các anh bàn nhau giữ lại một số văn nghệ sĩ, đổi tên, đổi vùng để hoạt động công khai, như anh Hoàng Châu Ký vào Nha Trang, đổi tên mở một nhà xuất bản. Các bạn thật là lãng mạn, coi kẻ thù như trẻ con. Tổ chức khu ủy không duyệt phương án này là đúng. Chúng ta đương sắp xếp để bàn giao Quy Nhơn rồi xuống tàu đi ra miền Bắc. Nhưng chúng ta vẫn đề phòng khả năng địch kiếm cách chần chừ không bàn giao Hải Phòng cho ta thì ta cũng không bàn giao Quy Nhơn cho họ. Nếu kẻ địch vây Quy Nhơn thì ta cũng quyết mở một con đường máu đánh ra... Cuộc đấu tranh giữa ta và địch còn dài lâu, phức tạp". 


Bàn giao về Văn Hóa cấp Khu. Đại diện đến tiếp quản, văn bản bàn giao đã thảo sẵn có bảng kê các vật liệu, tài liệu. Ông ta đọc xong tỏ lời cảm ơn nhưng không chịu nhận những tài liệu, sách báo, biểu ngữ, ông lịch sự nói: "Chúng tôi nhận những vật này rồi chỉ để thủ tiêu, lãng phí". Dựa vào các điều khoản trong Hiệp định, Chúng tôi buộc ông ta phải nhận tất cả. Đấu tranh với nhau mất trọn một buổi.


Theo Hồi ký "Ở lại với dòng sông" của Nguyễn Trung Tín:


Ngoài số cán bộ đảng viên tập kết ra Bắc, đồng thời bố trí sắp xếp lực lượng ở lại hoạt động bí mật từ cấp tỉnh xuống xã. Mỗi huyện thị từ 8 đến 15 người (trang 44). Đầu tháng 5.1955, Tỉnh ủy tổ chức lớp huấn luyện cho số cán bộ được bố trí ở lại. Địa điểm là Tân Hoá (Cát Hanh, Phù Cát), thời gian là bốn ngày đêm; quá trình học tập, lên lớp học viên chỉ nghe không được nói, thắc mắc ghi lên giấy đảm bảo bí mật. Học xong phát mỗi người 2,000 đồng tiền Đông Dương chi tiêu trong hai năm đến ngày Tổng Tuyển cử. Sau ra Lại Khánh nhận súng, không ai biết ai (trang 51).


 Trước tình hình khó khăn của cách mạng qua chiến dịch "tố cộng"(1955) chủ trương mới của Đảng là chống "tố cộng". Cuối năm 1957, địch chủ trương chiến dịch "thượng du vận" dồn dân miền núi xuống các vùng ven quận dễ bề kiểm soát (trang 94).


 Thể hiện sự chỉ đạo kịp thời của Đảng với cách mạng Miền Nam: " Khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân...lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến...". Trích Nghị quyết 15 (tháng 1/1959). của BCTTU Đảng CSVN.


Từ năm 1960 miền Bắc bắt đầu chi viện cho miền Nam. Ở tỉnh nhiều đồng chí tập kết ra Bắc được tăng cường về (trang 145). *Cuối năm 1961, trên chi viện cho Vân Canh một Tiểu đoàn cán bộ khung từ ngoài Bắc vào - Tiểu đoàn 30 cùng với lực lượng vũ trang địa phương tập kích trụ sở xã Nhơn Lộc đêm 27.9.1961...Năm1962, Diệm triển khai kế hoạch xây dựng "Ấp chiến lược. (trang158)


Ngày 1.11.1963, Dương văn Minh lật đổ Diệm...Chớp thời cơ, vùng dậy, tiến công quân sự, chính trị, binh vận phá bỏ Ấp chiến lược. Cuối năm 1963 hình thành những vùng giải phóng giữa các huyện đồng bằng và miền núi.


Đầu năm 1964,  chương trình Ấp chiến lược kiểu mới "hai sông ba núi"nghĩa là phải có hai hào và ba hàng rào thép gai bao bọc ở ngoài...gây rất nhiều khó khăn cho cơ sở (trang162-168).


Tháng 5 năm 1964, toàn bộ lực lượng xuống trụ ở Núi Bà (Khánh Lộc, Cát Thắng), sau chuyển xuống khu vực đồi núi chùa Linh Phong, Cát Chánh. Chuẩn bị công tác"mở ra" cụ thể ở từng xã, từng thôn, vùng ven và vùng sâu, chú trọng công tác phát động tư tưởng quần chúng.


 Tối ngày 5.7.1964, theo hiệu lệnh quần chúng các thôn vùng sâu thuộc Cát Chánh, Cát Thắng, Phước Thắng, Phước Hòa đồng loạt nổi dậy đốt đuốc, phá ấp chiến lược, tiếng hô hét vang động của đồng bào, lửa cháy rừng rực sáng cả một góc trời lẫn tiếng súng của lực lượng vũ trang, đêm đêm tiếng trống mõ vang trời, bà con cùng nhau truy bắt tề điệp, ác ôn, tước súng "bọn thanh niên chiến đấu (trang173-176).


 Cuối tháng 10 năm 1964 lần đầu tiên tàu của Hải Quân Việt Nam tiếp tế vũ khí cho Bình Định cập bến Lộ Diêu (Hoài Nhơn). Trên 30 tấn vũ khí nhận được gồm CKC và lựu đạn, một ít trung lien: Đêm đó bão nổi sấm chớp ầm ầm. Khi tàu đến bãi ngoài, huy động ghe thuyền và bà con vùng Lộ Diêu (Hoài Mỹ) chuyển vũ khí, xong dìm tàu, xóa sạch dấu vết thì trời vừa sáng. (trang 186-187)


*Trận đánh lầu Việt Cường (đầu năm1965): Khách sạn Việt Cường trong nội thị Quy Nhơn, có nhiều chuyên gia kỹ thuật Mỹ đóng. Hai tổ đặc công tỉnh cùng với cơ sở nội thị hợp pháp cải trang, đột nhập đưa bom vào đánh khách sạn Việt Cường. Các tầng lầu của khách sạn đổ sập, loại hơn 50 Sĩ quan Mỹ. Đồng thời tổ chức các cuộc đấu tranh chính trị, huy động lực lượng bằng đường thủy với trên ba trăm chiếc thuyền chở hàng ngàn dân đi đấu tranh vào Quy Nhơn, một vào đầm Thị Nại, một từ Phước Lý qua. Địch dùng đại liên, trung liên nã tàn sát bà con vào Thị Nại. Phản lực từ Hạm đội 7 xuất hiện gầm rú, quần đảo trên bầu trời uy hiếp tinh thần. Chúng đàn áp đẫm máu đoàn người đấu tranh, súng xả từ trong bờ bắn ra, không cho người lên bờ. Máu loang đỏ mặt đầm Thị Nại. Các mũi đấu tranh đi bằng đường bộ tiến vô, bà con mang khẩu hiệu, cờ Giải Phóng miền Nam cũng bị chúng chận lại, bà con vẫn ào ào xông tới (trang 190- 191).
Nhằm ngăn chận Cộng sản xâm nhâp vào các thành phố, Tư lệnh Quân đoàn II, Quân Khu II ra lệnh thiết quân luật trong toàn lãnh thổ . Quân đội được lệnh truy quét các cuộc bạo loạn.


Sang năm 1965, Mỹ đưa quân ồ ạt vào Việt nam. Với quân số đông và ưu thế về hỏa lưc, địch đã gây cho ta những tổn thất lớn. Vừa đặt chân lên chiến trường Bình Định, quân Mỹ và Nam Triều Tiên mở ngay những trận càn quét, đánh phá, tiến hành tàn sát đẫm máu. Với chính sách "tam quang", đánh sạch cả ba vùng miền núi, đồng bằng và ven biển.


*Ngày 2.9.1965, tại khu rừng Bà Bơi, Bók Tới (Hoài Ân), Trung ương thành lập ở Bình Định một đơn vị quân chủ lực đó là Sư đoàn 3 Sao vàng, khung nòng cốt là cán bộ miền Bắc vào, tân binh là lưc lượng thanh niên địa phương, do Đại tá Lư Giang làm Sư trưởng. (trang 202-203).


Đầu năm 1966, tình hình rất gay go. Bộ binh địch liên tục lấn chiếm các vùng giải phóng. Chúng phân tán lực lượng chủ lực, đi sâu càn quét tiêu diệt du kích, duỗi dân ra, lần lần nống ép, chúng tàn sát dân, dân bỏ chạy, làm ta mất chỗ dựa. Nhiều xã trở thành trắng dân.


Đông Xuân 1966-1967, cuộc hành quân "Đại Bàng 800", địch huy động lưc lượng gồm Sư đoàn Mãnh Hổ, Lữ đoàn Thanh Long (Nam Triều Tiên), Sư đoàn 22 Ngụy và Sư đoàn Không Kỵ số 1 Mỹ đánh phá kéo dài một tháng vùng đồng bằng Khu Đông, bao vây lực lượng ở Núi Bà, lùng sục khắp nơi "lật đá bắt Cộng Sản". Sau 12 ngày mưu trí đánh địch, thoát được vòng vây sau hàng chục lần chết hụt.; đi mười mấy còn về được hai, ba. Trở về được căn cứ Vĩnh Thạnh. Qua trận đó, tỉnh ủy kiểm điểm sai lầm khi đưa anh em xuống đồng bằng trong thời kỳ mở, không có ai ở lại căn cứ, bỏ sản xuất, nên ngày trở lại thiếu đói trầm trọng. Từ tháng 6 năm 1967, trở lại căn cứ Hòn Chè (Phù cát). Lúc đi khỏi Núi Bà, có bố trí người chạy vào ấp chiến lược, nhờ đó lần nầy nắm lại được đường dây liên lạc của Tỉnh ủy được củng cố, bắt liên lạc được với Thị ủy Quy Nhơn và khắp cả tỉnh. (trang 209-244)


 Tháng 12 năm 1967, Khu ủy triệu tâp cuộc họp truyền đạt Nghị quyết BCT về tổng công kích Mậu Thân 1968, nội dung: Cách mạng miền Nam chuyển sang một thời kỳ mới là tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành chiến thắng trong tết Mậu Thân 1968. Lệnh chỉ được nghe, nhớ, không được ghi chép, khẩn trương tiến hành triển khai.


 Phương án đánh vào Quy nhơn, lấy Hưng Thạnh làm bàn đạp. Tỉnh ủy tăng cường một nữ Ủy viên Thường vụ cùng một số nữ giao liên làm binh vận. Chuẩn bị cắt may cờ Mặt trận, khẩu hiệu phục vụ cuộc nổi dậy và chào mừng chiến thắng.
 Một Thường vụ Khu ủy cùng Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo đánh vào Quy Nhơn.  Phó Tư Lệnh Quân Khu chỉ huy lực lượng quân sự, Sư đoàn 3, Sư đoàn 10 đánh hổ trợ vòng ngoài, Tiểu đoàn 50, Đại đội 10 đặc công làm nòng cốt. Tỉnh đội trưởng chịu trách nhiệm chính mũi đánh vào Quy Nhơn: Tỉnh đường - Ty Cảnh sát - Đài Phát thanh và Nhà Lao.


 Đoàn của Tỉnh ủy, khoảng 250 người gồm nhiều bộ phận, Chính ủy Trung đoàn 12 và một Tiểu đoàn khoảng 200 quân đều tân binh trẻ ở miền bắc mới vào. Đoàn xuất phát ngày 27 tháng chạp âm lịch đảm bảo kế hoạch tối 30 đến Hưng Thạnh. Anh Biên Cương (Bí thư Thị ủy Qui Nhơn, tập kết ra Bắc, vừa trở vô Nam 1962), và chị Đặng thị Hường (Cán bộ Giáo dục, làm xướng ngôn viên khi chiếm được đài phát thanh) ở trong đoàn hợp pháp vào Nội thị trước chuẩn bị chiến trường. Vừa bước vô nhà một cơ sở, bị lộ, anh em đều bị bắt.


 Bộ phận chính của Tỉnh đội trưởng không liên lạc được bên trong; khi đó bộ đội đã tập trung ở rừng sác Hưng thạnh trong tư thế sẵn sàng. Đúng 10giờ đêm 30 Tết, các cánh quân tiến vào Qui nhơn. Địch đánh chận lực lượng ta ở khắp nơi. Địch thiết quân luật trong thị xã suốt đêm, xe thông tin chạy rao loa: "Việt cộng đột nhập vào thành phố, nhà ai nấy ở, đóng cửa lại..."hễ thấy bóng người ra đường là chúng bắn ngay, vì vậy các chị trong mũi đấu tranh không thể treo cờ, khẩu hiệu được. Mũi đánh vào đài phát thanh, lực lượng địch phản ứng quyết liệt, đưa xe tăng yểm trợ gây cho ta tổn thất lớn. Đội quân từ Hưng Thạnh vô đánh trúng trại giam, giải thoát anh Biên Cương và chị Hường, anh Võ Mười cùng tham gia chiến đấu với bộ đội và đã hy sinh. Mấy đơn vị chấp hành lệnh sau, bị tổn thất lớn. Sư đoàn 3 đánh vào Phù Mỹ, ém sát quận lỵ, nhận lệnh điều chỉnh giờ nổ súng, phải rút quân ra, địch phát hiện bao vây, truy kích đánh tơi bời. Hai Tiểu đoàn khác thuộc Sư đoàn 3, một bị đánh tại Nhơn Hạnh, một bị đánh tại Đập Đá hầu hết anh em đã hy sinh.
 Trong Tổng công kích tết Mậu Thân, sau khi địch phản kích mạnh, ta tổn thất nặng, tạo một tâm lý bàng hoàng. Sau Tết Mậu Thân, Bộ Đội, Du kích bị giảm mất hơn một nửa quân số, chưa bổ sung được, (trang 248-270)
Tháng 5.1971, tại Hòn Chè, Chi Đoàn Trần văn Ơn chính thức được thành lập có một số em đoàn viên nòng cốt: Thắng, Hà , Sinh, Bình, Quốc, Trong, Xuân  giao cho Cô Huỳnh thị Ngọc, Bí thư Thị đoàn Qui Nhơn trực tiếp phụ trách.


*Trận đánh Sân Vận Động Quy Nhơn


Trước Tết Nguyên đán nhâm Tý 1972, thực hiện chỉ đạo của Tỉnh Ủy, Chi Đoàn Trần văn Ơn được Tỉnh Ủy giao nhiệm vụ phải đánh phủ đầu tên Chức (Tỉnh Trưởng vừa mới bổ nhiệm) và Huỳnh thị Ngọc người chỉ đạo trận đánh.
Ngọc ra căn cứ xin hai kíp nổ định giờ nhưng   kho   không có chỉ còn hai quả lựu đạn. Ngọc nhận lựu đạn tức tốc vào thành...cùng đội lên phương án chiến đấu. Khi vũ khí giao cho Vũ Hoàng Hà, một thành viên trong đội, đội biệt động nắm tay quyết đánh! Và lệnh được chốt lại: 5 đồng chí Hà, Thắng, Xuân, Quốc, Trong- đúng 7 giờ tối tập kết trong sân vận động nhận lệnh chiến đấu! Tối hôm đó, Nguyễn Văn Chức tổ chức mít tinh: "Đêm không ngủ"lôi kéo lực lượng thanh niên. Tại sân vận động Quy nhơn, lực lượng bảo vệ canh gác vòng trong vòng ngoài dày đặc. Chức kết thúc bài diễn văn, rời bục cùng đám tùy tùng đi xuống đống lửa trại ở giữa sân, Ngọc bấm nhỏ vào tay đồng đội làm ám hiệu, lập tức đội hình được triển khai. Vũ quốc Thắng đứng giữa, Hà cao lớn chắn phía trước, ba đồng chí khác án ngữ ba phía còn lại, che kín không để ai thấy Thắng bên trong. Khi tên Chức đã đến gần đống lửa trại, Thắng rút chốt lựu đạn, nhoài người ra lia vào chân tên tỉnh trưởng , Hà liền ập người vào che Thắng và kéo Thắng rút chạy...Tất cả diễn ra trong nháy mắt. Một tiếng nổ vang rền đã làm sân vận động nhốn nháo, tán loạn, cuộc mít tinh tan rã. Trận này địch chết 7 trong đó có tên Tỉnh Phó, Trưởng ty Thanh Niên, Quận trưởng Binh Khê, Trưởng Ty Chiến Tranh Tâm Lý và bị thương 3. Đại tá Chức bị thương trong sự hoảng loạn. (281-283).


Còn trong một Đặc san "Quốc Học Quy Nhơn" (trang 195) Cuộc hội kiến chớp nhoáng giữa Ngọc với 4 học sinh trường Trung học Cường Đễ: Lợi, Danh, Xuân, Sinh. Tất cả nhất trí phải đánh! ...Khoảng hơn 9 giờ đêm, tỉnh trưởng Chức khệ nệ xuống khán đài, đi thẳng ra giữa sân vận động, kéo theo cả đoàn vệ sĩ. Học sinh phấn khởi reo mừng, tung hoa giấy đón chào. Vô tình Chức bước tới trước mặt tổ Trần văn Ơn thì hoa giấy càng tung lên gấp bội choáng cả mắt. Lợi rút nhanh chốt lựu đạn ném thắng vào đích. Lựu đạn vừa lóe xì khói, tên vệ sĩ Thiếu Úy Linh áp mạnh xô Chức ngã xuống rồi nằm chồm lên phủ trọn cả người tỉnh trưởng vào lòng. Một tiếng nổ   oành   chát chúa. Kết quả địch 7 chết tại chỗ, trong đó 1 Tỉnh Phó và Thiếu úy vệ sĩ Linh, 4 tên trọng thương trong đó có tên Tỉnh trưởng Chức. (Huỳnh thị Ngọc, Anh hùng LLVTND kể).


Sụ thật: Vụ ném lựu đạn tại Sân vận động Qui Nhơn đêm 9/1/1972: Một đêm lửa trại tổ chức tại Sân vận động Qui Nhơn gồm các đoàn thể thanh niên: Hướng Đạo, Gia Đình Phật Tử, Hội Hồng Thập Tự, Học Sinh Trung Học của tất cả các trường trong Thị xã. Sân Vận động được thắp sáng bằng những ngọn đèn pha cực mạnh, ở giữa một đống lửa lớn được đốt lên. Học sinh và các đoàn thể xếp hàng quanh đống lửa. Các chương trình văn nghệ được biểu diễn tại đây. Diễn biến buổi lễ tiếp tục, khi loa phóng thanh loan báo Đại tá Tỉnh Trưởng xuống sinh hoạt lửa trại với học sinh, xướng ngôn viên cũng mời tất cả quan khách cùng tháp tùng nhưng hầu hết đều ở nguyên tại chỗ.


 Trong lúc vị Tỉnh Trưởng đang say sưa hát bài "Làng tôi" thì một tiếng nổ chát chúa vang lên giữa đống lửa trại.
 "Tất cả đều nằm xuống" Một tiếng hô to;  nhưng các em học sinh vẫn đứng im, hàng ngũ vẫn chỉnh tề; có lẽ quá ngạc nhiên vì lần đầu xảy ra trong đời nên chẳng biết phản ứng ra sao, sau vài phút hoàn hồn, các em ôm nhau run rẩy, kêu khóc thất thanh. Hiệu Trưởng và giáo viên các trường hốt hoảng ùa tới.


 -"Lựu đạn. Coi chừng còn một trái nữa" Tiếng thét vang lên. Tất cả học sinh còn lại túa ra đường bằng cổng sau chạy bộ về các trường gần đó. Khi nhân chứng trở lại, một cảnh tượng hãi hùng: người chết và bị thương xếp thành một vòng tròn quanh đống lửa. Đại đa số thương vong là các em Ấu sinh và Sói con của các Gia đình Phật tử và Hướng Đạo vì các em xếp vòng tròn quanh đống lửa. Lựu đạn M.26 được chế tạo có nhiều mảnh nhỏ mục đích là sát thương tối đa nhân mạng. Với vòng người dày đặc nầy lại nhằm lúc TV ngưng phát chương trình để đọc tin tức và bình luận, các em nhỏ ở quanh Sân vận động cũng ùa vào xem chương trình ca nhạc nên số thương vong càng tăng cao. Trong số những người kém may mắn đó có Cô Yến, Giáo sư Trường Nữ Trung Hoc, cô là phu nhân của Giáo sư Tạ Quang Khanh, cố vấn Đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự. Khi ĐT.Tỉnh trưởng xuống sinh hoạt cạnh đống lửa, Cô Yến ngồi trước, vì trời lạnh, Cô Tùng giáo sư cùng trường ngồi  phía sau, ôm chặt lấy cô Yến để hai người cùng ấm. Khi lựu đạn nổ, Cô Yến tử thương, Cô Tùng bị một mảnh nhỏ ghim vô miệng. Về Thầy Khanh bị rất nhiều miểng ghim vào bụng. Các bác sĩ thuộc Bệnh viện Thánh Gia cho biết khi hút hết nước tiểu của Thầy ra không có máu, tức là bọng đái chưa bị thủng còn chữa được. Sau vài tuần lễ Thầy Khanh đã bình phục nhưng điều quan trọng là làm thế nào để Thầy đón nhận cái tin Cô Yến, người vợ thương yêu của mình không còn nữa trong khi hai đứa con Thầy còn quá nhỏ;  cô Yến lại đang mang thai đứa thứ ba.


Tối hôm sau, Đại tá Tỉnh Trưởng lên truyền hình để trấn an dân chúng. Ông chỉ bị vài vết thương nhẹ và đoàn tùy tùng thoát hiểm nhờ có  nón sắt và mang áo giáp.


Qua hai dẫn chứng ở trên thì kết quả của chiến công này có 7 thương vong toàn là đám ngụy quân, ngụy quyền nhưng liệt kê chi tiết lại khác nhau: Một bên có 1 Phó Tỉnh và 1 Thiếu úy, 4 bị trọng thương trong đó có tên Tỉnh trưởng Chức.


- Một bên Tỉnh Phó, Trưởng ty Thanh Niên, Quận Trưởng Bình Khê, Trưởng Ty Chiến Tranh Tâm Lý và bị thương 3. Đại tá Chức bị thương trong sự hoảng loạn.


Theo những nhân chứng sống còn ở trong nước và hải ngoại: trong vụ thảm sát nầy có trên 100 em Học sinh và Giáo viên tử thương trong đó có cô Yến và Thầy Khanh, còn Tỉnh phó Tôn thất Tùng, lúc đó theo chân Tỉnh trưởng rời khán đài nhưng đã ra ngoài sắp xếp xe cộ thành ra chẳng hề hấn gì hiện đang ở Hoa kỳ. Phó thị trưởng Bùi xuân Thích chỉ bị thương nhẹ, còn Ông chủ Nhà Sách Việt Long loay hoay thế nào đã đưa nguyên cả hai cái mông hứng những mảnh lựu đạn nhưng may mắn không trúng chỗ hiểm nên vẫn còn sống sót, không có Thiếu Úy nào tên Linh cận vệ tử thương, còn Đại tá Chức chỉ bị vài vết thương nhẹ ngày hôm sau đã lên TV.nói chuyện với dân chúng tỉnh nhà Bình Định. Tỉnh Trưởng Nguyễn văn Chức sau lên Tướng hiện đang sống ở hải ngoại. Đoàn tùy tùng với Đại tá thoát hiểm được là nhờ nón sắt và áo giáp che thân.


Qua chiến dịch Xuân- Hè (tháng 4.1972), các lực lượng vũ trang phía Bắc tỉnh đã tiêu diệt phần lớn quân chủ lực, phá vỡ hoàn toàn hệ thống phòng thủ, quét sạch hệ thống ngụy quyền quận xã thôn từ Phù Mỹ trở ra, mở rộng vùng giải phóng gồm các huyện An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, và Bắc Phù Mỹ rộng gần hai ngàn cây số. Rất tiếc rằng sau đó, khi Sư đoàn 3 trên đường ra Quảng Ngãi theo lệnh điều động của Quân khu thì địch đã mở cuộc hành quân: líp"lại. Với một lực lượng cơ động đông đúc gồm 17 Tiểu đoàn và 5 Chi đoàn xe bọc thép, địch đã lần lược áp đảo, chiếm lại các vùng giải phóng ở Hoài Nhơn gây cho ta nhiều khó khăn mới. (trang 287).


 * Và Trận đánh Trung tâm hành quân Tiểu khu Bình Định


 Nhận được tin sáng ngày 2.6.1972, tại hầm ngầm toàn bộ sĩ quan của Trung tâm cùng Cố vấn Mỹ, Nam Triều tiên họp bàn kế hoạch hành quân đánh vào vùng  giải phóng, tổ binh vận bí mật đem bộc phá có hẹn giờ thêm 6 kíp nổ cùng bốn trái lựu đạn tương đương 10 ký TNT đựng trong chiếc cặp đặt ở hầm ngầm. Lúc 08 giờ sáng, sau mấy tiếng nổ long trời, Sở chỉ huy Hành quân Tiểu khu Bình Định bị phá banh: 40 Sĩ quan vừa Mỹ, Ngụy, Nam Triều tiên chết và bị thương trong đó có tên Đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn văn Chức bị thương nặng.( Tổ binh vận do Lê thị Trung Kiên Ủy viên ban binh vận tỉnh điều khiển nắm bắt một người lính lái xe cho lực lượng phi công là Trung sĩ Lê minh Chánh (bí danh Lê Hoàng Long), lái xe cho Thiếu tá Lê văn Cầu, sĩ quan tham mưu SĐ22 ngụy được biệt phái trung tâm hành quân. Long phải lợi dụng việc xách cặp cho tên Thiếu tá Cầu, làm quen với lính gác theo vào hầm ngầm quan sát tìm nơi gài mìn, đặt bộc phá chuẩn bị trận đánh) (trang 289-290.


Những chi tiết trong vụ đặt chất nổ tại Trung Tâm Hành quân Bình Dịnh khiến cho người dân Bình Định đọc qua không khỏi phì cười. 


  Từ năm 1970 về sau, Tỉnh ủy hình thành bộ phận Tiền Phương Khu Đông trở lại. Anh em đi công tác từ đông sang tây hay ngược lại luôn luôn phải đối diện với cái chết, địch chốt trên mặt đường bằng những lớp bao cát dày, chúng an toàn trong chốt theo dõi, phục, nghe ngóng từng bước  chân đi. Mỗi lần qua đường phải đi vào mười một, mười hai giờ, phải đi đêm mưa, trời không trăng. Trinh sát đi trước, giao liên đưa qua đường; có lúc phải trải tấm ni lông ngang qua mặt đường, qua khỏi cuốn cất ngay. Hai xã Cát Hanh và Mỹ Hiệp nằm hai bên đường hành lang đông tây đã sẵn sàng những hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, bộ đội và sẵn ám hiệu thông báo tình hình khó khăn cho cán bộ vượt đường. Hưng Thạnh là bàn đạp căn cứ lõm. Từ khi tổ chức được bàn đạp liên lạc này đã tạo dựng được đường dây hợp pháp từ căn cứ Hòn Chè xuống chợ Gồm Cát Hanh, vào Phương Danh thị trấn Đập Đá, thị trấn Diêu Trì vào thị xã Qui Nhơn và lên tận Bình Khê ra Tam Quan. Cửa khẩu thị trấn Cát Hanh-Mỹ Hiệp là nơi thu mua lương thực thực phẩm cung cấp cho Tỉnh (trang 300-302)


Ngày 27.1.1973, Hiêp Định Paris về Việt Nam được ký kết.


Theo Hiệp định, trên cả miền Nam có ba nơi trao trả tù binh là Trảng Bàng (Tây Ninh), Hoài Ân (Bình Định), Thạch Hãn (Quảng Trị). Tại cầu Bến Muồng đã tổ chức trao trả trên 900 tù nhân cả dân và quân sự để nhận lại 1,100 cán bộ, chiến sĩ. Hiệp ước Paris chính là một bản án tử hình đối với chế độ miền Nam Nguyễn văn Thiệu. (trang 364-366). Cuối tháng 12 năm 1973, Đại hội đảng Khu 5 quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng: "Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất cứ trong tình huống nào cũng phải nắm vững thời cơ, để giữ đường lối chiến lược tiến công!" Vào cuối tháng 5 năm 1974 có thể nói là ta đã làm phá sản hoàn toàn kế hoạch chiến lược "tràn ngập lãnh thổ", xóa thế da beo của ngụy ở Bình Định.(trang 372-373)


Ngày 18 tháng 12 năm 1974, Bộ Chính Trị họp bàn về chủ trương giải phóng miền Nam. Phương án  tấn công và nổi dậy giải phóng miền Nam trong hai năm 1975, 1976; nhấn mạnh thời cơ lịch sử và khả năng thực tế để đánh những trận quyết chiến cuối cùng.


Nhật ký của Nguyễn trung Tín về ngày giải phóng Quy Nhơn (31.3.1975):


   Tôi được lệnh ra Bắc thăm vợ con từ tháng 10 năm 1974 đến tháng 2 năm1975. Ngày 10.3.1975, tôi trở về Nam, đến Hà Tĩnh nhận điện của Bí thư Khu ủy: "Anh Tín về gấp.Vô khu ủy!" Qua các đoàn xe vào cho biết tình hình khẩn trương lắm, nghe đài đã biết được nhiều nơi giải phóng. Vào Khu ủy, văn phòng truyền đạt ý kiến chỉ đạo: "Anh Tín về, vô Quy Nhơn ngay!". Sau chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính Trị quyết định mở mặt trận Huế - Đà Nẵng. Bọn địch bỏ chạy "tùy nghi di tản"


 Về Bình Định, Tỉnh ủy đã chuyển về Cát Sơn (Phù Cát). Tình hình găng quá! Sư đoàn 3 đánh cả tháng mà không được chi viện; một đại đội chỉ còn hai mươi, ba mươi tay súng, địch bảo vệ Quy nhơn dữ, vỏ bên ngoài còn cứng.
 Điện thứ ba: "Anh Nam về Quy Nhơn chưa?".


 Điện tiếp:"Đừng bóc vỏ! Đột nhập tung thâm ngay!".


 Khoảng bốn giờ chiều 30 tháng 3 về đến Quảng Vân    vùng ven Quy Nhơn. Cùng bộ phận tiền phương quyết định đưa lực lượng tiến thẳng vào Quy Nhơn, đánh chiếm các mục tiêu chính


 -Tỉnh Đường, Ty Công An, Đài Phát thanh, Ty Thông Tin.


Ngày 31 tháng 3, các mũi tiến công của lực lượng bộ đội vẫn ráo riết truy kích địch, áp sát vào nội thị.


Việc chiếm thị xã Quy nhơn khá nhanh chóng trong ngày 31 tháng 3, thực chất ta vào tiếp quản Quy Nhơn vì địch đã bỏ chạy từ ngáy 28 tháng 3. (trang 371, 382, 398).


Bình Định, 30 năm chiến tranh. Đọc Hồi ký "Ở Lại Với Dòng Sông" của Nguyễn Trung Tín cùng những kinh nghiệm thực tế bản thân của mỗi con người sinh ra, lớn lên ở đây khiến chúng ta không khỏi bùi ngùi, xót xa cho cái nghiệt ngã, đau thương  mà người dân Bình định phải gánh chịu dầu bây giờ còn lại với quê hương hay lưu lạc nơi xứ người. Một nén hương cho tất cả những người vì Quê Hương, Đất Nước không còn nữa.



NGƯỜI QUI NHƠN
NT2 Lê Quang Mỹ