Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 NỀN VĂN HÓA ĐA NGUYÊN CỦA XÃ HỘI HOA KỲ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

NỀN VĂN HÓA ĐA NGUYÊN CỦA XÃ HỘI HOA KỲ

In PDF.

 




 Nhìn lại lịch sử của Hoa Kỳ, trước khi người Âu Châu đến đây, người Mỹ da Đỏ đã cư trú trên lãnh thổ này hàng ngàn năm. Hàng trăm bộ lạc như Aluits, Cheroke, Sious, Mohawk, Aztê, Chatow, và Inca đã sống như những bộ lạc sơ khai. Năm 1991, O' Connor đã viết "hơn một ngàn năm họ đã sống nơi đây với thiên nhiên. Họ muốn bảo vệ đất đai này trước sự bành trướng của người Âu châu đến thiết lập một trật tự mới ở vùng này bằng cách xây dựng từ thành phố này đến thành phố khác, lập nông trại và khu kỹ nghệ từ đông sang tây, từ bắc đến Nam". Sau đó vào khoảng 1500s, người Anglo-Saxon Tin lành, Anh, Mỹ da đen, Đức, Pháp, Ái Nhĩ Lan, Bồ đào Nha, Tây Ban Nha, Do Thái, Ý, Pháp... đến cư ngụ tại đây qua từng đợt di dân. Từ đó nước Mỹ trở thành Hiệp Chủng Quốc ngay từ buổi đầu lập quốc. Xã hội Hoa Kỳ mặc nhiên có nền văn hóa đa dạng.


Những người lãnh đạo nước Mỹ buổi ban đầu muốn tạo dựng một nền văn hóa nhất nguyên với sự thống nhất tiếng nói, lấy Anh ngữ làm phương tiện giao tiếp với nhau.. Trong thực tế, xã hội Mỹ đã có sự phối hợp bởi nhiều nền văn hóa khác nhau. Mặc dầu trong quá khứ đã có nhiều sự xung đột giữa người di dân với dân tộc bản xứ, sự xung đột này tạm chấm dứt sau khi chánh quyền Mỹ bắt buộc tập trung dân da đỏ tại những vùng đất dành riêng cho họ; và cuộc đi bộ đến vùng đất mới được gọi là Trail of Tears (Dấu chân của nước mắt).


Năm 1995, Bennett đã xác định là Anglo-Western European là hạt nhân của nền văn hóa nước Mỹ. Họ đã tự đạt cho mình một nhãn hiệu là Western Anglo-Saoxn Protestant (WASP). Nhóm này đã tương nhượng lẫn nhau để trở thành một tầng lớp quan trọng của chính quyền Hoa kỳ. Họ đã xác định quốc tịch, tôn giáo (mặc dù chủ truơng tự do tôn giáo) những người đến định cư tại Hoa Kỳ vào những năm 1820. Họ cố tạo dựng một nền văn hóa thuần nhất cho xã hội mới tại Mỹ nhưng thật ra, đi vào chi tiết thì nền văn hóa này không có sự thuần nhất vì tính cách đa chủng tộc của nó. Nhóm WASP được thiết lập bởi nhiều chủng tộc khác nhau. Dĩ nhiên cũng đã có nhưng xung đột giữa những nhóm người này với nhau, bởi tính đặc thù của mỗi sắc dân nhưng họ đã cố gắng tạo dựng một nền hành chánh, lập pháp và tư pháp để lãnh đạo một tân quốc gia.


Tuy nhiên, trong quá trình dựng nước của Hoa Kỳ, chủ trương tạo dựng nền văn hóa nhất nguyên không được liên tục do thực tiễn của xã hội. Vì tinh thần dân chủ và những cuộc vận động tranh cử của những ứng cử viên vào các cơ quan hành pháp, lập pháp, và tư pháp đã ảnh hưởng đến chủ trương tạo dựng nền văn hóa nhất nguyên tại Hoa Kỳ. Từ đó nền văn hóa đa nguyên được hình thành. Yếu tố quan trọng nhất cho sự thay đổi này là lá phiếu. Quyền bầu phiếu đã không cho phép nhà lãnh đạo Hoa Kỳ duy trì chủ trương tạo lập nền văn hóa nhất nguyên cho nước Mỹ.


Căn cứ vào bản thống kê dân số năm 1990 và năm 2000 của nước Mỹ, chúng ta thấy dân số Mỹ năm 2000 là 273 triệu 634 ngàn 274 người. Trong khi đó dân số của toàn thế giới được công bố vào ngày 25-6-2002 là: 6 tỷ 233 triệu, 136 ngàn 093 người. Thành phần dân số này được phân tách như sau: Năm 1990: 248 triệu 703 ngàn 873 người. Năm 2000: 273 triệu 643 ngàn 274 người.


Bản thống kê dân số Mỹ năm 2000 cho chúng ta biết số lượng dân số mỗi sắc tộc, bao gồm:


Mỹ Da Đỏ:         2.119.942 người
Dutch (Hòa Lan):         3.475.410 người
English (Anh):         22.703.652 người
French (Pháp):         7.902.578 người
Germans (Đức):         45.853.932 người
Irish (Ái Nhĩ Lan):         22.286.252 người
Italians (Ý):         11.286.815 người
Norwegians (Na-uy):         2.517.760 người
Polish (Ba Lan):         6.542.844 người
Russian (Nga):         2.114.506 người
Scottish (Tô Cách Lan):         3.315.306 người
Scottish-Irish:         4.334.197 người.
Slovak (Tiệp Khắc):         1.210.652 người.
Welsh (bộ tộc thuộc Anh):     1.308.603 người.
Vietnamese:         1.082.987 người


So sánh số lượng dân số Hoa Kỳ năm 1990 và năm 2000, các nhà nghiên cứu thấy có sự gia tăng số dân trong thập niên nói trên. Căn cứ vào bản thống kê này, số dân Do Thái là 6.800.000 người và đạo Hồi 5 triệu người, Hai sắc tộc này mặc dù có sự xung đột tế nhị về chủng tộc và tôn giáo, nhưng họ có cuộc sống chung ổn định tại nước Mỹ, với những cơ hội đồng đều về quyền lợi kinh tế tại vùng đất hứa này.


Sau biến cố 9/11 năm 2001, nền an ninh công cộng của Hoa Kỳ bị vi phạm nghiêm trọng. Chính phủ Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của TT Bush đã tỏ thái độ rõ rệt ngả về phe Do Thái để chống lại người Hồi giáo, trả đũa biến cố vừa qua, đồng thời tạo lập quyền lực kinh tế và chính trị tại vùng Trung Đông. Trong xu hướng phản ứng của chính phủ Hoa Kỳ với biến cố 9/11, một nhà giáo tại Louisisana bị ngưng chức và bị đưa ra tòa án để trả lời về hành vi quá khích của ông ta đối với một nữ học sinh của ông. Mặc đầu ông được tòa án tha bổng nhưng những đồng nghiệp của ông tỏ vẻ bất bình và trách ông đã vi phạm tinh thần về quan niệm mới trong nền giáo dục Hoa kỳ, đó là chủ trương một nền giáo dục đa nguyên trong học đường.


Nhìn lại quá khứ xã hội Hoa Kỳ, các nhà xã hội học nhận thấy có năm chính sách chính phủ Mỹ đã áp dụng để tạo điều kiện cho người di dân hội nhập. Đó là: (1) Ý tưởng đồng hóa người di dân trở thành người Mỹ lý tưởng. (2) Nền văn hóa hội nhập. (3) Nền văn hóa đa dạng theo kiểu cổ điển. (4) Sự biến dạng của nền văn hóa đa nguyên Hoa kỳ. (5) Sự mở rộng nền văn hóa đa nguyên hiện hành.


1. CHÍNH SÁCH ĐỒNG HÓA:


Theo chủ trương này, căn bản của xã hội là cá nhân. Cá nhân trong xã hội phải thích ứng với những tiêu chuẩn về cuộc sống, cách cư xử phỏng theo người Anglo-Saxon sống ở Mỹ.


Căn cứ vào nghiên cứu của Appelon, năm 1983, ông đã dùng công thức như sau để diễn tả chủ trương này: A+B+ C = A. Chúng ta có thể hiểu A, B, C là những nhóm người có sự khác biệt về chủng tộc. Riêng A là chủng tộc ngự trị các dân tộc khác. Chủ trương này được đề xướng bởi nhóm người được gọi là Western Anglo-Saxon Protestant. Họ đã thống trị văn hóa Hoa Kỳ. Nhóm người này nói tiếng Anh, đi vào nhà thờ Tin Lành, có phong cách của người Âu Châu, mang giấy tờ tên họ kiều dân Anh, tập sự về phong tục tập quán, và cách cư xử giống như người Anh sống ở Mỹ. Theo giải thích của Bà Tiến sĩ Longstreet và ông Tiến sĩ Shane, năm 1993, sự thiết lập Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ trong những năm 1700s là một mũi tên của sự thay đổi và cũng là sự trung thành của một công dân sinh sống trong một quốc gia. Đây là thời điểm để tạo lớp người trẻ tuổi có lòng ái quốc cao độ. Trong thời gian này, sách dạy về lịch sử của Mỹ được viết theo quan điểm của nhóm sắc tộc thống trị Hoa Kỳ.


2. HỘI NHẬP NỀN VĂN HÓA:


Appleton, năm 1983 đã giải thích về sự phát triển thống nhất một nền văn hóa nhất nguyên theo kiểu mới được xem như là kết quả của sự tổng hợp giữa những dân tộc di cư đến nước Mỹ ngay sau ngày Columbus khám phá ra Mỹ châu., Điều này thường được gọi là "Melting Pot". Danh từ này được hiểu từ người Do Thái, Dangwill. Lý tưởng của Melting Pot căn cứ vào nền văn hóa của một sắc tộc trộn lẫn với nền văn hóa của sắc tộc vừa đến Mỹ cư trú. Quan điểm này có nghĩa những dân tộc thiểu số sẽ có cử chỉ và hành động như đa số dân Mỹ. Căn bản là nền văn hóa của sắc tộc mới đến sẽ tan dần với tỷ lệ ảnh huởng của nhóm người đầu tiên đến tạo lập nước Mỹ.

3. NỀN VĂN HÓA ĐA NGUYÊN CỔ ĐIỂN:


Appleton cũng cho chúng ta một định nghĩa về nền văn hóa đa dạng theo kiểu cổ điển. Học thuyết này nói lên sự tiếp xúc giữa các chủng tộc khác nhau đang sống như là những phần tử của xã hội mang chính nền văn hóa của mình và xác định bản chất của dân tộc tính. Điều này có thể được sắp xếp bởi công thức: A+B+C = A+B+C. A B C được hiểu như là những chủng tộc khác nhau và họ duy trì sự thống nhất của họ. Chính sách này bắt đầu khi làn sóng di dân của người Ái Nhĩ Lan, Đức, Do Thái, và dân Da Đỏ cư ngụ tại Mỹ.


4. SỰ BIẾN DẠNG CỦA NỀN VĂN HÓA ĐA DẠNG:


Học thuyết này xem như tương đương với học thuyết nêu trên. Những nhóm dân tộc này duy trì mức độ nào đó của nền văn hóa sẵn có trong con người của mỗi dân tộc đó. Appleton đã dùng công thức A+B+C = A1+B1+C1 để giúp chúng ta hiểu học thuyết này. A B và C được hiểu như là những dân tộc khác biệt. A1, B1 và C1 biểu hiện sự phân biệt sáu nền văn hóa của các sắc dân nói trên, sau thời gian chung sống với nhau. A, B1, B2 chỉ phẩm chất của nền văn hóa chung của các sắc dân mà kết quả được gọi là Hyphenates American. Học thuyết này được nói đến sau khi làn sóng di dân lần thứ nhì của nhóm di dân Ý, Hy Lạp, Do Thái và Mễ Tây Cơ qua sự liên hệ với nhóm dân thống trị của Mỹ. Từng sắc dân này phục vụ cho từng cá nhân như là căn bản cho sự theo đuổi về quyền lợi chính trị và kinh tế.


 5. MỘT XÃ HỘI MỞ RỘNG:


Sau đệ Nhị Thế chiến, nhiều sắc tộc trên thế giới đi tìm an ninh chính trị tại Hoa Kỳ. Sự kiện này được diễn tả trong quyển sách Giờ Thứ 25 về việc người Do Thái di cư đến vùng đất Hứa Mỹ quốc. Bên châu Á có người Phillipin, Đại Hàn, Việt Nam, Lào, Campuchea, Hmong và những sắc dân từ Trung Mỹ, từ Cuba... Năm 1994, McLemore cho rằng những người thuộc làn sóng di dân lần thứ ba này có sự khác biệt hẳn với những làn sóng lần thứ nhất và lần thứ nhì. Người di dân lần thứ Ba đến Mỹ phải điều chỉnh lại về ngôn ngữ, văn hóa, học vấn và công ăn việc làm vì sự sống còn của họ và gia đình. Nhiều nhà khoa học xã hội và giáo dục đã hình dung về một nền văn hóa chung cho dân Mỹ thông qua nền giáo dục công cộng của Hoa Kỳ. Trong thực tế, với sự đa dạng chủng tộc, chính phủ Mỹ hy vọng là giáo dục sẽ hướng dẫn học sinh có tư tưởng và thái độ tiến đến một nền văn hóa đa nguyên. Họ đã chuyển từ học thuyết "Melting Pot" đến "Salad Bowl".


Cũng trong năm 1995, Bennett đã viết bài liên quan đến người Hồi giáo từ các xứ Á-Rập sinh sống tại Mỹ. Bà cho rằng người Hồi giáo ở Mỹ đã tạo dựng một cộng đồng với ý nghĩa xác định tôn giáo hơn là chủng tộc hay là những đặc thù về quốc gia của họ. Những người Hồi giáo này đến Mỹ từ nhiều quốc gia khác nhau như Singapore, Ấn độ, Pakistan, các nước vùng Trung Đông. Sau biến cố 9/11-2001, bà Maryphield đặt vấn đề này với các nhà giáo, những nhà giáo có dư kiến thức liên quan đến văn hóa, đức tin, lịch sử, chính trị, văn học nghệ thuật và kinh tế của người Hồi giáo cùng với những liên hệ của họ từ qua khứ và hiện tại để cung cấp những dữ kiện cho học sinh hiểu về thực trạng của xã hội Hoa Kỳ được chính xác. Bà Maryphield biện luận là nền giáo dục đế quốc và thuộc địa của Mỹ đã đem đến cho học sinh sự hiểu biết mù quáng mà học sinh Mỹ trắng, một loại "mainstream". Có cái nhìn hạn hẹp qua khung kính của sự chống đối, chia rẽ thế giới.


Bà Maryphield, trong năm 1989 cũng đã thuyết phục giới học giả rằng., nếu tính gộp lại kiến thức của người Hồi giáo, Mỹ da đen, Á châu thì sẽ kiến tạo được một lịch sử đa dạng của Hoa kỳ về văn hóa, chính trị, và kinh tế toàn cầu trong lòng của học sinh, về sự chia sẻ trách nhiệm cùng sự giao hảo của dân chúng trên toàn thế giới, để có cuộc sống an lành với nhau. Từ đó các nhà xã hội học và chính trị học sẽ tìm ra đáp số cho sự xung đột giữa người Do Thái, người Hồi giáo, và chính phủ Mỹ tại vùng Trung Đông chẳng hạn. Các học giả và nhà giáo dục Mỹ cũng như thế gới đã có cái nhìn mới về sự dung hòa trong cuộc sống nhân loại qua nhãn quan của nền văn hóa đa nguyên. Các nhà giáo dục đã đem tư tưởng văn hóa đa dạng vào việc giúp hiểu biết những môn như sử học, khoa học, toán học, âm nhạc, và ngôn ngữ một cách tường tận và nhanh chóng.


Người Mỹ có thành công trong chủ trương tái lập trật tự mới cho thế giới hay không tùy thuộc vào quan niệm giáo dục của Hoa Kỳ. Nền khoa học xã hội của Hoa Kỳ phải được giáo dục trên căn bản văn hóa đa nguyên. Với cái nhìn về nền văn hóa đa nguyên, các nhà giáo dục và xã hội học hy vọng tinh thần và thái độ đa nguyên của giáo dục đủ hướng dẫn học sinh có kiến thức để nhìn biến chuyển xã hội và lịch sử trên nhiều khía cạnh. Từ đó, học sinh sẽ có phán đoán và giao tiếp giữa các dân tộc khác nhau một cách chính xác hơn. Nền văn hóa đa nguyên là chìa khóa để giảm bớt xung đột, thành kiến và hận thù giữa con người với con người đang sống trên quả địa cầu.


Trông người rồi lại nghĩ đến ta


Nhờ chính sách giáo dục đa nguyên này mà cộng đồng Hoa Kỳ có được sự hài hoà tương đối trong các sinh hoạt hàng ngày kể cả việc đi tìm kiếm quyền lực chính trị cho cá nhân hay cộng đồng thiểu số. Vì hiến pháp của Hoa Kỳ không có một điều khoản giống như điều 4 hiến pháp của Cộng Sản Việt Nam năm 1992 nên Obama đã trở thành vị Tổng Thống da đen đầu tiên của Mỹ. Điều 4 hiến pháp của Cộng Sản đã biểu lộ sự chuyên chế và thống trị của giai cấp cầm quyền thiếu tinh thần dân chủ và công bằng của sự chia sẽ quyền lực trong một quốc gia. Đấy là lý do tại sao hơn ba mươi ba năm qua nắm quyền hành trong tay mà Cộng Sản không được sự ủng hộ của toàn dân và thế hệ trẻ của Việt Nam hôm nay đang chống lại chính sách độc tài vô nhân đạo của Cộng Sản.


NT1 Lê Văn Cước