Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 ANH ĐI CHIẾN DỊCH XA VỜI.

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

ANH ĐI CHIẾN DỊCH XA VỜI.

In PDF.
Hiệp Định Paris 1973.

   Sau những năm tháng miệt mài nơi quân trường, các sinh viên sĩ quan chỉ còn chờ ngày mãn khóa, thi cử hoàn tất, nộp xong "tiểu luận" cho các giáo sư phụ trách và chỉ còn chờ tập dượt đội hình, chuẩn bị huấn nhục khóa đàn em theo như truyền thống từ ngày thành lập trường từ năm 1966. Bỗng nhiên, vào ngày đầu tháng 10 năm 1972, luật sư Trần Văn Tuyên, là người thầy kính mến của các Sinh Viên Sĩ Quan Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị, bất thần từ Saigon đến Đà Lạt, đây là điều bất thường, khẩn cấp, hình như đất nước sắp có biến chuyển quan trọng.

   Chỉ sau khi đến bộ chỉ huy nhà trường chừng một giờ và ngay sau buổi trưa hôm ấy, cả khóa tập được lịnh tập họp bất thường để vị chỉ huy trưởng là đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh cùng với luật sư Tuyên có buổi thuyết trình đặc biệt tại đại giảng đường về tình hình đất nước trong giai đoạn hiện tại và chắc chắn đang diễn ra những biến cố rất quan trọng, ảnh hưởng đến cả miền Nam tự do trong những năm sau nầy. Trong phần trình bày ngắn gọn nhưng xúc tích của luật sư Trần Văn Tuyên, khá đầy đủ về một biến cố vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến cuộc chiến bảo vệ tự do cho vùng đất còn lại của nước Việt Nam trước sự đe doa an bình từ toàn khối Cộng Sản Quốc Tế do  hai đế quốc đỏ Liên Sô và Trung Cộng lãnh đạo, được thực hiện qua đảng Cộng Sản Việt Nam, do tên đại gian Hồ Chí Minh thành lập, là thứ công cụ đắc lực, tên xung kích hung hăng trong khu vực Đông Nam Á. Có thể nói là trong suốt quá trình "từ ngày thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam" và lai lịch, được chúng gọi là "sơ yếu lý lịch" của những tên lãnh đạo đảng, có "hình vóc như người Việt Nam nhưng tự nhận là phát xuất từ loài khỉ", chúng luôn phải có "quan thầy đỡ đầu" mới tồn tại. Đó là bản chất không bao giờ thay đổi của đảng Cộng Khỉ, dù sông Cửu Long có thể cạn dòng do tên ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm ký kết để các nước thượng nguồn tư do xây đập thủy điện, thu hết nước; hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, biển Đông dâng hiến cho thiên triều Bắc Kinh từ thời Hồ Chí Minh còn "ọ ẹ" đến nay là Nông Đức Mạnh, song "chân lý ấy không bao giờ thay đổi". Cho nên dù ở bất cứ thời tổng bí thư nào, thì tập đoàn Việt Cộng luôn luôn tình nguyện "làm đầy tớ trung thành của ngoại bang" như câu nói của tên Hồ Chí Minh với đồng đảng: "thà mất nước, chứ đừng để mất đảng, hãy bảo vệ đảng như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt".


    Thế là khóa 3 chúng tôi chuẩn bị tư tưởng hành trang để tham gia chiến dịch mang tên "Thông Tin Chính Trị" tại tỉnh Quảng Ngãi, thuộc quân khu 1, nhằm giải thích cho người dân biết rõ những thủ đoạn gian manh của bọn Việt Cộng ác ôn trước và sau khi ký kết hiệp định Paris, trong mưu đồ dành dân chiếm đất, nhất là tại những vùng nông thôn hẻo lánh.


   Quảng Ngãi là một trong những địa danh nổi tiếng là có nhiều Việt Cộng, mà người lính Việt Nam Cộng Hòa gọi nơi nầy nằm trong "Tam Kiến, Tứ Quảng", hắc ám và đầy hiểm nguy; do nơi nầy trong thời kỳ được mệnh danh là: "Đánh Tây Giành Độc Lập", một trong số các chiêu bài của đảng Cộng Sản Việt Nam do tên Hồ Chí Minh lãnh đạo, nhưng bên trong là nhằm gây thanh thế cho thế lực của khối Cộng Sản Quốc Tế do Liên Sô lãnh đạo và sau năm 1949, có thêm quan thầy Trung Cộng cố vấn, chỉ đạo cho tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam; là vùng đất được coi là địa bàn hoạt động mạnh thuộc Liên Khu 5 Cộng Sản bao gồm các tỉnh là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vào thời Mặt Trận Việt Minh với hình thức: bên ngoài đánh Tây, nhưng bên trong do Cộng Sản khuynh đảo, băng đảng siêu cướp Cộng Sản xô đẩy những người quốc gia, yêu nước vào trận địa để tạo nên những chiến công, làm tăng thêm uy thế của tên Việt gian Hồ Chí Minh, mượn tay thực dân Pháp để triệt hạ những người Việt không Cộng Sản hay nằm trong thành phần "trí, phú, địa, hào", là kẻ thù của đảng Cộng Sản vô thần. Mặt khác, lợi dụng lúc chiến tranh, tên Hồ Chí Minh bí mật chỉ thị cho lâu la, đa số là thành phần bất hảo, đầu trộm đuôi cướp, nông dân dốt bất lương trong xã hội thời đó, được tuyển mộ gia nhập đảng Cộng Sản, chúng thi hành những công tác ám sát, thủ tiêu những người quốc gia có uy tín, vì lầm lẫn qua chiêu bài "yêu nước" đánh Tây, giành độc lập, điển hình là cái chết đầy bí ẩn của nhà ái quốc Huỳnh Thúc Kháng ở chiến khu Việt bắc.

Ông Trần Văn Tuyên, ảnh chụp năm 1974, khi ông là Dân biểu Quốc Hội VNCH, ông dự Cuộc Biểu Tình có tên là “Ký Giả đi Ăn Mày” tại Sài Gòn.

Sau phần thuyết trình của luật sư Trần Văn Tuyên và vài lời nhắn nhủ cần thiết, cũng như mách nước về những kinh nghiệm với người Cộng Sản, mà bản thân ông đã từng trải qua trong thời kỳ tranh tối tranh sáng 1945; tức là sau khi Nhật đảo chánh Pháp, trong thời kỳ tranh tối tranh sáng, nên đảng Cộng Sản thừa nước đục thả câu, phát triển tổ chức, khủng bố dân lành và nhất là thành viên các đảng phái quốc gia như Việt Nam quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Cao Đài, Hòa Hảo...và những người Việt yêu nước, những người tiếng tăm như nhà văn Khái Hưng, lãnh tụ đảng Duy Dân Lý Đông A, sáng lập viên Đại Việt là Trương Tử Anh... đã bị ám hại, thủ tiêu, mà mãi đến ngày nay vẫn chưa tìm ra được hài cốt. Do đó trong thời kỳ nầy, Hồ Chí Minh "tiếm danh" tổ chức Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội do những người Việt Nam yêu nước, bao gồm cả các đảng phái lớn. Chính những nhà cách mạng lão thành trong tổ chức đã lầm nên bảo lãnh tên Hồ Chí Minh (lúc đó mang tên Lý Thụy) cùng với đồng bọn là Đinh Chương Dương, bị chính quyền của thống chế Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Độc Đầu Sơn, vì tình nghi hoạt động gián điệp cho Liên Sô. Sau khi được thả ra, Lý Thụy được gia nhập tổ chức, làm Ủy Viện Hậu Bổ, được Trương Bội Công, Hồ Ngọc Lãm, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh tin cậy; sau nầy trở về nước, Hồ Chí Minh thanh toán những thành viên tổ chức, hiếp dâm Đỗ Thị Lạc (bà nầy hạ sanh đứa con gái và sau nầy Hồ Chí Minh ra lịnh cho đàn em thủ tiêu cả mẹ lẫn con). Cho nên, trong giai đoạn đầu, tổ chức Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, lừa được Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần, vốn là hai thành viên nồng cốt, uy tín trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, cho nên bọn đảng viên Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh lợi dụng uy tín của những người nầy mà đánh úp các chiến khu, cứ điểm chiến lược của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng, giết hại rất nhiều người yêu nước... do đó những điều mà luật sư Trần Văn Tuyên trình bày rất hữu ích trong thời gian đi chiến dịch.

    Được lịnh chuẩn bị các thứ cần thiết cho chuyến ra quân đầu tiên chỉ trong một ngày với hành trang gọn nhẹ gồm ba lô, túi quân trang, súng M-16, cấp số 340 viên đạn, cùng 2 quả lựu đạn M-26; còn vũ khí cộng đồng như đại liên 30, được để lại nhà trường để lo phòng thủ, vì súng nặng nề, không thích hợp cho chiến dịch mang tính cách linh hoạt. Với trang bị như thế, mỗi sinh viên sĩ quan trở thành một người lính tác chiến thật sự trên chiến trường khi cần thiết và cũng là một cán bộ chiến tranh chánh trị, có đủ khả năng và trình độ để đối đầu với bọn Cộng Sản.


   Nằm chờ cho đến sáng hôm sau để xuất phát công tác, đa số chúng tôi nao nức được đem sở học ra áp dụng, hầu rút lấy kinh nghiệm để sau nầy ra trường ở các đơn vị khắp bốn vùng chiến thuật, tuy nhiên cũng không quên viết thư về gia đình, đặc biệt là thời điểm đó, lịnh cấm trại 100%, nên các anh nào có thân nhân, em gái hậu phương ở Đà Lạt cũng đành phải nằm trong doanh trại, chứ bình thường vào những tháng cuối cùng của khóa, một số các sinh viên sĩ quan có nhu cầu tình cảm đặc biệt, thường lặn ra phố chơi, nếu không có công tác hay canh gác phòng thủ trường.


    Vào lúc 10giờ sáng hôm sau, cả khóa được xe bus của trường, ra phi trường Cam Ly, nơi đây có sẵn chiếc phi cơ C-130 chờ, chuyến bay không có gì trở ngại do thời tiết tốt, phi trường cũng khá an ninh. Đến phi trường Quảng Ngãi vào buổi trưa, được các nữ sinh với bộ áo dài trắng xinh xinh của các trường trung học ra đón và choàng vòng hoa, khiến chúng tôi cảm thấy áy náy, vì mới ra công tác, chưa lập được thành tích gì, mà lại được đối xử nồng nhiệt như thế; tuy nhiên cũng đón nhận lòng ưu ái của các em gái địa phương và có vài anh đã sớm kết thân với các em gái xứ Quảng. Sau đó cả khóa được đưa về trung tâm yểm trợ tiếp vận tỉnh chờ phân phối công tác và sáng hôm sau, được xe đưa đến Trung Tâm Huấn Luyện Hòa Cầm để được trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lịnh quân khu 1 và thiếu tướng Văn Thành Cao, Tổng Cục Phó Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị chủ tọa cuộc họp và ban huấn thị, vài lời nhắn nhủ chân thành trước khi những người trẻ tập tành dấn thân vào cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, lý tưởng tự do.


   Trở về Quảng Ngãi, khóa được phân thành nhiều toán, mỗi toán 10 người, ba lô súng đạn đến hầu hết các quận, chia thành hai nhóm:


- Quận miền Sơn Cước: Minh Long, Trà Bồng, Sơn Hà, tuy nhiên quận Ba Tơ không thể đi được vì đã bị sư đoàn 2 Sao Vàng chánh qui Cộng Sản Bắc Việt tràn ngập.


- Quận đồng bằng: Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức, Đức Phổ.


   Những đợt công tác khá nguy hiểm, nhất là tại quận Đức Phổ, được gọi là quận "Đứt Cổ", quận Mộ Đức là nơi Việt Cộng khá đông do dân chúng phần đông là thân Cộng, nơi nầy cũng là quê hương của tên "tưởng thú" được đồng đảng Cộng Khỉ phong làm "thủ tướng" Phạm Văn Đồng "Vẩu" tên phản dân hại nước, có bằng tú tài bán, làm việc cho sở Hỏa Xa thời thuộc địa Pháp, nhưng vì lỡ thụt két, xài hết tiền, sợ bị ở tù mà trốn đi theo Cộng Sản, phò tên ít học, dù có trình độ văn hóa thua cả học trò của hắn, đó là tên Hổ Chí Minh (lớp 5 trường làng), tên Đồng Vẩu mất nhân cách, nổi tiếng là "bợ đít" nên được làm thủ tướng "dai như đỉa đói", do hắn "vô vàn kính yêu" thằng Hổ Chí Minh như thầy, nên vâng lịnh ký công hàm công nhận chủ quyền của Trung Cộng ở quần đảo Hoàng Sa vào ngày 14 tháng  9 năm 1958. Chúng tôi đi công tác, vừa giải thích hiệp định Paris sắp ký có hiệu lực ngày 27 tháng 1 năm 1973 và vừa tự bảo vệ mình qua hỏa lực của mỗi cá nhân. Đặc biệt, có toán ra tận Cù Lao Ré, tức hải đảo Lý Sơn. Chuyến công tác được trôi chảy, dù đôi khi đương đầu với nguy hiểm, rồi khoảng gần Giáng Sinh, được lịnh trở về Đà Lạt, tưởng là sắp làm lễ mãn khóa.


    Về đến trường thì khóa 4 đàn em mới huấn nhục xong, tiếng nhạc chào mừng quân ta trở về vang vang từ cổng Anh Đào và sáng hôm sau, khóa 3 lẫn khóa 4 cùng nhau vác ba lô đi chiến dịch tiếp tục, vì đây là thời điểm rất quan trọng khi hiệp định Paris ban hành. Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam cũng phải đi công tác và chúng tôi gặp nhau ở phi trường Cam Ly, với đội ngũ chỉnh tề, khí thế sung mãn của những chàng trai nước Việt, nguyện chọn đời quân nhân để phục vụ tổ quốc. Thời điểm nầy, Việt Cộng gia tăng hoạt động khắp nơi trên toàn lãnh thổ miền Nam trong ý đồ "giành dân lấn đất', nên Đà Lạt cũng không tránh khỏi những quấy phá, dù tại địa phương có tiểu đoàn trinh sát 302 lừng danh trên trận địa vùng cao nguyên.


    Buổi sáng hôm ấy thật là đáng ghi nhớ, khi các phương tiện chuyên chở từ hai quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được những chiếc xe bus, GMC đưa ra phi trường, trời còn sương mù bao phủ, nên cảnh vật vẫn còn "ngái ngủ" trong không khí giá lạnh và những ngày mùa xuân; trên phi đạo đã có một chiếc phi cơ vận tải C-130 đang chờ, trường Võ Bị đang xếp hàng lên phi cơ trước, lúc đó có thiếu tướng Lâm Quang Thơ Chỉ huy trưởng và đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, Chỉ huy trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, cả hai vị mặc áo giáp, đội nón sắt vì tình hình căng thẳng.


Bất thần từ xa, nghe những tiếng depart, theo kinh nghiệm thì đây là loại súng cối, nên cả hai quân trường được lịnh phân tán, tuy nhiên chiếc phi cơ C-130 vội vã cất cánh, chỉ mang theo một số sinh viên Võ Bị vừa mới lên, thế là trong phi đạo, nhiều tiếng nổ chát chúa, chúng tôi biết đó là súng cối 82 ly. Phi cơ không thể hạ cánh để đưa hết đoàn quân của hai quân trường, nên được phân tán để tránh thiệt hại. Tình hình vẫn nguy hiểm, dù phi cơ đã cất cánh, bay vút với cao độ an toàn, tuy nhiên trong phi đạo, vòng đai phòng thủ của phi trường Cam Ly, thỉnh thoảng Việt Cộng dùng súng cối 82 ly pháo cầm chừng, khiến cho sinh viên sĩ quan của hai quân trường hiện dịch đành phải phân tán mỏng, núp dưới các giao thông hào hoặc bất cứ nơi nào cảm thấy an toàn.


    Có thể nói là chưa bao giờ phi trường Cam Ly chứa nhiều người như thế. Trời Đà Lạt vẫn mù mù sương, nên thuận lợi cho Việt Cộng lợi dụng địa thế, thời tiết để mở những đợt pháo kích gây rối. Thời gian trôi qua chậm chạp, mà "tiếng thời gian" thường được báo qua những tiếng chuông nơi các đồng hồ treo tường hay "tiếng trống báo canh" thời xưa của những đồn lính thú; nhưng giờ đây tại phi trường Cam Ly thì "tiếng nổ của súng cối" do Việt Cộng nã vào từng cơn, được coi như tiếng báo hiệu cho thời gian, như câu hát từ một bài ca về lính trước 1975: "nhịp canh thay bằng tiếng súng", cho  nên việc di chuyển hạn chế tối đa. Đến gần 11 giờ sáng, sương tan dần và các lực lượng địa phương đã mở nhiều mũi lục soát, nên bọn khủng bố Việt Cộng không còn lộng hành nữa và đến gần 1 giờ trưa, hai chuyến vận tải C-130 mới chuyên chở hết sinh viên sĩ quan của hai quân trường hiện dịch ra những tỉnh địa đầu giới tuyến.


    Chuyến phi cơ mang các sinh viên Đại Học Chiến Tranh Chính Trị đến căn cứ Chu Lai, và chiều hôm ấy, chúng tôi được bố trí ngủ tạm tại một doanh trại, gồm những nhà tiền chế, do quân đội Hoa Kỳ bàn giao lại. Cảnh vật nơi căn cứ nổi tiếng là lớn trong cuộc chiến Việt Nam, chiều dài 21 cây số, bề ngang 3 cây số, với cát trắng, gió thổi vi vu, thật nên thơ. Sáng hôm sau, được lịnh tập họp, chờ đoàn vận tải gồm những chiếc xe G.M.C của tiểu khu đến. Cuộc chuyển quân bị trở ngại trên quốc lộ 1, vì nơi địa danh là Bình Liên đang giao tranh, các chiến sĩ sư đoàn 2 bộ binh đang quần thảo ác liệt với Việt Cộng, nên một đoạn quốc lộ bị gián đoạn. Thế là chúng tôi được lịnh xuống xe, nằm chờ ứng chiến, sẵn sàng đối đầu với địch khi chúng tấn công. Bên trong, cách quốc lộ không xa, tiếng súng nổ dòn từ đạn nhọn đến pháo binh; nhìn xa xa, mù mù khói thuốc súng như sương lam buổi chiều và lác đác là từng gia đình gồng gánh nhau chạy giặc, hướng vể phía quốc lộ, được các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giúp đỡ tận tình. Tết gần đến, mà lại bỏ nhà chạy giặc Cộng, thật là điều đau lòng cho tất cả những người dân Việt; cũng như tết Mậu Thân 1968, đảng Cộng Sản lợi dụng thời cơ hưu chiến, do chính họ tuyên bố, để mở trận tổng công kích trên toàn lãnh thổ miền Nam tự do, nay hình ảnh nầy lập lại, khiến chúng tôi cảm thấy xót thương cho thân phận người dân nước Việt, đang hứng chịu cảnh điêu linh do bọn Việt Cộng gây ra từ ngày có đảng Cộng khỉ và tên Việt gian Hồ Chí Minh. Trận đụng độ kéo dài đến xế chiều, thì quốc lộ khai thông, bọn khủng bố Việt Cộng đã bị các chiến sĩ sư đoàn 2 bộ binh đánh bật và đang truy kích tàn quân. Chúng tôi tái ngộ Quảng Ngãi vào buổi chiều, khi thành phố vừa mới lên đèn. Tạm ngụ qua đêm tại Trung tâm Yểm trợ và Tiếp vận tiểu khu và sáng hôm sau, phân thành nhiều toán, mỗi đơn vị là 10 sinh viên sị quan, pha trộn giữa hai khóa 3 và 4.


    Tôi được bố trí đến quận Bình Sơn trong hai tuần đầu và sau đó di chuyển đến quận Nghĩa Hành và sau cùng là quận Sơn Tịnh. Trải qua những công tác tại các ấp hẻo lánh, có dịp tiếp xúc với những người dân chất phác vùng nông thôn, học hỏi được nhiều kinh nghiệm quí báu. Đặc biệt là tại quận Nghĩa Hành, trong nơi tạm ngụ nằm trong chi khu, do thiếu tá quận trưởng Hoàng Trọng Độ điều hành. Tôi còn nhớ mãi lúc mới đến đây vào buổi trưa, trong lúc toàn thể quân nhân trong chi khu, từ quận trưởng đến anh lính gác cổng, đều bận rộn, vì một tiền đồn nghĩa quân ở núi Đình Cương đang bị Việt Cộng tấn công dữ dội, ở tại chi khu, còn thấy những cụm khói trắng, do pháo binh yểm trợ và pháo của địch, kèm theo những tiếng nổ, nghe rất rõ, sau đó, Việt Cộng rút lui, trả lại sự an bình.

    Trong vòng đai phòng thủ quận Nghĩa Hành, do một đại đội địa phương quân, tất cả đều là người sắc tộc thiểu số Hré, họ có tục cà răng đến sát nướu và đa thê. Một anh lính có từ 2 vợ trở lên và sanh nhiều con, mỗi gia đình sống hạnh phúc trong "căn chòi lý tưởng" sát bờ thành, là công sự chiến đấu. Theo lời tâm sự của thiếu tá quận trưởng cho biết là: chỉ có một đại đội lính Hré, nhưng quân số chiến đấu cấp tiểu đoàn, vì tất cả mọi thành viên trong gia đình lính, đều biết sử dụng rành rẽ các loại vũ khí, nên khi chồng ngã gục, vợ cầm súng bắn thay và khi vợ nằm xuống, thì em bé từ 9 tuổi trở lên đều có khả năng cầm súng đánh lại kẻ thù đang tấn công vào chi khu, cũng vừa là đánh giặc và vừa bảo vệ nhà ở, gia đình của họ. Tuy nhiên, ông quận trưởng cũng cho biết là gặp khó khăn khi vụ mùa đến, lính thượng bỏ súng, trở về thôn làng để canh tác và khi "việc nhà xong" thì trở lại lo "việc nước". Người Hré rất chất phác, nên chúng tôi làm quen, được họ khắc những món đồ khắc bằng gỗ như cán dao để kỷ niệm. Những lần công tác tại các ấp hẻo lánh, tiếp xúc với những người dân, giải thích cho họ về sự tàn ác, vô nhân đạo, vô thần, vong bản của đảng Cộng Sản.


Ngày gay cấn nhất là đêm 26 tháng 1 năm 1973, tức là ngày hôm sau là hiệp định Paris ban hành, khắp các nơi, Việt Cộng nỗ lực phá rối, pháo kích, ám sát... tại hầu hết các nơi, lộng hành tại các vùng "xôi đậu" và vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của Việt Cộng, từ thời liên khu 5. Một số toán công tác ở Đức Phổ, Mộ Đức cho biết là sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, Việt Cộng treo cờ cách chi khu chừng 500 thước, dưới các cây cắm cờ đỏ, Việt Cộng gài lựu đạn để sát hại lính; do đó, những người lính địa phương quân và nghĩa quân phải dùng dây với móc sắt, ném xa và kéo sập cờ, để tránh thiệt hại. Đợt công tác thành công, khóa tôi an toàn, dù đương đầu với bao hiểm nguy. Sau đó, vào tháng 2, khóa được điều động về Đà Lạt để chuẩn bị tập dượt lễ mãn khóa. Do tình hình đặc biệt, nhằm đối phó với chiến dịch "giành dân lấn đất" trường kỳ của Việt Cộng, nên toàn khóa 3 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị đều được đưa về tiểu khu, thế là chúng tôi trở thành những người lính "địa phương quân", được bố trí tại các đơn vị tiểu đoàn địa phương quân, trấn thủ lưu đồn, an ninh lãnh thổ. Nhờ những kinh nghiệm trong lần đi chiến dịch, nên sau nầy đã làm tròn nhiệm vụ tại các đơn vị. Mỗi độ xuân về, hay tình cờ nghe lại bản nhạc "Anh Đi Chiến Dịch" của Phạm Đình Chương, lòng bỗng nhớ lại những kỷ niệm xưa trong đời lính. ./.



NT3 TRƯƠNG MINH HÒA