Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 HỘI AN, VÀ PHƯỢNG.

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

HỘI AN, VÀ PHƯỢNG.

In PDF.


truyện ký


Vài nét về Hội An trước khi vào truyện:


    Thị trấn Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, nay là điểm du lịch khá nổi tiếng thuộc miền trung Việt Nam. Hội An nằm cạnh giòng sông Thu Bồn, cách Quốc Lộ 1 khoảng 10 cây số về hướng Đông và cách biển Cửa Đợi (hay Cửa Đại) chừng 4 cây số. Trước thế kỷ 13, Hội An thuộc lãnh thổ Vương Quốc Champa tức Chàm hay Chiêm Thành, đặt dưới quyền cai trị của các đời vua giòng họ Chế. Một vị vua nổi tiếng của giòng họ nầy là Chế Bồng Nga đã từng đem quân đánh ra tới tận kinh thành Thăng Long của Đại Việt.


    Sông Thu Bồn và cảng Cửa Đợi lúc ấy rất sâu, nhiều thuận lợi cho hải quân và các tàu buôn nên Hội An trở nên phồn thịnh, tấp nập thương thuyền tứ xứ tới buôn bán. Kinh đô Vương Quốc Chàm đóng ở Trà Kiệu cũng chỉ cách Hội An chừng 20 cây số.


    Đầu thế kỷ 13, nhà Trần của Đại Việt bắt đầu mở rộng bờ cõi về phương Nam, tiến chiếm hai châu Ô và châu Rí (Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay). Để giữ thể diện cho triều đình Chiêm Thành, vua Đại Việt là Trần Anh Tôn gả em gái là Công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân (cháu nội Chế Bồng Nga) và bắt vua Chiêm dâng hai châu Ô và Rí làm sính lễ. Đến cuối thế kỷ 1, nhà Lê của Đại Việt mới tiến thêm, đuổi vua Chiêm chạy về thành Đồ Bàn rồi sau đó suy tàn luôn sau khi mất thành Đồ Bàn.


Vào đầu thế kỷ 16, triều đình nhà Lê cai quản Hội An và thị trấn nầy cũng bắt đầu thịnh vượng thêm lên từ ngày ấy.....



    Sau hơn hai năm theo học tại trưòng Đại học CTCT Đà Lạt, ngày ra trường sau khi nghỉ ngơi hơn 10 ngày phép, tôi nhận đơn vị tại Tiểu Khu Phước Long, thuộc Quân Khu 3. Tuy gọi là tỉnh lỵ nhưng thật ra Phước Long chỉ là một thị trấn nhỏ miền núi buồn hiu hắt. Khí hậu thì mỗi năm chỉ có hai mùa mưa nắng chứ không có Xuân Hạ Thu Đông chi cả. Mùa nắng thì bụi đỏ mù trời, mùa mưa thì lầy lội. Cư dân thì đa số là lính. Địa phương quân, Nghĩa quân, lính Sư đoàn 5, lính Biệt động quân và các ấp người sắc tộc Stieng... Bạn bè chỉ có Nhự và Bình. Món giải trí duy nhất là uống cà phê và chơi bi da (billard). Vài tuần lễ lại có pháo kích và các bà chủ quán cơm tháng lại chạy vội về Saigon, nhiều khi quýnh quá quên cả treo lên tấm bảng "tạm đóng cửa". Bọn độc thân ăn cơm tháng ghi sổ như  tôi đành phải cơm sấy thịt hộp như khi hành quân mặc dù đang nằm ở doanh trại chờ tình hình yên để các quán cơm tháng mở cửa trở lại. Thế rồi cũng đúng như bạn bè hay đùa cợt CTCT là cứ thế... cứ thế...!    Hai năm rồi cũng cứ thế trôi qua tôi, Nhự và Bình lại có thêm một bông mai nữa trên cổ áo. Nhân một chuyến về phép thăm nhà, mẹ tôi thúc dục tôi làm đơn xin thuyên chuyển về Quảng Nam. Tôi vâng lời mẹ làm đơn mà trong lòng cũng chẳng có hy vọng gì mấy.


    Không ngờ đầu tháng 8 năm 1973 tôi được lệnh thuyên chuyển về Tiểu Khu Quảng Nam. Vừa mừng vừa buồn. Mừng là được về gần nhà nhưng cũng buồn trong lòng khi phải xa những người bạn thân từng chia ngọt xẻ bùi,  những bản làng người sắc tộc Stieng mà tôi cùng trung đội Dân Sự Vụ thường về công tác, và cũng vấn vương những nũng nịu giận hờn của ai đó trong những lần đi công tác văn nghệ tiền đồn...


    Trình diện phòng Tổng quản trị Tiểu khu xong, tôi được mấy ngày phép để chờ phân công về đơn vị. Được về nhà nghỉ ngơi, ăn những món ăn do mẹ nấu, được lang thang trên những con đường nhỏ của phố Hội, lòng tôi bỗng thấy ấm áp, thanh bình....


Tôi sinh ra và lớn lên tại Hội An. Tôi bắt đầu theo học mẫu giáo với thầy Hồ Cẩm tại trường Cẩm Hồ. Xong mẫu giáo tôi lần lượt qua các trường Ông Voi, Bà Mụ, Cây Da rồi cuối cùng mới tới trường Nam Tiểu Học Hội An. Lúc ấy Hội An chỉ mới có một trường tiểu học lại không đủ chỗ cho học sinh nên trường phải mượn miễu, mượn chùa mở mỗi nơi một lớp. Cứ mỗi năm lên lớp lại phải chuyển đổi chỗ học. Ngày ngày sau giờ học tôi theo đám bạn đi bắt cá lia thia ở mấy đám ruộng trước chùa Phật Học để chọi cá với nhau, hay chọc phá nhau chạy luồng tuông khắp các con đường hẻm. Nên với Hội An tôi rành đưòng, biết nẻo, biết cả nhiều chuyện tầm phào của người phố Hội...


    Tôi dừng xe đạp trước cổng trưòng Ông Voi, nơi tôi theo học mấy năm thời tiểu học, lòng bồi hồi nhớ lại những lần đánh lộn cùng mấy thằng bạn học. Đây là đình làng Hội An, phía trước có hai con voi chầu xây bằng vôi và gạch, được cho mượn để làm lớp học mà ai cũng quen gọi là trường Ông Voi, lâu ngày thành tên. Có lần khi tan học bị thằng Hạ đánh đau quá, tôi tức mình ném vào người nó nguyên bình mực tím ướt loang cả cái áo trắng mẹ nó mới mua cho. Về nhà nó bị mẹ đánh sưng cả mông, còn tôi thì bị mẹ tôi bắt quì sưng đầu gối vì bị mẹ nó dẫn vào mắng vốn. Sau nầy nó rớt tú tài, đi Trung sĩ Thiết giáp bị việt cộng bắn đui một mắt, bại xuội một tay một chân. Vậy mà khi gặp tôi hắn cười hề hề "gặp tau thì đánh 19, 47 bao lô thượng trung hạ đi mầy, nhiều thằng trúng rồi đó...". 1947 là năm sinh của nó. Bạn bè cùng lứa gọi hắn là thằng Thượng Trung Hạ (vì hắn bị thương ở mắt, ở tay và ở chân). Ai không biết thì tưởng hắn họ Thượng.


...Tôi nhận sự vụ lệnh về làm trưỏng ban 5 chi khu Hiếu Nhơn, cách nhà 2 cây số, trưa chiều về ăn cơm nhà, cũng đỡ. Ban 5 có tôi và một trung sĩ, ngoài ra còn có 5 nghĩa quân tăng phái làm việc ngoài cấp số. Số nghĩa quân nầy đa số có học, nhà khá giả được mấy ông lớn gởi vào, nhờ vậy công việc của tôi cũng nhẹ nhàng. Có việc gì dù khó khăn cách mấy họ cũng tự lo liệu được. Thấy Ban 5 Chi khu chưa có gì tôi họp anh em bàn cách thực hiện phòng hớt tóc, phòng đọc sách, phòng may vá để sửa cho lính những bộ đồ trận rộng thùng thình mặc lượm thượm quá mà hỏi thì lính cứ đổ thừa là không có tiền sửa. Tìm lính thợ may thì dễ, kiếm hai cái máy may mới khó vậy mà anh em cũng xoay xở đi mượn được đâu đó mang về.


    Tôi đạp xe ngang qua trường trung hoc Trần Quí Cáp, nơi tôi gắn bó suốt bảy năm thời trung học. Trời tháng tám nắng như đổ lửa, học sinh nghỉ hè vắng vẻ, cổng trường chỉ khép hờ, tôi lách mình vào, lòng bùi ngùi cảm động. Sân trường trồng rất nhiều phượng, tôi nhớ ngày tan trưòng nghỉ hè dịp tháng sáu hoa phượng nở rộ đỏ cả sân trường. Tôi đến căn phòng cuối dãy bên trái, ngậm ngùi nhớ năm tháng học lớp đệ tam B2 ở đây. Năm đệ tam (lớp10) là năm vui nhất đời học sinh trung học. Tuổi vừa đủ lớn để biết yêu và mơ mộng cũng lại là năm chẳng có thi cử gì ngoài hai kỳ thi học kỳ 1 và 2. Năm đó lớp tôi nhận thêm mấy học sinh mới từ các trường quận chuyển về, trong số đó có Phượng và thằng Nga, sau nầy hai người đều trở thành bạn thân của tôi.


    Phượng đẹp lắm. Em có mái tóc đen tuyền dài mượt mà, khuôn mặt trắng hồng và đôi mắt em bọn con trai như tôi nhìn thấy thương liền! Em chơi chung nhóm với tôi gồm Phượng, tôi, thằng Nga và thằng Huệ. Chúng tôi thân thiết nhau như anh em, tình cảm vô tư trong sáng.


Vui nhất là những buổi chiều bất ngờ được nghỉ hai giờ cuối, bọn tôi đạp xe xuống biển Cửa Đại, nằm dài trong rừng thông nhìn trời biển bao la, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Những lúc ấy Phượng rất vui, theo 3 thằng con trai bọn tôi chạy tung tăng trên cát mịn, cười nắc nẻ mỗi khi không tránh kịp bị những đợt sóng biển phủ chụp trúng chân. Cũng có lúc thấy Phượng buồn, mắt đỏ hoe. Đó là những lúc lớp tiễn đưa các thầy bị lệnh gọi động viên vào Thủ Đức. Các nữ sinh rơi nước mắt, còn bọn nam sinh tụi tôi cũng ngậm ngùi, không đùa giỡn phá phách như mọi ngày.



    Thời gian qua thật mau, hoa phượng bắt đầu nở và chúng tôi cảm nhận được nỗi buồn chia tay. Các chị bắt đầu ép các cánh phượng, các lá ,hoa nhỏ vào cuốn vở lưu bút để trao cho nhau viết đôi giòng kỷ niệm. Lúc nầy mới biết Phượng được nhiều người yêu thầm. Trong đó có cả một ông thầy.  Phượng chuyền cuốn lưu bút của em cho bạn bè trong lớp viết lời lưu niệm, khi chuyền đến tôi thấy có người viết mấy câu thơ:


"Ngày mai rời tổ én về đâu,
Ta sợ hoàng hôn nắng nhạt màu
Bầu rượu tâm tình ta rót nhé
Tìm trong men ấm bóng hình nhau"


Lúc ấy chẳng biết là của ai vì không có ký tên, sau nầy tôi mới biết là của ông thầy dạy Việt văn. Phượng và Nga về quê nghỉ hè ở Duy Xuyên cách Hội An chừng 20 cây số. Vậy mà tôi và Huệ cứ mong cho chóng đến ngày tựu trường để được gặp lại hai người.


...Tập họp đại đội phòng thủ chi khu, căn dặn anh em binh sĩ đôi lời, không được tập trung đánh bài, không được bỏ gác xong, tôi leo lên pháo đài phía trước thử lại máy móc và cặp loa mượn của chi thông tin quận, dặn dò anh Thanh (nghĩa quân phụ trách phát thanh của ban 5) phải cẩn thận không được ngủ quên vì đêm nay có gió nồm từ hướng biển thổi lên, địch có thể lợi dụng chiều gió để phát thanh binh vận. Ban 5 chúng tôi khổ vì chuyện nầy nhiều lần rồi. Cứ những đêm địch phát thanh như thế là chúng tôi phải thức suốt đêm phản thanh lại. Máy móc của mình yếu lại phát ngược chiều gió nên khó khăn vô cùng. Tư dinh Đại tá tỉnh trưởng lại nằm ngay vị trí nghe rõ chương trình phát thanh của địch!


Tôi nôn nao chờ ngày tựu trường để gặp lại Nga và Phượng.


Tôi đi học thật sớm nóng ruột đi ra đi vào trước cửa lớp. Rồi Nga cũng đến, dáng xác xơ buồn rầu, mắt đỏ hoe báo tin Phượng bỏ nhà đi theo "phía bên kia" rồi! Tôi sững sờ không tin đó là sự thật. Suốt buổi sáng hôm ấy tôi chẳng nghe thầy cô giảng được điều gì. Lòng tôi buồn rười rượi, ruột đau quặn thắt lại. Chẳng lẽ tôi đã thầm yêu Phượng rồi sao? Tôi chưa biết tình yêu là như thế nào, suốt năm đệ tam toàn là chơi chung 4 đứa, chưa bao giờ tôi đi chơi riêng với em. Tôi rụng rời nghĩ đến cảnh Phượng đội nón cối, mang đôi dép râu, đeo ba lô chống gậy vượt Trường Sơn, lầm lũi đi trong mưa rừng xối xả mà thương em đến xót xa.


Buổi chiều, ba đứa bỏ hai giờ học cuối, đạp xe xuống biển. Tôi đưa mắt nhìn ra khơi, buồn bã nhìn theo những cánh chim hải âu bay lượn lạc loài. Tháng 9 đã có hơi hướm của đầu mùa thu, trời se se lạnh trong gió chiều buồn man mác, lặng lẽ xô những con sóng âm thầm vỗ vào bờ. Tôi ngồi trên cát biển, nhắm mắt hình dung những gót chân nhỏ bé của Phượng in dấu 


Sân trường Trần Quý Cáp Hội An


trên cát, tai như còn nghe đâu đây tiếng cười thơ ngây, trong sáng thật thà đến hiền lành của Phượng. Tôi thầm ước giá như có bà Tiên từ trên trời bay xuống ban cho tôi một điều ước thì tôi chỉ mong được thấy Phượng trở về...


    Chưa kịp nguôi ngoai chuyện Phượng bỏ học lên chiến khu thì 2 tuần sau lại có tin thằng Nga về Duy Xuyên thăm mẹ dịp cuối tuần bị việt cộng bắt dẫn đi mất tích. Thấy tôi buồn quá, Huệ đến vỗ vai tôi cười hì hì "bây giờ hai đứa nó có bạn có bè cùng nhau vượt Trưòng Sơn rồi mầy còn buồn làm gì..."

    ...Có điện thoại từ hạ sĩ quan trực cổng chi khu gọi vào mời ra đón khách. Tôi mừng rỡ nhận ra thằng Huệ. Trông hắn thật oai vệ trong bộ quân phục Biệt Động Quân với hai mai đen trên cổ áo đang ngồi trên chiếc xe jeep lùn sơn màu rằn ri cùng với hai binh sĩ cận vệ. Đỗ Tú Tài 2 cùng với tôi năm 1966, Huệ tình nguyện vào khóa 23 Võ Bị quốc Gia, chương trình học 4 năm. Tôi lang thang 2 năm ở Đại học Khoa Học Saigon rồi cũng vào lính ở Đại Học CTCT Đà Lạt, chương trình 2 năm. Tôi mang Alpha trơn năm thứ nhất, Huệ Alpha 2 gạch năm thứ 3, hai đứa cặp kè đi chơi,  đi tắm, đi uống cà phê, đi dạo khắp phố phường Đà Lạt dịp cuối tuần. Chiều chủ nhật, hai đứa ra ngồi quán cà phê nhà Thủy Tạ trên hồ Xuân Hương, nhìn sương chiều rơi chầm chậm trên hồ, ngậm ngùi thương Nga và Phượng. Huệ cắc cớ hỏi bây giờ tụi nó là việt cộng rồi, gặp hai đứa nó mầy dám bắn không. Tôi lắc đầu bùi ngùi không trả lời.


    Chỉ vài tháng sau ngày Huệ đến thăm, tôi nhận được tin Huệ tử trận. Tôi bàng hoàng chạy lên nhà Huệ, ngẩn ngơ nhìn chiếc quan tài có phủ lá Quốc Kỳ. Ảnh Huệ trên bàn thờ nghi ngút khói hương nhìn tôi như đang khóc. Nhà Huệ nghèo, các em còn nhỏ. Hôm đến dự liên hoan cùng bạn bè sau khi đậu tù tài 2, khi nghe các bạn đứa thì ra Đại Học Huế, đứa vào Đại Học Sàigòn, Huệ lặng lẽ bỏ ra ngoài mắt rướm rướm ướt. Huệ buồn vì cha mẹ không đủ tiền cho Huệ vào đại học. Huệ chọn vào Võ Bị để khỏi tốn kém cho gia đình, mong khi ra trường dành dụm trong tiền lương ít ỏi của mình giúp mẹ, nuôi em. Vậy mà có ai ngờ Huệ lên lon cố đại úy sớm quá trong một trận đánh ở Suối Đá, Quảng Tín. Người con gái đang vật vã trước quan tài, cô sinh viên văn khoa Huế đẹp dịu dàng, người vợ sắp cưới của Huệ rồi sẽ ra sao, tương lai đang mờ ảo trong màng khói hương và nước mắt...


    Đầu tháng 3 năm 75 không khí có vẻ chộn rộn, nhiều tin đồn Mỹ bỏ Viêt Nam. Tôi bối rối vô cùng. Đi đâu đây? Hội An là quê quán giòng họ tổ tiên tôi đã sinh sống trên 10 đời rồi. Buổi tối tôi đi tuần doanh trại đã thấy anh em binh sĩ cầu cơ xin thần linh chỉ bảo đi hay ở lại, một số anh em chạy lên xin xăm ở chùa Ông, nơi thờ Quan Vân Trường, danh tướng của Lưu Bị thời Tam Quốc. Chùa Ông nầy nổi tiếng linh thiêng lắm.


    Tôi sang bên nhà thờ tộc Trần, thắp nén hương lên bàn thờ Gia tiên, xấu hổ và đau lòng khi phải rời bỏ Quê hương Ông bà Tổ tiên chạy trốn như thế nầy. Nhưng rồi cuối cùng không chạy được, phải vào trại tù cộng sản như mọi người.


    Tôi trở về nhà đầu năm 1981, ngậm ngùi thấy ngôi nhà ba mẹ tôi trống trơn. Mẹ tôi đã bán hết quạt trần, đèn neon, tủ  và  bàn  ghế  bằng  gỗ quí để sinh sống. Tôi chẳng còn thì giờ để suy nghĩ gì nữa, vội vã lao vào giòng đời bon chen kiếm sống...


    Tôi xin được một chỗ làm công nhân cho một hợp tác xã chế biến hải sản. Một hôm đang ngồi nghỉ mệt sau khi vác những bao muối vào kho, anh bạn công nhân cùng làm chỉ cho tôi thấy một cây phượng đang nở hoa bên kia đường.


Cây phượng ốm yếu gắng gượng trổ mấy chùm hoa đang phất phơ trong gió. Tôi giật mình tự hỏi có cây phượng ở đó mà sao mấy tháng nay mình chẳng thấy? hay là qua 6 năm tù cải tạo mình đã xơ cứng như sỏi đá rồi chăng. Bỗng nhiên chợt thấy nhớ nhung trong lòng, trên đường về tôi đạp xe qua trường trung học cũ, mà từ ngày về đến nay đã hơn 3 tháng tôi chưa hề ghé thăm. Tôi đứng đó sững sờ không tin vào chính đôi mắt của mình. Phượng đã bị phá bỏ hết để trồng thay vào đó là những cây dừa đang lên xanh tốt. Tôi ngậm ngùi, tiếc nuối, giận hờn... Ôi! thương quá những kỷ niệm ngọt ngào tuổi học trò của tôi giờ đã mù khơi xa thẳm...


    Một hôm đi làm về tôi gặp một người khách đang ngồi chờ. Tôi thật bất ngờ gặp lại Nga, người bạn học cũ đi theo việt cộng năm xưa. Hai đứa nhìn nhau ngỡ ngàng. Phải mất gần 15 phút sau tôi mới lấy lại bình tĩnh để trò chuyện tự nhiên được với hắn. Nga kể, hồi ấy học được hai tuần, không chịu đựng được nỗi nhớ thương Phượng, hắn bỏ về Duy Xuyên tìm đến những bến sông, con suối nơi hắn và Phượng thường hẹn hò để đau khổ thở than. Hắn thú thật với tôi hắn và Phượng đã yêu nhau từ năm lớp 9 ở trường Duy Xuyên trước khi cùng nhau vào lớp 10 ở trường Trần quí Cáp Hội An. Hai đứa muốn giữ kín chuyện tình của mình, thề nguyện cố học xong tú tài mới dám công khai xin phép cha mẹ đôi bên. Hai đứa nhớ nhau lắm nhưng không dám gặp riêng mà chỉ tạo cơ hội đi chơi chung với tôi và Huệ để mọi người không để ý. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao Phượng lại một mình dám đi chơi chung với ba thằng con trai như tụi tôi.


    Về Duy Xuyên được mấy hôm thì việt cộng về tập trung dân chúng lại để tuyên truyền chính trị. Mẹ Nga bảo trốn đi nhưng hắn lại hăng hái đi ra chỗ tập trung mong được gặp Phượng hay ít ra cũng hỏi thăm được tin tức gì. Không ngờ bị họ giữ lại luôn rồi đưa lên chiến khu. Gặp ai hắn cũng hỏi thăm tin tức Phượng. Mấy năm sau mới tình cờ gặp được người biết rõ sự việc.


   Phượng có cha đi theo việt cộng tập kết ra Bắc, hè năm 64 trở về Nam và nhắn tin muốn gặp Phượng. Phượng và mẹ theo giao liên vào núi gặp cha rồi bị ông bảo Phượng ở lại khu chờ chuyến giao liên đưa ra Hà Nội học trường học sinh miền Nam, sau nầy có cơ hội được gởi đi du học Liên Sô. Phượng nghe lời cha ở lại, được bổ sung vào toán hậu cần chuyên đi gùi gạo và muối từ miền xuôi lên. Được khoảng 6 tháng thì do thiếu ăn, muỗi đốt và lại không quen làm việc nặng nhọc nên Phượng yếu sức dần. Nhân một chuyến đi gùi gạo, vừa yếu sức lại vừa bị sốt rét run cầm cập nên Phượng không theo kịp đoàn. Bị bỏ lại ven rừng, Phượng mắc võng nằm trong một bụi cây ven suối, run rẩy chống chịu từng cơn sốt rét kinh người. Một tuần sau, có đoàn gùi gạo khác đi qua phát hiện Phượng đã chết tự bao giờ. Họ chôn vội Phượng ở đó, làm dấu bằng mấy cục đá xanh lấy từ suối lên.


    Hai năm sau, khi Nga có dịp tìm tới thăm mộ Phượng thì cây cối đã mọc lên um tùm. Nhờ mấy cục đá làm dấu, Nga đã tìm ra được mộ Phượng. Nga đã ngồi đó suốt một buổi chiều, âm thầm nhỏ những giọt nước mắt xuống mảnh đất hoang vu ấy không biết có làm ấm lại nỗi cô đơn lạnh lẽo của Phưọng không. Năm 76, Nga đã trở lại mang Phượng về nhà cho em được nằm bên cạnh mẹ đã mất từ mấy năm trước.


    Tôi chạy vội xuống chợ mua một bó hoa, một chục bánh ít lá gai và hai bó hương thơm rồi cùng Nga đi đò về Duy Xuyên thăm mộ Phượng. Tôi ngậm ngùi nhìn mộ em đơn sơ quá, chỉ có tấm bia đá lạnh lẽo cô đơn trong gió chiều hiu hắt buồn. Tôi tự giận mình đã có lần cặp đôi em với ông thầy dạy văn - người đã làm thơ tặng Phượng - khiến em giận hờn muốn khóc. Tôi thầm thì khấn vái, mình mang đến cho Phượng bánh ít lá gai phố Hội đây, mùa nầy không có hoa gì đẹp, chỉ có loại cúc tím nầy thôi Phượng ơi. Nhìn trên mộ em mấy ngọn cỏ dại đang phất phơ trong gió, tôi bần thần nghĩ mà thương em vô cùng. Tôi mường tượng ra cảnh Phượng hôn mê trong cơn sốt, khát nước và bụng đói cồn cào, nằm run rẩy trên võng lạnh lẽo trong cơn mưa chiều rừng Trường Sơn. Tôi ngậm ngùi nuốt nước mắt vào lòng, thẩn thờ nhìn xuống giòng sông Thu Bồn đang chảy về Cửa Đợi, giòng nước trong mát chảy lặng lẽ êm đềm chứ không nghiệt ngã như cuộc đời bốn đứa chúng tôi.


    Tôi đưa Nga ra thăm mộ Huệ. Bây giờ tôi đâu dám gọi Huệ bằng thằng Huệ nữa rồi. Run run cắm trên mồ Huệ mấy nén hương, tôi nhìn Nga cũng đang cúi đầu khấn vái và chợt nghĩ về cuộc chiến tranh đã qua. Cuộc chiến tranh tàn nhẫn đẩy đưa bốn người bạn thân thiết nhất về bốn phương trời cách biệt...


    Trời Cali cuối thu se se lạnh. Tôi ra đứng trước hiên nhà, nhìn những chiếc lá phong vàng có hình dáng trái tim đang rơi lả tả ngoài sân và chợt thấy thương tất cả bạn bè lưu lạc. Có tiếng hát từ bên nhà hàng xóm vọng sang..."rồi có một ngày, có một ngày chinh chiến tàn - anh chẳng còn chi, chẳng còn chi ngoài con tim héo em ơi..."




San José, California - Tháng 1/2010
NT2 Trần Thanh Kiều Diệp