Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 NHỮNG CẢM NGHĨ RỜI

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

NHỮNG CẢM NGHĨ RỜI

In PDF.



    Như mọi năm, năm nay Ức Trai của trường mẹ bắt đầu thai nghén vào mùa Đông  để rồi sẽ chào đời vào mùa Xuân. Ban Biên Tập của Tổng Hội đã thông báo hạn chót gởi bài cho Ức Trai lại đúng vào ngày mồng một Tết Canh Dần. Anh chị nào có khai bút đầu năm thì phải gởi liền trong ngày cho kịp. Thời đại tin học nầy thật là tiện lợi, Ban biên tập không cần phải căn cứ vào dấu bưu điện để nhận bài nữa. Lần nầy nàng dâu tôi không đợi sự nhắc nhở, khuyến khích của NT1 nhà tôi nữa. Tôi đang có nhiều chuyện để tâm tình với các anh chị. Nói như vậy nhưng tôi không biết bắt đầu từ chỗ nào, bởi tôi có cái bệnh hay suy nghĩ lung tung, đang nói chuyện nầy tôi lại chuyển sang chuyện khác làm cho người nghe khó mà theo dõi kịp, nhiều lúc NT1 nhà tôi cũng nổi cáu khi nói chuyện với tôi: “ Sao lúc nầy em thay đổi quá! Nói chuyện với em, tư tưởng của anh phải sang số nhanh như phản lực mà vẫn không theo kịp em đang nói cái gì !”. Nói vòng vo như vậy cũng không ngoài mục đích mong các anh chị thông cảm cho cái thiếu sót , cái không ổn trong “những cảm nghĩ rời” mà tôi góp nhặt lại ở đây.


   
    * Duyên nợ:


      Tháng 5/2009 tôi có về Cali dự buổi họp mặt kỷ niệm 40 năm ngày khóa 1 ra trường và Đại Hội bầu Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 15 của Tổng Hội. Trong buổi họp mặt 40 năm của khóa 1, cô Kiều Mỹ Duyên có phát biểu: “ Các chị thật là can đảm khi chấp nhận làm người bạn đời của các chàng trai  CTCT” Chắc theo ý của cô Kiều Mỹ Duyên các chàng trai nầy tài hoa, bay bướm, giỏi cua đào, tán gái… Nhưng các nàng dâu chúng tôi có ai biết đâu mà chọn lựa! Theo tôi nghĩ âu cũng là cái duyên, cái nợ từ kiếp nào. Như chính nhà đại văn hào Nguyễn Du mà cũng đã từng than thở thay cho nàng Kiều: “ Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không”.  Bản thân nàng dâu tôi cũng không tránh trớ được với hai chữ “duyên nợ” nầy!


      Lúc tôi còn nhỏ, gia đình tôi sinh sống ở quê, khi học xong chương trình Tiểu học, tôi xa mẹ, khăn gói theo chị tôi về thị xã ở trọ để theo học tiếp chương trình Trung học. Ngôi nhà trọ xinh xắn nằm khuất trong vườn cây ăn trái. Những ngày đầu xa nhà, chính những quả ổi sà sát bên cửa sổ, những quả khế vàng mọng đu đưa bên hè nhà đã giúp tôi quên đi nỗi nhớ nhà, nhớ Mẹ.


     Bà chủ trọ chuyên nấu cơm tháng và chứa học trò ở trọ. Nhóm học trò ở trọ chúng tôi gồm 5 đứa (4 gái 1 trai). Mọi sinh hoạt của chúng tôi đều được sự kiểm tra của bà I, chúng tôi không được tự do như lúc ở nhà với Ba Mẹ. Nhưng mọi chuyện rồi cũng qua đi. Thời gian thấm thoắt trôi qua, mới đó mà đã được nửa năm học. Vào một buổi chiều, có một anh học trò khăn gói tới xin bà chủ trọ gia nhập vào nhóm chúng tôi. Như vậy nhân số trong nhóm được tăng lên thành 6 (4 nữ 2 nam, vẫn “âm thịnh dương suy”!). Sự xuất hiện của anh học trò nầy đã gây sự chú ý và cảm tình với mọi người trong nhóm (nhất là với bà chủ trọ, đứa nào học giỏi, chăm chỉ bà thường “bonus” cho phần ăn khuya để gạo bài) với bản tính hiền lành, cộng thêm thành tích học tập của anh. Cũng bắt đầu từ đấy tôi có thêm sự quen biết với anh. Anh học trên tôi mấy lớp, có nhiều lúc anh đã làm thiện nguyện viên giải giúp cho tôi mấy bài toán khó, những bài thème Pháp văn hóc búa (đối với tôi). Thế đó! Tuổi học trò hồn nhiên, vô tư  của tôi trôi qua với đầy ắp những kỷ niệm với anh, với bạn bè trong ngôi nhà trọ. Sống ở đây được ba năm chị tôi chuyển trường, còn tôi cũng giã từ ngôi nhà trọ, từ giã bạn bè ở đây để về sống với Ba Mẹ, chỉ vì chiến tranh ngày một leo thang. Quê tôi lọt vào tay Cộng sản. Ba Mẹ tôi phải đau lòng bỏ lại tất cả cơ ngơi, tài sản một đời gầy dựng để về tạm cư ở ngoại ô thị xã. Tôi không còn lý do gì để đi ở trọ nữa. Cái tuổi học trò hồn nhiên, vô tư của tôi cũng đã bị cuốn hút theo những cái thở dài, chép miệng của Ba Mẹ tôi. Tôi cũng không còn liên lạc được với nhóm bạn trọ học với tôi ngày đó nữa.  Để rồi … một hôm đi học về tôi nhận được bức thư với dấu bưu điện KBC 4648.  Nhìn kỹ ra tôi mới biết được là thư của anh học trò gia nhập trễ vào nhóm chúng tôi ngày nào. Thật là bất ngờ. Thời gian trôi thật lẹ! Anh đã từ giã tuổi học trò để vào quân trường khi nào tôi chẳng biết. Từ đó những cánh thư từ KBC 4648 thường hay tìm về với tôi. Thư anh gởi về tôi thường hay cất kỹ ở ngăn kéo trong cùng của chiếc cặp, thế mà có một lần bị con nhỏ bạn ngồi bên phát hiện được, nó tra gạn tôi: “Nè! Mi quen với ông ở KBC 4648 là lính chi rứa mi?!  Tôi khù khờ và lúng túng trả lời nó: “Ờ! Chắc là lính Chiến Tranh Chính Trị đó, mà mi hỏi làm chi?” Cái môi nó trễ xuống, mắt nó nhìn tôi nheo nheo, cái đầu nó gục gặt rồi nó nói: “Quen chi với mấy ông nớ mi. Bay bướm, chỉ biết đánh giặc miệng” Tôi nín thinh không nói nhưng ngạc nhiên và thán phục nó “con ni sao nó rành rẽ quá!”. Đối với tôi ngày đó CTCT hay ngành nào cũng vậy thôi. Tôi chỉ biết anh qua hình ảnh anh học trò cùng sinh hoạt trong nhóm chúng tôi ngày xưa thôi. Rồi tôi và anh một lần nữa lại mất liên lạc với nhau… Lớn lên tôi theo truyền thống gia đình chọn cho mình cái nghề gõ đầu trẻ, đi dạy xa nhà, còn anh ra trường, mịt mùng nơi chiến trường Quảng Ngãi. Mãi đến khi tôi đổi nhiệm sở về gần nhà, một ngày anh ghé lại thăm tôi. Nhìn anh với quân phục nhem nhuốt, giày saut  sờn xướt, nhớ lại câu nói của con nhỏ bạn ngày nào tôi vụt miệng hỏi anh: “Ủa, anh làm cái chi mà quần áo nhem nhuốt rứa?” anh nói: “ Trung đoàn anh đang hành quân trên Quế Sơn, anh đóng trên căn cứ Ross, theo xe tiếp tế về thăm nhà, luôn tiện ghé thăm em…”. Những kỷ niệm học trò ngày nào lại xôn xao tìm về trong tôi. Để rồi từ đây tôi lại có những bất chợt “nghĩ tới một người đi giữa chiến chinh,  lại nghĩ tới anh, nghĩ tới nhau…”. Chúng tôi liên lạc với nhau thường xuyên hơn và tôi đã lớn khôn không còn khù khờ như xưa nữa. Đã biết vun xới một chuyện tình cho anh, cho mình… Tình yêu đơn giản, nghèo nàn nhưng sâu sắc của chúng tôi được kết thúc bằng một lễ cưới vào cuối tháng 10 năm 1974.


     Cái duyên từ đâu đã đưa đẩy anh học trò ngày ấy khăn gói đến gia nhập vào nhóm chúng tôi, để tôi được quen biết anh, để tôi đã trở thành người bạn đời của anh, chia sẻ cùng anh những thăng trầm trong cuộc sống sau nầy. Chấp nhận làm vợ của người lính trong chiến tranh là chấp nhận sự xa cách. Bởi vậy những tháng ngày hạnh phúc bên nhau của chúng tôi gom lại đếm trên đầu ngón tay khoảng chừng hai tháng. Rồi ngày 30/4/75 ập đến, cả miền Nam lọt vào tay Cộng sản. Anh trở thành người tù không có án,  tôi hụt hẫng đi vào bước ngoặc mới của cuộc đời. Hai mươi bốn tuổi đời, cái tuổi mà bây giờ các con tôi vẫn còn vô tư trên giảng đường Đại học. Còn tôi ngày ấy vừa tự nuôi sống bản thân, nuôi con và bới xách thăm nuôi chồng! Cô bé học trò ngày xưa bỗng chốc đã trở thành người vợ ‘tù cải tạo’. Cũng như mọi người vợ tù khác, tôi cũng đã trải qua những khoảng ngày khốn đốn, nhiều lúc chừng như muốn ngã quỵ! May mắn cho tôi còn có được người Mẹ bên cạnh. Bà vừa là người Mẹ, vừa là chị, vừa là người bạn thân để chia sớt, an ủi, nâng đỡ tôi từng ngày. Tuy vậy những chuyến thăm nuôi cứ phải thưa dần ra… nhưng tôi cũng cố gắng bương chải tìm mọi điều kiện để đến với anh, cố gắng thắp sáng niềm tin trong anh. Những chuyến thăm nuôi dầu quà cáp không nhiều nhưng cũng đã gói ghém cái thông điệp gởi đến anh như muốn nói lên rằng “Anh phải sống”. Lây lất từng ngày trong bảy năm qua các trại tù Sông Tranh, Kỳ Sơn, Tiên Lãnh anh sống còn để về sum họp với gia đình. Từ đây trong gian nan, cơ khổ chúng tôi có bên nhau. Riêng anh xen lẫn trong khó khăn của cuộc sống, trong sâu thẳm của tâm tư anh vẫn luôn ôm ấp hình ảnh ngôi trường mẹ thân yêu, bạn bè đồng môn của một thời xa lơ xa lắc…


* Gia Đình Nguyễn Trãi và Tình đồng Môn:


      NT1 nhà tôi thường kể cho tôi nghe chuyện ngày xưa nơi quân trường mẹ, chuyện bạn bè đồng môn của anh. Nói cho tôi biết cái “nick name” ngộ nghĩnh của từng người, từ đó qua anh tôi đã hiểu được thế nào là “Gia Đình Nguyễn Trãi”, “Tình Nguyễn Trãi”, “Nàng dâu Nguyễn Trãi”. Những cụm từ mà xưa nay tôi chưa một lần dùng đến. Nhưng bây giờ mỗi khi nhắc tới tôi nghe như có một cái gì đó rất gần gũi, thân thương! Cũng từ đó tôi hãnh diện khi biết mình đã là một thành viên trong tập thể nầy. Tôi cảm nhận được trong các anh đã hiện hữu một chút tình cảm đặc biệt: Không khoe khoang, không trau chuốt màu mè hay so đo tính toán hơn thua. Nó đến với các anh thật tự nhiên và thiêng liêng như tình ruột thịt. Trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống các anh vẫn luôn tìm đến với nhau, chia sẻ với nhau những vui buồn trong cuộc sống, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, khó khăn.  NT1 nhà tôi vẫn không quên người bạn tù năm nào ở Tiên Lãnh đã lén lút tìm đến bên anh để chào “Niên trưởng”. Thật cảm động biết bao khi anh em đồng môn nhận ra nhau trong một hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã! Anh xót xa thương cho thân phận đàn em và cũng thương cho chính bản thân mình…


    Những ngày tháng ra khỏi tù, NT1 nhà tôi không có được một nghề ổn định để nuôi thân. Nay anh chạy xe thồ, ngày mai anh đi bốc vác…Cứ phải “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”. Đang trong lúc nầy thì chương trình HO rộ lên. Muốn tiến hành làm hồ sơ thì phải có thủ tục “đầu tiên”. Chúng tôi lại lùng bùng trong cái mớ rối rắm của khó khăn. Chẳng biết xoay xở vào đâu! Bỗng dưng… một ngày… Trong cái nắng lưa thưa của những ngày cuối năm, có một người đến nhà tìm NT1 nhà tôi nhắn tin: “ Anh ra Đà Nẵng nhận quà của bạn bè anh từ Mỹ gởi về”. Thật là “có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”. NT1 nhà tôi như cây khô gặp nước và năm ấy gia đình tôi vui cái Tết thật sự  có mùa Xuân. Sau đó qua trung gian của gia đình NT1 Trần Minh Niên, gia đình tôi và gia đình NT1 Huỳnh Bửu Hoa một lần nữa được các bạn bè đồng môn ở miền nam Ca li giúp đỡ. Chúng tôi đã có đủ điều kiện làm hồ sơ xuất cảnh và chen chân được vào chương trình HO8. Chuyện mới đó mà đã hơn 20 năm. Với các anh chị, việc giúp đỡ chúng tôi cũng đã phai mờ theo năm tháng, hay có thể các anh chị đã quên mất đi rồi. Riêng đối với chúng tôi nghĩa cử của các anh chị đã để lại trong lòng chúng tôi một dấu ấn sâu đậm không thể nào quên. Bởi vì khi còn sanh tiền, mẹ tôi thường nhắc nhở tôi với câu nói của người xưa: “Hãy ghi những điều mình làm tốt cho người khác trên cát, và hãy ghi những điều người khác làm tốt cho mình trên đá cẩm thạch”… Lần nầy, lại một lần nữa, nàng dâu tôi thay mặt NT1 nhà tôi gởi đến các anh chị lời cảm ơn chân thành. Một lời đặc biệt hơn đối với NT1 Trần Minh Niên, người đã đứng ra phát động những tấm lòng vàng giúp đỡ chúng tôi.


     Mùa hè năm 1991 chúng tôi xa quê hương theo đợt HO8. Thành phố Memphis, tiểu bang Tennessee là nơi dừng chân đầu tiên của chúng tôi trên miền đất hứa nầy. Cũng như nơi chúng tôi đang sống bây giờ, Memphis được bao phủ bởi một màu xanh của cây lá với những con đường dốc ngoằn ngoèo , quanh co lên xuống. Hình ảnh Đà Lạt như thấp thoáng đâu đây. Chính nơi đây NT1 nhà tôi có được một cuộc hội ngộ thật  bất ngờ, ấm áp tình đồng môn của trường mẹ. Trong cuộc gặp gỡ bạn bè loanh quanh khu chung cư chúng tôi đang ở, tình cờ có thêm một người bạn mới đến chơi. Sau khi thăm hỏi nhau về đơn vị cũ và khóa, trường xuất thân thì người bạn mới đến bên cạnh anh để “chào niên trưởng”. Huynh đệ gặp nhau lần nầy không làm cho NT1 nhà tôi xót lòng mà trái lại anh cảm thấy lòng tràn đầy hạnh phúc trong ngày đầu tiên bỡ ngỡ nơi xứ lạ quê người. Đàn em NT4 Trần Văn Thiện từ đó thường lui tới thăm viếng chúng tôi. Hướng dẫn chúng tôi những điều cần làm khi mới đến Mỹ, chở chúng tôi về nhà dùng cơm… Hoàng Lan (nàng dâu NT4 Trần Văn Thiện) với đôi mắt to, trong sáng, lúc nào cũng liếng thoắng thật dễ thương. Cô đã tạo ngạc nhiên cho chúng tôi với những món ăn mà lần đầu xa quê hương chúng tôi nghĩ sẽ không bao giờ có được nơi xứ người. Sống ở đây được 3 tuần chúng tôi dọn về Charlotte, NC., nơi có người bạn cùng quê bảo trợ. Chúng tôi lại bịn rịn chia tay gia đình NT4 Trần Văn Thiện. Hẹn với lòng mình sẽ về thăm Memphis khi đã ổn định chỗ ở mới. Thế rồi ngày tháng trôi qua, lu bu với cuộc sống mới, lu bu với công ăn việc làm… mọi việc đã không như mình nghĩ…chúng tôi đã mất liên lạc với nhau.  Mỗi lần nghĩ về Memphis tôi lại  nhớ về gia đình NT4 Trần Văn Thiện . Hy vọng lần nầy, khi đọc được những dòng chữ nầy chú Thiện, cô Lan  sẽ biết là chúng tôi rất nhớ và rất mong liên lạc được với cô chú. (Số ĐT của chúng tôi là: 704-583-0666)


    Những ngày dọn về Charlotte, NT1 nhà tôi lại sung sướng có được một đồng môn đã đến trước ở đây, NT2 Ngô Đức Huyền. Rồi theo từng đợt HO, chúng tôi lại hân hoan khi có thêm NT2 Nguyễn Hữu Thử, NT3 Bùi Công Khẩn và sau cùng là NT1 Trần Ngọc Dũng. Ở đây gia đình tôi cũng luôn được sống trong vòng tay yêu thương, đùm bọc của bạn bè đồng môn. Nàng dâu tôi đã qua 2 lần giải phẩu, lần nào tôi cũng được bồi dưỡng bởi những tô cháo đầy tình nghĩa của chị Lê (nàng dâu NT2 Ngô Đức Huyền), lúc nào chị cũng ân cần với tôi như một người chị… Vào một mùa đông năm nào (tôi không còn nhớ rõ) ngoài trời tuyết phủ trắng xóa. Khu vực nhà tôi ở lại bị cúp điện. Cả nhà đang co ro, run rẩy với cái lạnh khiếp người ở đây, thì NT3 Bùi Công Khẩn lại đến thăm chúng tôi với cái lò sưởi dầu. Rồi chúng tôi dời chỗ ở, ngôi nhà tôi đang ở cũng đã có sự giúp đỡ một tay của anh chị NT3 Bùi Công Khẩn…Những lúc nàng dâu tôi cảm thấy mệt mõi tâm hồn muốn tìm về với chốn tâm linh, chị Nguyệt (nàng dâu NT2 Nguyễn Hữu Thử) lại đến với tôi bằng những DVD, sách báo, kinh giảng hướng dẫn tôi tu học theo những điều Phật dạy … Từng chút, từng chút những yêu thương gắn bó trong tình đồng môn của các anh chị đã khắc ghi trong tôi ngày  một đậm  hơn.


 NT1  nhà tôi thường tự hào nói với các con: “ Nơi nào có gia đình Nguyễn Trãi thì nơi đó có tình Nguyễn Trãi”. Thật vậy, tình đồng môn của các anh đã bàng bạc khắp mọi  nơi. Chỉ cần biết cùng xuất thân từ trường đại học CTCT Đà Lạt là các anh tìm đến với nhau. Một lần địa chỉ email của chồng tôi bị đánh cắp, kẻ gian giả danh anh  gởi đến khắp bạn bè cái “meo” với nội dung là anh đang du lịch ở Luân Đôn, bị cướp và đã mất sạch giấy tờ cùng tiền bạc nên kêu gọi bạn bè giúp đỡ, khi về nhà sẽ thanh toán. Các anh chị đã lo lắng gọi đến nhà tôi để xác nhận hư thực như thế nào. Cảm động nhất là khi đọc được cái “meo” của NT4 Dương Đức Tân ở Luân Đôn gởi lên Mail Group “Anh đang ở khách sạn nào, cho em biết địa chỉ gấp, em sẽ đến đón anh về nhà”… Động cơ nào đã thúc đẩy các anh lo lắng cho nhau, nóng lòng vì nhau? Đó phải chăng là tình đồng môn, cơ hồ như một dòng máu nhỏ chảy len lỏi trong trái tim của mỗi người.


    Mùa hè năm 2009 sau khi tham dự cuộc Hội ngộ ‘40 năm khóa 1 ra trường’ và bầu Ban chấp hành Tổng Hội nhiệm kỳ 15, gia đình chúng tôi rủ nhau lên San Francisco, nơi có chiếc cầu Golden Gate, một kỳ quan của xứ sở Hoa Kỳ. Trên đường đi chúng tôi dừng lại Oakland gặp gỡ bạn bè Nguyễn Trãi ở đây. Bạn bè ở đây đã dành cho gia đình chúng tôi thật nhiều ưu ái. Gia đình NT1 Bùi Phước Ty, NT1 Hoàng Kính đã nghỉ một ngày làm để hướng dẫn chúng tôi thăm viếng nhiều nơi ở San Francisco . Chị Ty (nàng dâu NT1 BPTy) tuy không được khỏe nhưng cũng hăng hái tham gia cùng phơi nắng, phơi gió với chúng tôi cả ngày. Chị cũng đã chuẩn bị đủ thứ lỉnh kỉnh cần dùng mang theo cho chúng tôi… Cả nhà chúng tôi thật khâm phục  tài lái xe của NT1 Hoàng Kính. Anh đã điều khiển chiếc xe van 12 chỗ ngồi chạy vòng vèo khi đi theo “con đường lò xo”  vừa hẹp vừa dốc đứng một cách tài tình! Chiều về chúng tôi tập trung tại nhà của NT1 Bùi Phước Ty . Hai chú củn của anh chị chào mừng chúng tôi thật nhiệt tình! Cả “rừng”địa lan của anh chị Ty rộ hoa như để tiếp đón chúng tôi. Chị Ty đã chiêu đãi chúng tôi thật thịnh soạn, trong đó có cả canh chua, cá kho tộ thơm phức hương vị miền Nam, không xen lẫn một chút gì của Huế. Trong bữa cơm thân mật nầy chúng tôi hân hạnh được gặp chị Kính, anh chị NT1 Nguyễn Phước Thiện và anh chị NT5 Lê Bá Luyện. Tối lại, trước khi về nghĩ tại “khách sạn 5 sao” của anh chị NT1 Hoàng Kính, chúng tôi tranh thủ ghé thăm nhà anh chị NT1 Nguyễn Phước Thiện và anh chị NT6 Dương Tuấn. Ngày hôm sau chúng tôi trở về San Diego, dự định trên đường về sẽ ghé thăm các anh chị NT ở San José nhưng vì đường còn xa và thời gian đã hết nên chúng tôi im lặng đi về. Chúng tôi thành thật xin lỗi anh chị NT1 Nguyễn Văn Mục và tất cả các anh chị NT ở San José…


     Vào cuối tháng 9, những ngày chớm thu, lá thu đang trở mình úa màu, gia đình chúng tôi lại kéo nhau lang thang về phía đông bắc Mỹ: Washington DC, New York và Canada. Trên đường đến DC chúng tôi ghé Richmond, VA. thăm nhà của NT2 Nguyễn Thế Hiếu. Với chúng tôi, NT2 NTHiếu vừa là đồng môn của NT1 nhà tôi, vừa là bậc đàn anh (Anh là bạn học với chị tôi thời Trung học), vừa xen lẫn chút tình đồng hương Tam Kỳ, bởi vậy khi gặp nhau chúng tôi có rất nhiều chuyện để nói. Cơ ngơi của anh thật là xinh xắn, gọn gàng và ngăn nắp, nghe anh nói tất cả đều do bàn tay chăm sóc của chị (nàng dâu NT2 NTHiếu).  Còn anh thì mãi mê với công việc làm nên tên anh thì có ở nhà mà con người anh thì ở tận DC. Hôm nay cũng vậy, sau khi chúng tôi nghỉ ngơi, ăn uống, anh Hiếu vai mang túi xách, theo tiếng gọi của tình đồng môn lên đường hướng dẫn chúng tôi tiến về DC. Anh chị NT ở đây đón chúng tôi tại nhà hàng “Việt Royale” trong khu thương xá Eden với sự hiện diện của các anh NT1 Lê Văn Cước, NT1 Lê Đức Luận, NT2 Nguyễn Thế Hiếu, NT2 Nguyễn Văn Thương, NT2 Ngô Bá Lai.  Chiều nầy DC trở gió lạnh buốt nhưng chúng tôi vẫn thấy ấm áp bởi tình đồng môn của các anh chị dành cho chúng tôi. Các anh hàn huyên tâm sự cho đến hơn 11:30 mới chia tay nhau. Chúng tôi và anh Hiếu về nghỉ lại ở khách sạn 5 sao của NT1 Lê Văn Cước (Đi đến đâu chúng tôi cũng được anh chị Nguyễn Trãi dành cho “tiêu chuẩn cao cấp”). Anh chị NT1 LVCước đã về đây từ khi cơn bão Katrina tràn vào thành phố New Orleans, Louisiana. Chúng tôi vui mừng và cảm phục khi thấy anh chị đã cố gắng vượt qua mọi khó khăn để có được cuộc sống ổn định như hôm nay. Sáng hôm sau các anh chị lại tạo điều kiện để NT1 nhà tôi được gặp các anh NT2 Dương Quang Phúc, NT2 Thái Phát Tài mà chiều qua không gặp được. Mãi đến trưa chúng tôi lưu luyến chia tay DC, chia tay các anh chị NT thân thương của NT1 nhà tôi để lên đường hướng về New York. Càng về phía bắc mùa thu như đến sớm hơn. Hai bên đường rừng thu chập chùng khoe sắc lá, đẹp vô cùng. Phải là nhà thơ, nhà văn hay họa sĩ mới có thể lột tả được cái dáng thu tuyệt diệu của đất trời. Chúng tôi xuyên qua con đường hầm để vào thành phố New York. New York vượt qua thương đau, vươn lên và đã phục hồi.


    Theo dòng người ở đây chúng tôi lang thang ở New York  2 ngày. Hai ngày so ra quá ít để thăm viếng hay tìm hiểu thêm về NY. Chúng tôi lại tiếp tục hành trình về phía biên giới Mỹ và Canada. Đến nơi đã  hơn 7 giờ tối, chúng tôi dừng lại bên nầy biên giới để ghé vào thác Niagara. Vào buổi tối, Niagara Fall có vẻ đẹp riêng của nó. Dưới ánh điện, qua làn mưa bụi, Niagara Fall buông mình trắng xóa và đang rì rào nói chuyện. Có nhiều đoàn du khách cũng ghé nán lại ở đây như chúng tôi. Lòng vòng ở đây hơn cả tiếng đồng hồ, chúng tôi vượt qua biên giới để vào vùng đất Canada. Các con chúng tôi reo lên khi chiếc máy GPS lại tiếp tục hoạt động trên vùng đất mới để làm người bạn dẫn đường cho chúng tôi. Gần 12 giờ đêm gia đình chúng tôi có mặt ở nhà NT1 Nguyễn Quang Quảng. Canada đón chúng tôi với cái lạnh se se, không kèm theo cái gió lạnh buốt như NY. Vừa gặp nhau NT1NQQuảng đã răn đe NT1 nhà tôi: “Mấy hôm nay trời Canada trở lạnh, tao đem mấy chậu cây vào nhà, hôm nay lại đem ra để có chỗ rộng rãi tiếp đón gia đình mầy. Nè, mấy chậu cây của tao mà tiêu đời là tao hận mầy lắm đó nghe Kh”. NT1 nhà tôi cười cười rồi nói: “Thì mầy lái xe đến nhà tao đem về mà trồng lại”.  Trong một mớ cây ưu tiên được ở lại trong nhà, chúng tôi thấy có một chậu hoa giấy màu tím đỏ được uốn tỉa công phu rất đẹp mà anh cả Quảng giới thiệu là của NT4 Tôn Tiến Khang tặng cho anh (Mà hình như  NT nào ở đây cũng được tặng một chậu). Mới đặt chân đến vùng đất Canada tôi đã cảm nhận được tình đồng môn của các anh đã hiện diện nơi đây rồi. NT1 nhà tôi và anh Quảng bắt đầu “đề máy” để nói chuyện, mẹ con tôi thì im lặng để thưởng thức món ca ry cay cay, beo béo thật ngon của chị Tú Anh (Nàng dâu của NT1 NQQuảng). Sáng hôm sau chúng tôi gặp mặt các anh NT1 Đinh Thiêm Xuân, anh chị NT2 Nguyễn Văn Nghĩa tại nhà hàng “Điểm Sấm”. Các anh chị lại đưa chúng tôi đi một vòng Toroto, ghé lại phố Tàu. Tôi như lạc vào “mê hồn trận” bởi các gian hàng trái cây miền nhiệt đới, kệ nệ khuân về một mớ. Trên đường về anh Quảng đưa chúng tôi ghé thăm nhà NT1 Xuân, NT2 Nghĩa. Chiều hôm ấy chúng tôi hân hạnh được dự một cuộc họp mặt của thân hữu anh NT1 Quảng. Tại đây chúng tôi gặp mặt anh chị NT1 Vương Trọng Thiện và anh chị  NT3 Tiêu Khôn Cơ. Có thăm chơi mới biết sự tình. Ở đây cuối tuần các anh chị thường có những buổi họp mặt để vui chơi, ăn uống, tâm tình, ca hát và nhảy nhót, thật là thú vị. Và chiều nay cũng vậy, sau khi thưởng thức những món ăn ngon do anh chị chủ nhà và các anh chị bạn mang đến, chúng tôi cũng được thưởng thức giọng ca của các anh chị, được nhìn những bước chân uyển chuyển của các anh chị trên sàn nhảy. Tại đây chúng tôi phát hiện được những giọng ca điêu luyện của các anh chị NT nhà mình. NT1 Thiện với giọng ca trầm ấm qua nhạc phẩm “Một Chuyến Bay Đêm” chẳng thua gì Sĩ Phú (Nhà văn Hồ Trường An từng viết “ Sĩ Phú khi ca nhạc phẩm nầy thì ‘hát tới đâu sờ tới đó’. Nhưng tôi thấy NT1 Thiện nhà mình thì không có vậy) . NT3 Tiêu Khôn Cơ cũng có giọng ca thật là đặc biệt như Vũ Khanh. Bà con khóa 3 nhà mình chắc ai cũng biết tài năng của anh rồi. NT1 NQQuảng không những ngâm thơ hay mà hát cũng hay. Hôm ấy anh song ca với chị nghe thật mùi, thật tình. NT1 Quảng lại giới thiệu: “Một giọng ca chưa lên mà đã xuống , lịch đi show của anh dày đặc, nhưng hôm nay vì tình đồng môn của  anh em NT chúng tôi, anh đã đến từ NC, Hoa Kỳ để gặp chúng ta…”. Tôi thấy NT1 nhà tôi lững thững đi lên. Nếu mà ở nhà chắc tôi không thể nhịn cười được khi nghe anh Quảng giới thiệu, nhưng ở đây tôi ngồi hồi hộp lo cho anh “đem chuông đi đánh xứ người”. May mắn anh cũng đã hoàn thành nhiệm vụ mà anh Quảng giao phó với bài “Tiễn Em” tuy rằng cái chuông hơi rè!


     Trưa Chủ Nhật anh chị Quảng đưa chúng tôi đến thăm anh chị NT5 Nguyễn Văn Nhân. Anh chị Nhân đón chúng tôi tại tiệm Pizza. Chúng tôi rất vui khi thấy anh chị Nhân đã thành công trong việc kinh doanh buôn bán và có một tay nghề vững vàng. Chúng tôi biết không những NT5 Nhân mà cũng có nhiều anh chị NT của chúng ta đã thành công trong lãnh vực nầy. Chị Nhân đã nhồi bột và thực hành nướng ngay cho chúng tôi mấy ‘ổ’ Pizza đặc biệt. Các con của tôi chắc đã ‘kiến bò trong bụng’ rồi nên vừa đón lấy mấy ổ pizza từ tay chị Nhân, chúng đã chia nhau ăn thật tự nhiên, không đợi chủ nhà phải mời nhiều lần. Thấy vậy chị Nhân lại nướng thêm tặng các cháu một mớ cánh gà chua cay nữa. Điều làm cho chúng tôi cảm động là đi đến đâu các anh chị cũng dành cho các cháu một tình cảm chân thành, thương yêu và chăm sóc các cháu như con ruột của mình. NT1 Quảng và NT5 Nhân lại đưa chúng tôi xuống ngắm thác Niagara một lần nữa trước khi chia tay ra về. Trời đã về chiều. Chúng tôi cứ muốn thời gian đi chậm lại…NT1 Quảng và NT5 Nhân ôm chặt NT1 nhà tôi và cháu NT vào vòng tay để nói lời giã từ. Thời gian gặp nhau thật ngắn ngủi nhưng thật là vui, thật khó quên! Trên đường trở về Mỹ, chúng tôi đổi lộ trình theo hướng Nam Tây Nam để về thẳng nhà nên đã không ghé lại DC được như lời dặn dò của NT2 Dương Quang Phúc. Mong anh thông cảm và hẹn anh lần khác. Xin cảm ơn các anh chị. Cám ơn tình đồng môn của Trường Mẹ đã cho chúng tôi có được những cuộc hội ngộ thật tuyệt vời!


   Đó là câu chuyện về tình đồng môn mà các anh chị Nguyễn Trãi đã dành cho chúng tôi. Tình cảm của các anh chị cũng đã trải rộng ra đến nhiều đồng môn  khác mà tôi không thể nào ghi hết lại ở đây được. Nhiều  thân hữu của NT1 nhà tôi cũng thường xuýt xoa khen ngợi tình đồng môn của các anh em xuất thân từ Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Lúc nào sau cái xuýt xoa khen ngợi họ cũng nói thêm để vớt vát : “Tại các ông ít quá, có 6 khóa nên gần gũi với nhau hơn!”


   Tình cảm của các anh dành cho nhau cũng thật là kỳ lạ, nàng dâu tôi không thể nào hiểu được. Như trong sinh hoạt hàng ngày nhiều khi các anh cũng có những bất đồng ý kiến với nhau (Đó là lẽ thường tình trong cuộc sống, người ta thường hay nói “Chín người mười ý” mà). Các anh thường tranh luận thật sôi nổi, thật căng thẳng (Đương nhiên rồi, tranh luận là nghề của các anh mà) nhiều lúc tưởng như đổ vỡ, thế nhưng các anh đã dừng lại đúng lúc để giữ lấy tình đồng môn. Lúc  gặp nhau các anh lại ôm chặt lấy nhau vào lòng, chắc là để nói với nhau  “Chúng ta đã mất tất cả, chỉ còn có nhau”. Tự dưng tôi lại nhớ đến chuyện hồi thời niên thiếu của tôi. Lúc đó tôi thực là cứng đầu và bướng bỉnh. Chị tôi thì nghiêm khắc, thường lấy quyền làm chị áp đặt tôi phải làm theo – Phải làm như thế nầy, phải làm như thế nọ – Lúc nào tôi cũng tranh cãi để dành phần hơn về mình, nhiều lúc đã trở thành hỗn láo. Chị tôi thì không chịu tha thứ. Giận quá chị thường tặng cho tôi những cái cốc vào đầu đau điếng! Trong nhà chẳng lúc nào yên bởi chị em tôi cứ tranh cãi nhau từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn! Ba tôi buồn lắm nhưng không nói ra. Một hôm ngồi vào bàn học tôi thấy mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ của Ba tôi “ Khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” Chị em tôi hiểu ý của Ba. Từ đó chị tôi biết tha thứ những lỗi lầm nhỏ của tôi, ôn tồn chỉ bảo cho tôi. Còn tôi cũng ngoan hơn, không ngang bướng nữa nên khỏi phải nhận mấy cái cốc đầu của chị tôi…Mãi đến sau nầy khi Mẹ tôi đã già, chị tôi thay thế Mẹ tôi để bảo bọc, chăm sóc cho chúng tôi. Giờ đây nơi đất khách quê người mỗi lần Xuân về Tết đến lòng tôi lại khắc khoải nhớ thương về chị. Đó là chuyện tình cảm ruột thịt của tôi, còn các anh chẳng cùng chung một dòng máu mẹ cha, cũng chẳng là họ hàng thân thích, nhưng các anh đã thương yêu gắn bó với nhau. 


   Vòng tay yêu thương của các anh chị không những dành cho các đồng môn ở hải ngoại mà đã mở rộng ra về đến quê nhà, nơi có các đồng môn thiếu may mắn của các anh đang sống. Không phân biệt là khóa nào, cứ có lời kêu cứu lại được các anh chị giúp đỡ. Đã có nhiều ngôi nhà ‘Tình Nghĩa Nguyễn Trãi’ được dựng lên hay được sửa chữa. Nhiều đồng môn Nguyễn Trãi nhờ đó có đủ tiền để nhập viện. Nhiều tuổi thơ của Nguyễn Trãi thất học có cơ hội trở lại trường qua chương trình “ Quỹ khuyến học NT”. Mỗi độ Xuân về những mảnh đời khó khăn, khốn đốn của thương binh, cô nhi quả phụ, tử sĩ của gia đình Nguyễn Trãi lại được các anh chị giúp đỡ qua chương trình “Cây mùa xuân gia đình NT”. Gần đây nàng dâu tôi không khỏi cảm động khi nhìn thấy khuôn mặt rạng rỡ của cháu Cương (Đứa con duy nhất của anh chị NT4 Nguyễn Văn Cư ở Huế) đã tự lái chiếc xe lăn chạy bằng điện - Do các anh chị đồng môn ở hải ngoại gởi về làm quà cho cháu -  chạy vòng vòng trong thành nội mà không cần sự giúp đỡ của ba mẹ. Bên cạnh những tấm lòng nhân ái của các anh cũng còn có các chị, các nàng dâu của gia đình Nguyễn Trãi luôn luôn hỗ trợ các anh. Nhiều chị đã thay thế các anh quá vãng tham gia vào mọi hoạt động của Tổng Hội như chị Giao Kim Kiều (nàng dâu NT1 Quách Dược Thanh), chị Lễ (nàng dâu NT1 Nguyễn Văn Lễ), chị Hồng Vân (nàng dâu NT3 Đoàn Chức)… và còn nhiều nàng dâu đã có công đối với GĐ Nguyễn Trãi nữa mà tôi không ghi ra đây vì muốn để dành cho các anh chị tự nhớ lấy…  Đó là chưa kể các cháu thuộc thế hệ thứ hai (của gia đình Nguyễn Trãi) cũng đã nối tiếp con đường cha anh đã đi, tiếp tục vun bồi cái tình cảm sâu lắng đó để biến thành một truyền thống quí báu và đáng hãnh diện của gia đình Nguyễn Trãi chúng ta.


   Vậy đó! Tình đồng môn của gia đình Nguyễn Trãi tuy bàng bạc nhưng thật bền chặt, nó phát sinh từ khi người SVSQ đầu tiên đặt chân vào khuôn viên ngọn đồi 4648 rồi nó theo chân các anh xuống núi tung hoành khắp 4 vùng chiến thuật…Qua hơn 40 năm dù vật đổi sao dời, dù phải kinh qua bao nhiêu nỗi đắng cay, khốn khổ … nhưng mối tình đó không những không bị nhạt phai mà trái lại càng thêm nồng thắm…


       Các anh chị thân mến !  “Những  cảm nghĩ rời” của tôi có “chuyện chưa ai biết” nhưng cũng có chuyện  “biết rồi khổ quá nói mãi” . Dù sao cũng nói lên được là nàng dâu tôi rất ngưỡng mộ các anh , cảm phục các chị , trân quí và hãnh diện với tình đồng môn của trường mẹ. Lúc nào nàng dâu tôi cũng mong mỏi các anh luôn nắm chặt tay nhau đi tiếp những quãng ngày còn lại để nàng dâu tôi không phải ngỡ ngàng khi thấy một cánh chim NT nào đó lìa đàn, bỏ tổ ra đi, chẳng phải vì cơn gió heo may bất chợt tràn về mà vì một lý do đáng tiếc nào đó xảy ra… Trước khi dừng lại ở đây , một lần nữa nàng dâu tôi xin cảm ơn các anh chị đã chịu khó bỏ thì giờ để đọc hết “những cảm nghĩ rời” mà nàng dâu tôi đã góp nhặt được . Kính chúc các anh chị luôn an bình và hạnh phúc.



Nguyễn thị Duy
(nàng dâu NT1 Trần Kim Khôi)