Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 THĂNG TRẦM ĐẤT THUẬN HÓA

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

THĂNG TRẦM ĐẤT THUẬN HÓA

In PDF.




 Một số người quen biết, thân hữu thường hỏi tôi về Huế? Tại sao ở Huế có nhiều chùa? Có phải đó là xứ sở của Phật giáo Việt Nam? Và trong những lần trao đổi, mạn đàn hoặc trong những các mục biên khảo liên quan đến đề tài “Tên Họ Việt Nam” hỏi về các dòng họ Nguyễn Phước tộc – Tôn Thất ở Huế?


Thực ra Huết được coi là xứ sở của Phật giáo VN, bởi vì diện tích Huế thì hẹp, dân số chẳng nhiều, tuy vậy, Huế và các vùng phụ cận có khoảng 3000 ngôi chùa lớn, nhỏ hoặc Niệm Phật đường. Từ khi các chúa Nguyễn vào khai phá và  mở cỏi đất phương Nam cho đến các đời vua triều Nguyễn kể từ vua Gia Long (Nguyễn Ánh) cho đến vị vua cuối cùng là Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) thì các phi tần triều Nguyễn, sau khi các tiên đế băng hà phải xuất cung về các làng xã lân cận với hoàng thành.


Thông thường các cung phi, mỹ nữ khi đã được tuyển chọn khắp các vùng đất nước đưa vào đại nội thì ít còn cơ hội về lại quê để làm ăn sinh sống. Ở Huế có câu như “đưa con về nội” có nghĩa là như mất luôn, không còn cơ hội gặp lại, khi các vua băng hà, cung phi mỹ nữ không được phép tái giá, họ chỉ ao ước xây dựng cho mình một ngôi chùa lớn, nhỏ, hoặc một niuệm Phật đường để hằng ngày tu tập cho đến khi qua đời. Ngoài ra các thái giám, khi các tiên đế băng hà họ thường không còn được trọng dụng trong N65i, hoặc già yếu cũng thường lập chùa để tu tập cho đến chết. Người dân Huế dù có làm phép quy y theo đạo Phật hay không, nhưng hể thờ cúng ông bà, tổ tiên thì vẫn tự cho mình là đạo hữu, là Phật tử. Vì những lý do đã nói trên mà người Huế tự nhận hết 80% là đạo Phật.

Về dòng họ Nguyễn Phúc, Tôn Thất một số không ít người mơ hồ, hoang mang khi bàn về dòng họ Nguyễn Phước hay Nguyễn Phúc – Tôn Thất.


Có người cho rằng Nguyễn Phước hay Tôn Thất là một họ do vua chúa nhà Nguyễn ban cho các công thần là họ Tôn thất. Các trọng thần có công với triều Nguyễn được ban họ này cho dù trước đây mang họ Lê, Lý, Trần, Võ. Đoàn, Huỳnh... cũng trở thành Tôn Thất nên họ Tôn thất được chia làm nhiều hệ, hệ gốc họ Lê, họ gốc họ Lý, gốc họ Trần...mà không liên hệ huyết thống với nhau, có thể kết hôn với nhau, điều đó hoàn toàn không đúng.


Thực tế các vua chúa triều Nguyễn có ban họ cho một vài công thần như chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã ban họ Nguyễn Phúc cho con của Mạc Cảnh Huống là Mạc Cảnh Vĩnh thành Nguyễn Phúc Vĩnh. Vua Gia Long ban họ cho công thần tướng Huỳnh Đức thành Nguyễn Huỳnh Đức ...nhưng gia đình những vị này không  hề được liệt vào hàng Tôn Thất của nhà Nguyễn Hoàng Tộc.

Trong phạm vi nhỏ của bài viết này, tôi chỉ nêu lại những từ ngữ liên quan đến dòng họ Nguyễn Phúc, Tôn Thất dựa theo tài liệu chính sử và tộc sử đã có.


Họ Nguyễn:


Đa số người Việt Nam mang họ Nguyễn, có rất nhiều nhánh Nguyễn khác nhau, khó mà tìm được hết những mối dây liên hệ xa gần giữa mọi nhánh họ Nguyễn. Không ai biết họ Nguyễn phát xuất từ đâu và vào thời kỳ nào? Lịch sử ghi vào thời Đông Tấn (Thế kỷ V trước Tây lịch) có thứ sử Giao Châu tên Nguyễn Phu, Biệt giá Giao Châu tên Nguyễn Lãng. An Nam Chí Lược Lê Tắc ghi thời Nam Bắc Triều ở Trung Hoa có ông Nguyễn Dị Chi làm Thứ Sử Giao Châu. Trong Việt Nam Sử Lược của Tr6àn Trọng Kim ghi thời 12 sứ quân (945-967) có các sứ quân tên Nguyễn Khoan, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thủ Tiệp và đời nhà Đinh (968-980) có vị khai quốc công thần Nguyễn Bặc (ạnh, em kết nghĩa với Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Điền) được phong tước Định Quốc Công. Nguyễn Bặc là vị tổ xưa nhất còn ghi lại trong quốc sử và tộc sử của dòng họ Nguyễn Phước hay Nguyễn Phúc.


Con cháu Định Quốc Công Nguyễn Bặc có rất nhiều người giữ những chức vụ quan trọng vào các triều đại Lý, Tr6àn, Lê. Vào đời vua Lê Chiêu Tông, khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527) Điện Tiền Tướng Quân An Tĩnh Hầu Nguyễn Kim lánh nạn sang Lào, chiêu mộ quân sĩ, lập con út vua Lê Chiêu Tông  lên ngôi vua tức Lê Trang Tông, đem quân chống họ Mạc  mưu việc khôi phục nhà Lê, được vua Lê Trang Tông phong là Thái Sư Thượng Phu Hưng Quốc Công Chưởng Nội Ngoại Sự, nhờ Nguyễn Kim mà sự nghiệp nhà Lê trung hưng kéo dài thêm 256 năm.


Nguyễn Kim là con trai trưởng của Trừng Quốc Công Nguyễn Văm Lưu, húy Nguyễn Hoằng Dụ, con trai thứ của Nguyễn Văn Lưu là Nguyễn Tôn Thái là Tổng Binh ra trấn thủ các tỉnh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, Thaí Nguyên chống cự với họ Mạc mấy mươi năm, bắt được thủ lĩnh Mạc Kính Dụng về dâng nạp, vua Lê Trang Tông phong chức Đảng Khấu Tướng quân (1533) đời đời trấn giữ Ải Quỷ Môn Quan. Về sau vì sự phân tranh giữa Trịnh Nguyễn và Tây Sơn bắc tiến, con cháu sợ Trịnh và Tây Sơn ám hại phải mai danh ẩn tích, trà trộn trong dân chúng trên thời gian 200 năm, đến khi vua Gia Long thống nhất đất nước (1802) thì không tìm ra tông tích nữa.


Khi Nguyễn Ánh lên ngôi (vua Gia Long) nhà vua truy tôn các tổ phụ là Hoàng đế. Nguyễn Kim được phong  là Triệu Tổ Tịnh Hoàng Đế. Nguyễn Kim có một con gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo gả cho Trịnh Kiểm (người khai sáng sự nghiệp chúa Trịnh ở ngoài Bắc) và hai con trai là Tả Tướng Lãng Quận Công Nguyễn Uông (bị Trịnh Kiểm giết hại, thứ là Thái Úy Đan Quận Công Nguyễn Hoàng. Bà Ngọc Bảo là mẹ Bình An Vương Trịnh Tùng, biết ý Trịnh Kiểm muốn ám hại em mình, nên xin Trịnh Kiểm xin vua Lê bổ nhiệm Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm đất Thuận Hóa là nơi man rợ, nước độc. Nhờ vậy mà Nguyễn Hoàng lập thành nghiệp Chúa (1558-1780). Rồi sau vua Gia Long thống nhất sơn hà thành Đế Nghiệp (1802-1945) trước sau công 378 năm.


Người con thứ sáu của Nguyễn Hoàng tên là Nguyễn Phúc Nguyên, sử chép trong thời kỳ mang thai sắp sinh ông, bà mẹ trông thấy thần ban cho tờ giấy viết đầy chữ Phước (hay Phúc) nên dùng chữ này làm tên lót cho con, về sau Nguyễn Phúc Nguyên lên kế vị cha, sử gọi là Chúa Sãi Vương (1613-1635). Từ đó con cháu đều mang tên họ Nguyễn Phúc.
TÔN THẤT


Khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, (Gia Long) nhà vua đã truy tôn các tổ phụ là Hoàng Đế. Tất cả có 11 vị được truy tôn thuộc phần Vương phả là:


1/ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế: Nguyễn Kim.
2/ Thái Tổ Gai Dủ Hoàng Đế: Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên)
3/ Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi)
4/ Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng)
5/ Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền)
6/ Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Thái (Chúa Nghĩa)
7/ Hiển Tông Hiếu Minh hoàng Đế: Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa)
8/ Túc Tông Hiến Minh Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Thụ (Ninh Vương)
9/ Thế Tông Hiến Vũ Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Khoát (Vũ Vương)
10/ Duệ Tông Hiến Định Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Thuần (Đinh Vương)
11/ Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Côn.


Từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần gồm chín đời được sử gọi là Chúa (từ Chúa Tiên đến Chúa Đinh Vương) và như trên đã nói, tên học Nguyễn Phước (Nguyễn Phúc) bắt đầu từ đời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.


Tộc Phả Nguyễn Phúc gồm hai phần:

* Các vị chúa trước đời vua Gia Long cùng hậu duệ của các vị này thuộc phần Tiền Biện được liệt vào Tiền Hệ.


* Các vị vua từ đời Gia Long lên ngôi, tất cả người torng họ nguyễn Phúc đều thuộc hoàng tộ và được dùng chữ Tôn Thất ghép thêm vào họ Nguyễn Phúc như từ ngữ lót để phân biệt với các nhánh họ Nguyễn khác. Tôn thất nghĩa là Hoàng tộc, thuộc dòng họ Vua.


Được liệt vào Hoàng tộc dòng họ Nguyễn Phúc và được dùng chữ lót Tôn Thất bao gồm những con cháu của Triệu Tổ Nguyễn Kim đã đi theo Thái Tổ Nguyễn Hoàng vào Nam, góp công trong việc xây dự sự nghiệp Chúa Nguyễn cùng các hậu duệ của các vị ấy. Những người nào dù là con hay cháu của Nguyễn Hoàng mà đã lưu lại ngoài miền bắc, làm quan với vua Lê Chúa Trịnh (như trường hợp các ông Nguyễn Hắc, Nguyễn Vịnh đều là con của ông Nguyễn Hán cháu nội của Nguyễn Hoàng hoặc là hậu duệ của Nguyễn Tôn Thái (em ruột của Nguyễn Kim) đều được ban công tánh Nguyễn Hựu chứ không được liệt hàng tôn thất của họ Nguyễn Phúc. Con cháu của những người phản nghịch bị khai trừ ra khỏi dòng họ Nguyễn Phúc như các nhánh Nguyễn Hạp, Nguyễn Trạch (con của Nguyễn Hoàng) phải đổi sang họ Nguyễn Thuận.


Hoàng Tộc Tiền Hệ:


Tiền hệ gồm 10 hê theo thứ tự của các Chúa được vua Gia Long truy tôn. Trong thực tế chỉ có 7 trong 10 hệ là có con cháu kế truyền. Hoàng đế thứ tư (Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng Đế Nguyễn Phúc Lan) chỉ có một tria đề kế tự là Nguyễn Phúc Tần sau nối ngôi mở ra hệ 5 và vị hoàng đế thứ sáu (Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thái) cũng chỉ có một trai kế tự là Nguyễn Phúc Chu sau nôí ngôi Chúa, mở ra hê 7 nên 2 hệ 4 và 6 đều bị khuyết. Vị Hoàng Đế thứ 11 là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế Nguyễn Phúc Côn, con thứ 2 của Nguyễn Phúc Khoát, tuy được truy tôn là Hoàng Đế nhưng chưa giữ ngôi chúa ngày nào vì bị Trương Phúc Loan mưu hại sau khi Vũ Vương mất. Ông có 6 con trai, 5 người mất sớm hoặc chết trong cuộc chiến chốn Tây Sơn, chỉ còn người con thứ 3 là Nguyễn Phúc Ánh sau lên ngôi vua Gia Long, mở ra chánh hệ. Ngoài những hệ tôc phả Nguyễn Phúc còn ghi chépPhòng và Chi, mỗi hệ co nhiều Phòng, mỗi Phòng có nhiều Chi (như các phái và Chi của các họ khác)


Hoàng Tộc Chánh Hệ


Theo thế hệ trong gia tộc, vua Gia Long là đời thứ 13 và theo tôn phổ là đời thứ 11, nhưng đến đời Gia Long mới thực thụ lên ngôi Hoàng Đế để con cháu Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long) được thành lập đệ nhất chánh hệ, con cháu Minh mạng là nhị hệ, vua Tự Đức và vua Kiến Phúc đều không có con nên đệ tứ chánh hệ là hệ cuối cùng đều là con cháu vua Dục Đức và vua Đồng Khánh (hai vua này là cháu nội vua Thiệu Trị)


* Đệ nhất chánh hệ: Thế Tổ Cao Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Ánh, niên hiệu Gia Long (1762-1820)

* Đệ nhị Chánh hệ: Thế Tổ Nhân Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Đảm, niên hiệu Minh Mạng (1791-1841)

* Đệ Tam chánh hệ: Hiến Tổ Chương Hoàng Đế: Nguyễn Phúc Miên Tông, niên hiệu Thiệu Trị (1807-1847)

* Đệ tứ chánh hệ: Dực Tông Anh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, niên hiệu Tự Đức (1829-1883)


* Cung Tông Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Chân, niên hiệu Dục Đức (1853-1884)

* Hiệp Hòa Hoàng Đế Nguyễn Phúc Hồng Dệt Văn Lãng Quận Vương (1847-1883)

* Giảng Tông Nghi Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Đăng niên hiệu Kiến Phúc (1869-1884)

* Hàm Nghi hoàng đế Nguyễn Phúc Ưng Lịch (1871-1943)

* Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Đăng, niên hiệu Đồng Khánh (1864-1889)

* Thành Thái Hoàng Đế Nguyễn Phúc Bửu Lân, Hoài Trạch Công (1879 – 1955)
*  Duy Tân hoàng đế Nguyễn Phúc Vĩnh San (1900-1945)

* Hoằng Tông Hoàng Đế, Khải Định hoàng đế Nguyễn Phúc Bửu Đảo (1885-1925)

* Bảo Đại hoàng đế Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (1913-1997)



4/  Về chánh hệ, vua Minh Mạng có sáng tác bài thơ Đế Hệ và 10 bài thơ Phiên Hệ. Mỗi chữ theo thứ tự trong các bài thơ ấy được dùng làm tên lót cho một thế hệ con cháu của chính vua “Đế hệ” hoặc con cháu các hoàng tử anh em của vua “phiên hệ”.

Bài thơ Đế Hệ Thi do vua Minh Mạng sáng tác như sau:


Miên Hường Ưng Bữu Vĩnh
Bảo Quy Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương


(Miên Tông: vua Thiệu Trị, Hồng Nhậm: Vua Tự Đức, Ưng Lịch: Vua Hàm Nghi, Vĩnh San: Vua Duy Tân...)
10 bài phiên hệ quá dài, tôi chỉ ghi bài Phiên Hệ 1, nhánh Đông Cung Ánh Duệ Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh để làm ví dụ:


Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng
Liên Huy Phát Bội Hương
Linh Nghi Hàm Tốn Thuận
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang


Từ các chữ lót được quy định trong bài thơ trên, người ta phân biệt được các thế hệ và các chi nhánh thuộc chánh hệ.
Về nữ phái, con gái vua là Hoàng Nữ, khi được sắc phong trở thành Công Chúa và có tên hiệu riêng.
Công chúa về sau có anh hay em được làm vua thì được gọi là Trưởng công chúa (để phân biệt của công chúa của vua đang trị vì). Có cháu làm vua (vua tại vị gọi bằng cô) thì được gọi là Thái Trưởng Công Chúa. Con trai của Hoàng Tử là Công Tử. Chị em gái của công tử là Công nữ. Con gái của công tử là Công tôn nữ, con gái của công tôn nữ là Công Tằng Tôn Nữ, xuống một bậc là Công Huyền Tôn Nữ. Khi nghe Huyền Tôn Nữ thì người ta biếtrõ là con gái của Bửu và biết là con cháu của chánh hệ và những đời kế tiếp gọi là Tôn Nữ với ý nghĩa là cháu gái.

Sau này, để giản dị hóa thủ tục hộ tịch, tên họ Nguyễn Phúc không được ghi chép đầy đủ, người ta chỉ dùng tên lót của bài thơ Đế Hệ mà thôi, như Bửu Hội, Bửu Lân, Vĩnh Thụy, Bảo Long...


Còn phiên hệ thì Tôn Thất.


Tóm lại, khi tên họ của Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo hoặc Tôn thất thì phải hiểu đó là những người thuộc họ Nguyễn Phúc và để không lẫn lộn với các nhánh Nguyễn khác, dùng các tên lót trên làm ký hiệu để phân biệt với các nhánh Nguyễn khác mà thôi.

Nguyễn Phúc Bửu Hội, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy...Nguyễn Phúc Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Phúc Tôn Thất Đạm...


Trở lại 9 đời chúa Nguyễn kế tiếp nhau xây dựng đất nước VN ở phía Nam, người có công nhiều nhất là Nguyễn Phúc Tần (Hiền Vương) . Dưới thời Hiền Vương, quân Trịnh Nguyễn đã đánh nhau 3 lần 1655, 1660, 1661 khi thua, khi thắng, lấy sông Gianh làm ranh giới. Hiền Vương đẩy mạnh việc mở mang đất đai về phía Nam. Năm 1653 vua Champa là Bà Tấm cho quân đánh phá vùng Phú Yên. Hiền Vương sai quân đánh Champa, Bà Tấm phải xin hàng, Chúa lấy đất của Bà Tấm đến sông Phan Rang lấp nên hai phủ Thái Khang và Diên Ninh. Triều đình Chân Lạp lúc bấy giờ rối ren vì tranh giành quyền lực ngôi vua, các ông hoàng Chân Lạp sang xin chúa Hiền trợ giúp, chúa cho quân sang Chân Lạp để lập vua mới (1658). Trong lần can thiệp năm 1674, chúa Hiền cho lập 2 vua ở Chân Lạp. Nặc Thu là chánh vương đóng ở Long Úc, Nặc Nộn làm đệ nhi vương đóng ở Gia Định. Chân Lạp thần phục chúa Nguyễn, nhờ vậy mà lưu dân người Việt đến định cư ở hai vùng Đồng Nai Gia Định ngày càng đông. 1679 chúa Hiền đưa quân đến đóng ở Gia Định cho dựng đồn dinh và lập phố chợ, cũng 1679 các tướng nhà minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đem tàn binh cùng 50 chiến thuyền  đến đàng torng xin làm tôi chúa Nguyễn để nương thân. Chúa Hiền đã bang chức cho họ và liên hệ với Chân Lạp để đưa họ vào định cư ở Bàn Lân (Biên Hòa) và Mỹ Tho. Họ đã cùng người Việt khai phá đất đai, lập nên hai khu thị tứ quan trọng ở miền Nam là Cù Lao Phố và Mỹ Tho. Chúa Hiền đã tạo điều kiện  cho việc thành lập chính quyền VN ở đây 1698 (đính kèm bài viết này là bản đồ mở cỏi của các chúa Nguyễn ở phương Nam). Tại cố đô Huế, hiện nay trong đại nội có các miếu thờ các chúa và và các vua triều Nguyễn.


*Triệu Miếu: Xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804) có khám thờ Triệu tổ Tịnh Hoàng Đế Nguyễn Kim.

* Thái Miếu: Xây dựng năm Gia long thứ 3 (1804) có 9 án thờ 9 vua: Hậu thái tổ, Hiếu Văn, Hiêu chiêu, Hiếu triết, Hiếu Nghĩa, Hiếu Minh, Hiếu Ninh, Hiếu Vũ, Hiếu Định.

* Hưng Miếu xây dựng năm Minh Mạng thứ 2 (1821) trong có khám thờ Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng Đế (Nguyễn Phúc Luân) thân sinh Gia Long.

* Thế miếu: Xây dựng năm Minh Mạng thứ 2 (1821) trong có 7 khám thờ Hậu Thế Tổ Cao Hoàng Đế (Gia Long) Thánh Tổ Nhơn Hoàng Đế Minh Mạng) Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (Thiệu Trị) Dực Tông Anh Hoàng Đế (Tự Đức) Giản Tông Nghi Hoàng Đế (Kiến Phúc) Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế (Đồng Khánh) Hoàng Tông Tuyên Hoàng Đế (Khải Định). Sau này ở điện Thế Miếu còn rước 3 long vị của 3 vua chống Pháp vào thờ là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân.

* Điện Phụng Tiên:Thời Gia Long có tên điện Hoàng Nhân. Đến đời Minh Mạng đổi tên thành điện Phụng Tiên, trong thiết 7 án thờ các đế, từ đời Gia Long đến đời Khải Định, điện Phụng Tiên cũng thờ như thế miếu, nhưng có tính cách gia tộc nên các bà trong nội cung có thể vào cúng kỵ còn Thế Miếu thì phụ nữ không được vào.


Nhắc đến thăng trầm xứ Huế, đã là dân Huế thì 2 biến cố đau thương mà không một người dân Huế nào lại có thể quên:


I/ Biến cố thất thủ Kinh Đô: (1885).


Sau khi vua Tự Đức chết, theo di chiếu, vua Dục Đức nối ngôi nhưng hai quan đại thần Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường tuyên bố phế bỏ. Vua Dục Đức bị giáng xuống Thụy Quốc Công, đại thần Trần Tiển Thành phản đối  bị giết, ngự sử Phan Đình Phùng bị bắt giam, cách chúc đuổi về. Sau đó, vua Tự Đức bị bắt giam và chết trong ngục. Hai vị đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lập vua Hiệp Hòa lên ngôi. Vì thấy 2 vị đại thần quá lộng hành nên muốn trừ bỏ bằng cách mượn tay người Pháp. Sự việc bị bại lộ, vua Hiệp Hòa bị bắt giam rồi bị ép uống độc dược chết. Mọi việc triều đình từ đó do 2 quan đại thần quyết đoán. Quan lại trong triều đình cũng như hoàng thân quốc thích nếu ai trái ý 2 quan đại thần đều bị cách chức hoặc giết chết. Hai quan Tông Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lập vua Kiến Phúc lên ngôi, nhưng rồi cũng bị chết một cách đột ngột. Vua Kiến Phúc chết, 2 đại thần Thuyết và Tường đưa vua Hàm Nghi lên ngôi, vì thấy Hàm Nghi còn nhỏ tuổi, dể thao túng. Tháng năm, năm Ất Dậu (1885) Thượng tướng De Courcy của Pháp được cử làm toàn quyền Bắc Trung Kỳ đem quân vào Huế tìm cách bắt Tôn Thất Thuyết, biết giả tâm của De Courcy, nửa đêm 22 sáng 23 tháng 5 Ất Dậu (5-7-1885) Tôn Thất thuyết ra lệnh tấn công Toà Khâm Sứ và Đồn Mang Cá, vì vũ khí quá thô sơ so với quân đội Pháp, đến sáng quân Pháp phản công và tiến chiếm kinh đô, triều đình hoàn toàn thất bại. Tôn thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi và Tam Cung ra Tân Sở và ban hịch Cần Vương, toàn dân chúng Kinh Đô bị giết chết rất nhiều, nằm la liệt ở kinh thành, từ đó cho đến nay, ở Huế có một tuần lễ cúng cô hồn để tưởng nhớ quân sĩ và dân thường chết trong biến cố bi thương đó. Hằng năm, cứ vào dịp 23 cho đến 30 tháng 5 âm lịch, toàn dân chúng ở Huế đều lập bàn thờ ra ngoài trời để kỷ niệm ngày thất thủ kinh đô và cúng cô hồn. Lúc vua Hàm Nghi ra Tân Sở thì Nguyễn Văn Tường đầu thú De Courcy. De Courcy bắt Nguyễn Văn Tường phải tìm mọi cách đưa vua Hàm Nghi về, việc không thành công ông Tường bị đày đi Tahiti.


Tổng đốc Hà Ninh Nguyễn Hữu Độ về thay thế, trông coi Cơ Mật Viện và bàn với Pháp đưa Nguyễn Phúc Ưng Đăng (Đồng Khánh ) lên ngôi. Vua Hàm Nghi ở Tân Sở vài hôm sau đó theo đường núi ra Bắc. Tôn Thất Thuyết chạy sang Tàu cầu viện, để hai con là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp ở lại phò ta vua. Tháng 8 năm Mậu Tý (1888) Trương Quang Ngọc, người Mường phản bội, đã chỉ điểm Pháp bắt vua Hàm Nghi đưa vào giam ở Sài Gòn. Hai ông Đạm và Thiệp tự vẫn.


Ngày 12.2 năm Kỷ Sửu (1889) Pháp đày vua Hàm Nghi sang Algerie, Pháp đưa Nguyễn Phúc Ưng Đăng (Đồng Khánh) lên ngôi kế vị được 3 năm.  Đồng Khánh chết. Nguyễn Phúc Bửu Lân (Thành Thái) lên ngôi vị lúc 10 tuổi. Thành Thaí lúc lớn lên có tư tưởng chống Pháp, lập 1 đội nữ binh để qua mắt mật thám Pháp và giả điên. Pháp biết nhà vua không điên, tương lế tựu kế ép Thành Thái thoái vị đi an trí ở Vũng Tàu rồi đày qua đảo Reunion. Năm 1947, vua được trở về VN, sống ở Sài Gòn cho đến chết.


Lúc vua Thành Thái bị ép thoái vị (1907) triều thần tôn Nguyễn Phúc Vĩnh San (Duy Tân) lên ngôi. Năm 1914 thế chiến thứ 1 bùng nổ. Một số sĩ quan yêu nước muốn nhân cơ hội này lất ách thống trị của Pháp, hộ biết nhà vua có chí lớn nên đề cử 2 ông Thái Phiên và Trần Cao Vân liên lạc, bàn bạc kế hoạch khởi nghĩa. Đêm 2-4 Bính Thình (3-6-1916) Duy Tân xuất cung, chẳng ngờ mưu cơ bại lộ, vua bị bắt trong lúc đang trốn tại chùa Thiền Tôn Huế. Sau đó bị đưa đi an trí ở đải Reunion. Thế chiến thư 2 bùng nổ, vua Duy Tân được phong chức thiếu tá trong quân đội Pháp, ngày toàn thắng, tướng De Gaule bằng lòng để nhà vua về nước tham gia quốc sự. Troên đường về thành phố Saint Denis, phi cơ bị ngộ nạn tại nước Cộng Hòa Trung Phi. Nhà vua được an táng ở nghĩa trang M’Baiki. Năm 1987 cải táng về Huế chôn cạnh vua cha Thành Thái. Năm 1916 vua Duy Tân bị đi đày, Pháp và triều đình Huế lập Nguyễn Phúc Bửu Đảo (Khải Định) lên ngôi. Triều đình Huế lúc này chẳng còn quyền lực gì nữa trên toàn cõi đất nước. Năm 1924 nhà vua bị bệnh, qua đời năm 1925. Khải Định chết, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy lên ngôi tức vua Bảo Đại (1926) qua Pháp du học, 1932 trở về Huế. Ngày 8-3-1945 Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại ra tuyên cáo độc lập, nội các Trần Trọng Kim được thành lập. Tháng 8 năm 1945 Bảo Đại trao ấn kiếm cho chính quyền Việt Minh và ban chiếu thoái vị đồng thời ra Hà Nội làm cố vấn  cho chính phủ liên hiệp 1946. Năm 1949, Pháp tái chiếm VN đưa Bảo Đại làm quốc trưởng. Năm 1954, vua bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm thủ tướng và sau đó bị truất phế rồi sống lặng lẽ cuối đời ở Pháp cho đến 1997.


Triều Nguyễn chính thức giữ ngôi Vua từ 1802 đến 1945 là 143 năm. Nếu tính từ lúc Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng Vào Thuận Hóa xây dựng nghiệp Chúa (1558) đến vua Bảo Đại thoái vị 1945 gần tròn 4 thế kỷ. Hai thế kỷ đầu các chúa đã hoàn thành việc mở nước VN từ Thuận Hóa đến Mũi Cà Mau, thống nhất đất nước từ Bắc đến Nam. Sau khi chiếm được miền Nam VN 30/4/1975, đảng CSVN bóp méo viết lại lịch sử VN theo chiều hướng  của họ. Trong cuốn lịch sử VN tập I do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội lên án triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của nước ngoài.”. Dù lịch sử bị bóp méo, xuyên tạc, thực sự người cộng sản vẫn không thể phủ nhận công lao của vương triều Nguyễn về việc khai phá ở đàng Trong. Trần Văn Giàu, một sử gia của Duy Vật Biện Chứng cũng đã công nhận. Vì vậy  mà trong những năm gần đây, các nhà sử học duy vật VN đã có những cuộc hội thảo để đánh giá công lao của vương triều Nguyễn đối với đất nước.


II/ Biến cố Mậu Thân (1968) 


Năm 1968, Công sản VN đề nghị hưu chiến 7 ngày nhưng chính phủ VNCH chỉ đồng ý 3 ngày. Với sự lương thiện của người quốc gia, cộng sản đã lợi dụng torng dịp tết âm lịch Mậu Thân, tổng công kích tổng nỗi dậy toàn miền Nam VN. Cả miền nam VN chìm trong khói lửa chìm trong khói lửa chiến tranh những ngày đầu xuân. Tuy vậy, tất cả những tỉnh thành không nơi nào bị cộng sản chiếm lâu hơn ở Huế. CS đã tấn công và chiếm đóng Huế 26 ngày kể từ 2 giờ 30 sáng mùng 2 tết mâu thân 1968. Người cộng sản tin tưởng tổng nổi dậy thì nhân dân thành phố Huế cũng như tỉnh Thừa Thiên sẽ tham gia. Nhưng  ngược lại, dân cố đô Huế lại bỏ nhà cửa đi tìm sự che chở của chính phủ và quân đội VNCH. Trong 26 ngày chiếm giữ Huế, cộng sản có kế hoạch hết sức thủ đoạn, lừa bịp quân cán chính VNCH:


- Đợt trình diện I: cộng sản cấp giấy chứng nhận cho về nhà, chỉ lập danh sách.


- Đợt trình diện 2 – Những người còn trốn tránh trong đợt I thấy những người đã trình diện đợt I được bình yên trở về nhà, họ an tâm đi trình diện chính quyền cộng sản, đợt II này cũng được  CS cấp phép cho lần này và cũng được tự do trở về với gia đình.


- Đợt trình diện III: Cũng như 2 đợt trước, chỉ có lập danh sách và tự do ra về. Thế rồi chỉ vài ngày sau đó những người đã trình diện trong 3 đợt kể trên được gom lại và vĩnh viễn không bao giờ trở về.



Tất cả họ đã bị giết chết hết sức dã man, bị trói lại bằng dây từng xâu hoặc kẽm gai, bị xô xuống hầm chôn sống.

Những hố chôn tập thể này nằm chính trong thành phố Huế và một số quận của tỉnh Thừa Thiên (quận Phú Vang, Phú Thứ, Hương Thủy, Hương Trà, Nam Hòa, Phú Lộc)



Lực lượng liên minh dân chủ và hoà bình của giáo sư Lê Văn Hảo, giáo sư nhân chủng viện đại học Huế. Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh viên y khoa Hoàng Vũ Ngọc Phan, sinh viên sư phạm Nguyễn Đắc Xuân . .kết hợp với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, khu ủy Trị Thiên cùng với quân chính quy CS Bắc Việt đã tàn sát dã man đồng bào vô tội. Ngoài quân, cán, chính VNCH, cộng sản đã sát hại sinh viên học sinh, tiểu thương chợ Đông Ba, nhà giáo trung tiểu học, các vị tu sĩ thiên chúa giáo, các giáo sư bác sĩ y khoa đại học Huế phục vụ ở bịnh viện trung ương Huế và cả các bà nội trợ. Mậu Thân năm 1968 là một mùa Xuân đầy kinh hoàng, tang tóc đau thương, đại nội Huế sau biến cố Mậu Thân đổ nát tan hoang vì lực lượng cộng sản chiếm đại nội Huế và cố thủ trong đó. Sợ hãi vì VC đến, dân Huế bắt đầu chạy trốn  về trú ẩn những vùng được che chở bởi SĐIBB và các đơn vị yểm trợ tại Huế. Thấy nhân Huế không tổng nổi dậy như CS tiên liệu và mong muốn, chúng trở thành cuồng sát, bắn giết không nương tay. Huế sau mùa Xuân 1968 là những cuộc tìm kiếm xác người, là hàng ngàn cổ quan tài được đào bới với áo chế khăn tang, cả một thành phố nổi tiếng thơ mộng chỉ còn lại xác xơ, bên chiếc cầu Trường Tiền gãy nhịp một phố Trần Hưng Đạo, ngã giữa Gia Long Huỳnh Thúc Kháng điêu tàn phủ kín một màu tang. Sau biến cố 1968 cho đến tận ngày nay, mùa Xuân ở Huế lại có thêm  ngày của nhiều gia đình kỷ niệm đám giỗ cho các oan hồn chết bi thương vì cộng sản. Một điều oái ăm và hết sức trơ tráo là chế độ CS VN lại đặt tên cho một đường phố nội thành Huế là đường Mậu Thân 68, và tổ chức ăn mừng chiến thắng Mậu thân hàng năm. CSVN ăn mừng vì đã giết chết chôn sống trên 5000 người và trên 1200 người bị mất tích.

Sự thật man rợ của người CS đã được đảng che đậy, bóp1 méo lịch sử khách quan, bất kể các nhân chứng sống là nhân dân xứ Huế và thế hệ tận mắt chứng kiến là chúng tôi. Thăng trầm đất Thuận Hoá hay thăng trầm xứ Huế là những nỗi phẫn uất, xót xa, là mối hận mất quê hương, sau biến cố Mậu Thân rồi lại biến cố 30 tháng 4 năm 1975, người dân Huế đa phần đã lưu lạc tứ xứ hoặc rời xa tổ quốc ra nước ngoài. Tuy vậy, mỗi dịp xuân về, người Huế không thể nào quên được những ngày tháng kinh hoàng cũ, ký ức còn đọng mãi thương đau cho cố đô yêu dấu đã một thời xa cách.

Để tưởng niệm người dân Huế đã chết trong 2 biến cố đau thương của dân tộc Việt.



Xuân 2010 – Canh Dần.
NT2 Tôn Thất Đổng