Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 Ma Sống

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Ma Sống

In PDF.

 



- Nghĩa trang này ma dữ lắm!


Người đàn bà tiến bước cho kịp Tâm, liếc nhìn anh, mỉm cười nói khẽ. Tâm làm như không nghe, cúi xuống xăn lại ống quần. Nghĩa trang nằm bên quốc lộ. Từ nhà ra rẫy Tâm phải đi qua đọan đường này, đoạn đường nhiều dấu chân trâu trong những ổ gà được đắp tạm bằng đất sét. Những chuyện kể về ma ở nghĩa trang này nhiều như chuyện thời sự hằng ngày. Từ chuyện đoàn quân ma tập họp trong nghĩa trang, với đèn đuốc sáng trưng chuẩn bị tấn công thành phố, cho đến những toán quân ma Mỹ xông vào nghĩa trang giao chiến bằng lưỡi lê, mã tấu. Từ chuyện nửa đêm nghe tiếng hét "trung với đảng hiếu với dân..." cho đến những tiếng kêu than nguyền rủa những người đưa họ vào chỗ chết. Toàn là chuyện ma. Tâm nghĩ đó chẳng qua là ám ảnh được chắp nối từ một loài ma khác:


Đó là ma sống.


Ma sống thì ở đâu cũng có, thời nào cũng có, nhưng lộng hành nhất là ờ vùng thôn quê trong thời loạn. Ma thường lảng vảng cạnh nghĩa trang, rình mò sau những khu vườn hay la cà suốt ngày trong quán xá. "Ma bắt coi mặt người ta", ông bà ta nói thế. Những người tin có ma như Tâm thì dễ thấy ma. Những người không tin thì dễ biến thành ma mà họ không hay biết. Ma theo dõi Tâm nhiều nhất vì Tâm hay cười. Đi cải tạo về mà còn cười! Cha chết, vợ bỏ đói meo mà cười! Tâm vẫn biết, nhưng chẳng lẽ lại khóc. Nhiều lần anh tự nhủ: "Thôi! kệ mẹ nó, đừng cười cũng được". Nhưng thật lạ; khi nhìn lên bốn chữ "tổ quốc ghi công" môi anh vẫn tự động làm một cái gì đó hơi giống một nụ cười. Tuy chỉ hơi giống một nụ cười thôi, nó cũng có thể đưa đến cho anh những tai họa, bất ngờ khủng khiếp. Anh thừa biết: tất cả đều bắt đầu từ cái đêm hôm đó:  Cái đêm đi gác quan tài.


Vừa ra trại vài ngày anh được người bí thư chi bộ mời anh đi "Công tác". Công tác ban đêm! Ở quê anh biết bao người được mời đi công tác ban đêm. Đi là không về, tìm không thấy xác. Mẹ anh tóc trắng như bông, nghe tin bí thư Đinh Chính mời anh đi họp, bà đã khóc thành tiếng. "Thằng Chính là con bà Vịnh. Không ngờ bà Vịnh lại có đứa con lấy oán trả ơn". Bà bảo anh đừng đi, có chết thì chết ở nhà". Tâm chỉ mỉm cười trấn an với mẹ. "Không đi sao được. Họp vài giờ là cùng". Tâm thừa biết người ta nói vài giờ cũng có nghĩa là vài năm, cũng có nghĩa là vĩnh viễn. Nhưng thời gian, sống chết đối với anh lúc này có đáng gì đâu...


Mẹ anh luống cuống lau nước mắt, đội nón lá chống gậy ra đi. "Mẹ qua nhà bà Vịnh, ghé quán con Bưởi mua ít rượu về cúng ông bà. Ở nhà chờ mẹ về hãy hay".


Tâm vẫn bình thản ngồi mài rựa. Anh bỗng thèm rượu đế. Anh lại nhớ về Bưởi. Về cả tuần mà không ghé thăm. Chắc Bưởi trách mình nhiều lắm. Tình đầu dễ vỡ, khó quên. Nỗi buồn nào cũng kèm theo nỗi xót xa ân hận. Tâm đã lạc vào quá khứ xa xôi cho đến khi nghe mùi hương thoang thoảng. Mẹ chàng đã quì trước bàn thờ.


Tâm quì sau lưng mẹ. Không khí trang nghiêm. Anh lạy ông bà lạy cha rồi lạy mẹ. Rót chén rượu cho mẹ, kê môi vào miệng chai; hít một hơi dài rồi đặt chai xuống đất, nói khẽ vào tai mẹ.


- Giết được con bọn hắn cũng có đứa chết.


Không chờ mẹ trả lời, với chiếc rựa gói trong chiếc chiếu, Tâm lao vào đêm tối, băng đường tắt, tiến nhanh về hướng cơ quan..


    Đối diện với cơ quan là trường tiểu học đang bập bùng ánh lửa. Từng toán nông dân nam nữ ngồi rải rác, vừa hút thuốc vừa nói chuyện tào lao tục tĩu. Thấy Tâm đến tất cả đều im lặng, đưa mắt nhìn anh một cách tò mò. Người duy nhất đến bắt tay anh là bí thư Đinh Chính.


Đinh Chính với Tâm là bạn thuở thiếu thời, cùng thôn khác xóm. Cùng học một lớp đến hết tiểu học. Tâm lên tỉnh học rồi đi Sĩ quan còn Đinh Chính thì thôi học giữ trâu và đi du kích. Hai đứa bạn đã thành hai kẻ thù. Mười lăm năm bây giờ gặp lại.
Đinh Chính bắt tay Tâm mắt nhìn đi nơi khác. Chiếc răng vàng sáng bóng và ngôi sao đồng trên chiếc nón cối đội nghiêng sáng lên trong ánh lửa vật vờ của hai hàng đèn gió, phảng phất một nụ cười nham hiểm.
- Thế này nhé!
Đinh chính nhìn đồng hồ.
-Tới giờ rồi...anh mới về nên anh không biết.


Trong chiến dịch thi đua đền ơn đáp nghĩa, huyện ta đã làm xong một nghĩa trang liệt sĩ. Thôn ta được trên giao chỉ tiêu là 64 liệt sĩ. Hiện tại chúng tôi đưa được 32 đồng chí về đây.


    Đinh Chính đưa tay chỉ những chiếc quan tài trên sân.  


       - Nội buổi sáng ngày mai phải tập kết đủ 64 đồng chí về nghĩa trang huyện. Đêm nay chúng tôi phải hành quân khẩn trương. Tập trung thêm 32 đồng chí nữa. Tạm thời tôi giao cho anh công tác là quản lý những cây đèn gió và bảo vệ quan tài ở đây. Không cho đèn tắt và không cho ai đến gần quan tài. Tôi có cắt vài đồng chí võ trang ở đây với anh. Có gì trục trặc các đồng chí ấy có quyền xử lý.



 Trước sân trường tiểu học, ba mươi hai chiếc quan tài phủ giấy đỏ có gắn sao vàng được xếp thành 4 hàng ngang, được đặt trên những khung tre đơn giản. Một chiếc tháp khung tre là tháp đài Chiến sĩ; trên có 4 chữ Tổ Quốc Ghi Công màu vàng. Trên cùng là bàn thờ lãnh tụ được trang trí bằng một chiếc lư đồng đặt giữa; bên trái là cờ đỏ sao vàng, bên phải là cờ đỏ búa liềm và trên cùng là ảnh cố chủ tịch Hồ Chí Minh đang mỉm cười nhìn xuống.


 Một mình Tâm đứng trước cảnh lung linh của những ngọn đèn vàng úa, trong khung mờ ảo toàn màu huyết đậm giữa đêm đông; ý nghĩ về vị thần Minotavre chợt đến trong ghê rợn. Những con vật của thời Trung cổ còn vẳng tiếng kêu than trong hơi gió. Những lễ vật đẫm máu là vật ưa thích của hung thần. Thời Trung Cổ đã xa vời, lẽ đâu vẫn còn tồn tại nơi đây. Và biết đâu trong đêm nay, chính nơi nầy sẽ đến lượt anh, vật tế thần để trả thù trong bí ẩn.


- Tôi đã cắt vài đồng chí vũ trang ở đây với anh, có gì trục trặc các đồng chí ấy có quyền xử lý.


Đinh chính đã nói thế. Tâm nhìn quanh. Tất cả đều vắng lặng. Cũng có thể họ đang ẩn nấp gần đây. Chỉ cần anh đến gần bàn thờ Tổ Quốc hay những chiếc quan tài kia  là họ sẵn sàng nổ súng. Cũng có thể chờ lúc anh ngủ say buộc cổ anh lên sườn nhà giống như người tự sát... cũng không biết chừng.
Đã đến nước nầy Tâm chỉ còn biết đánh liều. Anh vào phòng, trải chiếu trên bục gỗ, gối đầu lên con rựa nhìn ra sân. Im vắng đến lạ lùng. Tâm tự hỏi - Sao không ai đến viếng. Ba mươi hai chiếc quan tài cô đơn hình như chỉ còn một điều bám víu duy nhất, đó là nụ cười của vị lãnh tụ kính yêu của họ từ trên bàn thờ nhìn xuống...
Tâm nhìn qua cửa sổ, vài chiếc đèn gió đã tắt tự bao giờ. Vài tấm giấy đỏ bật lên để lộ những tấm gỗ tạp đóng sơ sài nhỏ bé. Gọi là quan tài nhưng thật ra chỉ là những chiếc quách dài khoảng một mét cao khoảng 20 phân, được phủ bằng những tấm giấy đỏ có đánh số và được buộc chặt bằng hai dây lạt néo sơ sài.


Phía sau trường, bên kia hàng rào cây mì, một mái tranh mờ ảo với ánh đèn dầu leo lắt. Tâm bỗng giật mình mò tay lên cán rựa... Có tiếng cây mì gãy. Tiếng sột soạt gần đây. Một bóng đen vừa băng qua hàng rào, dáng lom khom chậm chạp.
- Chú Bốn ơi! Chú Bốn Tâm ơi!... Chú ở mô rồi.
Tâm im lặng.
- Bác Vịnh đây, Tâm ơi con có ở đây không?


BácVịnh. Đó là người đàn bà hàng xóm mà mẹ Tâm luôn tin cậy. Trước kia thường giúp việc cho ba mẹ Tâm. Chồng bị Pháp giết, để lại cho bà một cái nhà tranh với năm đứa con nheo nhóc. Bà một mình nuôi con. Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Bốn đứa con trai như bốn hòn núi đất. Cô gái út là Bưởi, nhỏ hơn Tâm 5 tuổi, ốm nhom như con cò ruồi. Vừa khi bốn đứa con bắt đầu làm ra của thì chiến tranh ập đến. Các xã trưởng lần lượt bị giết. Ấp chiến lược biến thành củi đốt. Vùng thôn quê bị bỏ rơi. Cả bốn đứa con trai bà Vịnh đều thoát ly, đứa đi bộ đội, đứa làm du kích. Hầu hết dân chúng bỏ làng đi lánh nạn, bé Bưởi là con út, khóc ngày khóc đêm, xin mẹ rời bỏ vùng lửa đạn nhưng bà Vịnh nhất quyết không đi. Bà có cảm tưởng nếu rời bỏ làng quê là phản bội. Bà bám trụ. Nếu có đứa nào về bà sẽ cho một bữa cơm trắng, gói thêm một bọc tôm khô hay cá khô. Ít ra cũng còn một nơi gặp con. Và cũng chỉ nơi đó thôi, bà mới có hy vọng khấn vái Trời Phật ông bà phù hộ cho con bà tai qua nạn khỏi.


Nhưng chiến tranh mỗi ngày thêm ác liệt. Lũy tre xanh biến thành rừng cây khô. Du kích địa phương chết gần hết. Chính phải lên vùng cao. Bà mừng thầm vì cả bốn đứa con đều chưa có tin báo tử. Bé Bưởi thì mỗi ngày một xanh xao  còm cõi, dầu cô ta đã lên mười sáu. Bà giật mình nghĩ lại. Ở đây không còn đàn ông, không còn trai tráng... làm sao  cho bé Bưởi có chồng. Phải bỏ quê hương thôi. Chiến tranh kiểu này thì chết hết. Phải giữ mạng con Bưởi lại làm nơi nương tựa khi tuổi về chiều. Và cô bé Bưởi đã ra thành phố. Cô lớn nhanh và đẹp như người thành thị. Nàng đã gặp lại Tâm và yêu Tâm, mặc dầu Tâm và các anh trai nàng đứng hai chiến tuyến. Bà Vịnh cũng biết điều đó, vẫn không ngăn cản. Con trai còn không giữ được huống gì con gái. Thôi kệ. Cùng lắm cũng có cháu bồng.


Cuộc đời bà buồn khổ quá nhiều rồi, để bọn trẻ vui được ngày nào hay ngày nấy. Thế rồi bà cũng có một ngày vui. Ngày vui nhất của bà là ngày 30 tháng tư. Bà đã vỗ tay cười ha hả khi nghe bản tin trên đài phát thanh: Giải phóng Sài gòn.
Ngày hôm sau gặp lại Chính bà mừng rơi nước mắt. Chính không vui mừng như bà tưởng. Chính vừa gặp mẹ là buông lời hờn trách. Tại sao không bám trụ mà chạy ra vùng địch. Bưởi nhìn anh mím môi khinh bỉ. Anh em không hợp nhau. Thái độ của con không làm cho bà buồn bằng nghe tin cùng lúc là cả 3 đứa con kia đã hy sinh từ 6 năm về trước. Bà chỉ còn biết đau đớn căm hận. Mỹ đã cút rồi. Ngụy đã nhào rồi, bà biết trả thù ai. Từ đó bà luôn uống rượu say mèm từng đêm kêu trời, chửi đất. Chỉ có Trời với đất là dễ chửi. Mặc dầu bà biết trời đất không có lỗi gì. Chửi càng mang tội. Cuối cùng bà thui thủi mở chiếc quán sau trường tiểu học. Bà với Bưởi hủ hỉ cùng nhau..


Hôm Tâm vừa cải tạo về ai cũng nghĩ là bà sẽ có đối tượng. Bà sẽ chửi Tâm. Chỉ có Tâm là Ngụy. Nhưng bà không chửi. Ai cũng lấy làm lạ. Hay là bà Vịnh già quá hoá quên. Hay bà muốn gả con Bưởi cho thằng ngụy đó. Có lẽ Bà đã động lòng khi mẹ Tâm đến nhà chiều nay cầu cứu. Bà nắm tay Tâm nói nhỏ:


- Con Bưởi bảo Bác ra đây!
Nghe nhắc tên Bưỡi, Tâm thấy lòng xao xuyến.
- Bác khoẻ không? Bưởi được mấy đứa rồi Bác?...
- Chồng đâu mà mấy đứa!
Bà vịnh lắc đầu.
- Con Bưởi chờ con không chịu lấy chồng. Bà nhìn Tâm một lát rồi nói tiếp:
- Bây giờ hắn cũng đang chờ trong kia.Vô với nó một chút đi con.
- Không được đâu bác à!
- Sao lại không được?
Bà Vịnh gắt.
- Tình cũ không rủ cũng tới. Đi đi. Để đây cho bác lo cho.
Tâm nhìn qua hàng rào. Ngọn đèn dầu leo lắt như gần như xa. Bưởi đang chờ thật không? Hay có gì bí ẩn. Ở đơn vị của Tâm ngày xưa cũng có một sĩ quan chết vì gái đẹp. Sau nầy khi bắt được cô gái ấy đã khai rằng... khi anh ấy vừa lên bụng em thì anh bị đâm chết. Xác trần truồng được ném xuống sông sau khi buộc theo tảng đá. Cô được thưởng danh hiệu nữ anh hùng. Những âm mưu giết ngừơi  kiểu ấy như ma như quỉ... Những hồn ma đang ẩn nấp quanh những chiếc quan tài kia, những bóng ma cũng có thể nấp sau ngọn đèn nhân hậu. Dầu phải chết cũng không thể chết trong nhục nhã.
- Để bác ở đây bảo đảm hơn. Nghe bác nói đây...
Bà Vịnh nghiêm giọng:
- Con là con một. Sống chết bất thường. Phải biết khôn. Phải có chút con trai nối giõi cho anh chị nhà...
Bà Vinh thở dài:
- Con Bưởi thương con, cần con. Tại sao lại không được.
- Con đã có vợ! - Tâm thở dài - Bác cũng biết rồi. Dầu vợ con đã vượt biên. Xin bác nói lại với Bưởi thông cảm cho hoàn cảnh của con hiện tại. Chúng con có duyên mà không có nợ.


Bà Vịnh lại thở dài:


- Mầy tệ lắm!   


Bà ho lên sù sụ. Rồi như nhớ ra điều gì bà lấy ra một chai rượu, nốc một hơi dài. Bà cúi đầu rên rỉ. Tiếng khóc của người già giữa đêm khuya cùng tiếng gió khua những tờ giấy đỏ làm Tâm luống cuống.
- Bác à! - Tâm hỏi - vì sao gác quan tài chỉ giao cho một mình con? Bà bảo vì ở đây chỉ có một mình chú là ngụy. Lát nữa thân nhân liệt sĩ đến đây, họ sẽ mở nắp quan tài, nhìn xương chồng xương con, nếu chú không cản họ là có tội với cách mạng, còn cản họ sẽ bị chửi bới đánh đập hoặc tệ hơn thế nữa
Bà Vịnh lại thở dài.
- Nhưng ai cũng biết. Làm gì có xương trong đó! Rồi bà chợt hỏi. Con đi nhiều rứa con có biết Trà My là ở đâu không.
-Dạ biết! 
Tâm vui vẻ khi bà Vịnh đã chuyển đề tài.


- Nó là huyện miền núi ở phía tây, thuộc tỉnh Quảng Nam, giáp giới với Kontum và nước Lào lận bác.
- Thằng Kiệm hy sinh ở đó. Còn thằng Cần và thằng Liêm cùng tiểu đoàn 72 thì cũng hy sinh một ngày ở Quế Tiên... Con  có biết Quế Tiên không.


Tâm lắc đầu im lặng. Hình ảnh trận đánh Quế Tiên như một ám ảnh tàn khốc của chiến tranh... Tiểu đoàn 72 tất thắng cố tiêu diệt một trung đội Mỹ trên ngọn đồi 81! Nhưng tình thế đã hoàn toàn đảo ngược. Tâm vẫn còn nghe mùi khét của khói lân tinh. Những cánh rừng bốc lửa thành một vòng vây đỏ rực. Tiểu đoàn 72 tất thắng phải rút lui theo sườn đồi bốc cháy dười những chiếc gunship truy kích. Những họng súng từ trên cao nẻ vào đầu những con người chạy trốn. Trong cảnh cùng đường ấy họ chỉ còn biết nằm ngữa ra, xỉa súng lên trời. Và cuối cùng là những xác người rách nát cháy đen. Khi bóng đêm vừa xuống thì trận mưa cũng bắt đầu. Những đóm lân tinh nhảy múa như những hồn ma dắt nhau xuống suối. Và con suối cuồn cuôn những đóm lửa ma trơi. Khốn khổ thay cho những người mẹ không biết con mình đang lâm trong hoàn cảnh cùng đường ấy... Tội nghiệp cho bà Vịnh. Tâm không thể kể cho bà nghe về những xác người bỏ lại chiến trường. Những tiếng kêu khóc tuyệt vọng trong đêm mưa hôm ấy. Anh không dám kể cho ai về mùi người chết cháy bởi lửa phosphor. Không thể kể những con suối cạn làm mồ chôn bất đắc dĩ.  Những chiếc xe ủi đất đã ủi xác người về chung một hố. Và chiếc hố kia không ai còn nhớ là ở nơi nào khi cây cối đã mọc lên trong hoang vu  quên lãng...


- Thằng Chính bảo hai anh ấy đã được đưa về. Đã có đây rồi nhưng không biết số mấy. Ngày mai lên nghĩa trang mới biết.
- Á!.. thì ra là vậy.
- Mười hai giờ rồi. Hăm mốt nửa đêm. Trăng mọc rồi kìa... Đi đi con!


Tâm lại nhìn về phiá ánh đèn. Lòng lại thấy thương hại Bưởi. Bưởi thích nhìn trăng và có những ước mơ đơn sơ nhỏ bé: một căn nhà nhỏ vùng quê để thấy trăng lên, ăn cơm dưới trăng và ngủ khi ánh trăng xuyên qua cửa sổ. Tâm bỗng mềm lòng. Cô ấy có lẽ vẫn còn rất ngây thơ như thuở trước, ngây thơ trao cả tình yêu cho chàng. Và chàng thấy xót xa ân hận.


- Đi đi con! - Bà Vịnh lại giục- Đừng để nó chờ tôi nghiệp...
- Thôi được! - Tâm nói nhỏ - Bác ở đây thay thế con. Độ một tiếng con trở lại.


Tâm cầm chặt cán rựa trên tay bước qua hàng rào, nhẹ và nhanh như một cuộc tập kích liều lĩnh. Đến gần mái tranh, Tâm nằm yên nghe ngóng. Thỉnh thoảng chàng lấy đất ném về phía sau nhà rồi lại ném về phiá hiên. Tất cả im phăng phắc. Chàng hé cửa nhìn vào. Bưởi đang ngồi trên ghế, tựa đầu vào chiếc bàn lớn đặt giữa nhà. Tóc xõa một bên vai, ngủ gục. Trên bàn là thức ăn đặt trong lồng bàn với chai rượu và chiếc ly nho nhỏ.
Tâm thấy trái tim mình nóng ran và nỗi yêu thương hạnh phúc chợt đến bất ngờ.


- Bưởi!


Tiếng gọi của Tâm như tiếng vọng từ nơi nào xa lạ.
Bưởi giật mình khi bàn tay Tâm vừa chạm vào vai nàng. Hai người ôm nhau. Không còn câu nói nào có ý nghĩa. Họ chỉ biết huyên thuyên với nhau, hơi thở gấp rút, nụ hôn vội vàng, gắn chặt. Cả 2 người như thách thức với những hiểm nguy đang rình rập. Hơn bảy năm đói khát tù đày, hạnh phúc thật đơn sơ nhưng quí giá. Cả 2 cùng uống rượu, cùng say và cùng nói những lời thiệt thà dịu ngọt.


- Em nhà nghèo, ít học mà lại thương anh. Anh lại bỏ em đi lấy vợ. Rứa mà em lại chờ anh!
- Anh thật tình có lỗi. Bây giờ anh khốn khó. Em thương thì bỏ qua cho anh.
- Em xin anh cho em một... đứa con.
- Không được đâu em.
- Sao vậy anh? Em sẽ giữ kín nếu anh không muốn cho ai biết. Cho đến khi nó lớn.
- Hãy chờ anh một thời gian nữa đã. Anh cần uống thuốc và chữa bệnh.
- Anh bị bệnh gì vậy.
- Liệt.
- Xạo!
- Thiệt đó em. Anh không còn sức lực với em như ngày ấy. Bảy năm chứ ít ỏi gì. Người ta đã lấy hết sinh lực của anh rồi.
- Bọn nó ác!.. Thôi được em sẽ chờ đến khi nào anh hết bệnh...


Bưởi hôn bàn tay Tâm và đeo vào ngón tay chàng một chiếc nhẫn vàng.


- Anh bán đi mà tiêu.


Trăng lên sau ngọn đồi phía đông mờ mờ trong sương khuya lành lạnh.
Hai người sánh vai nhau dưới trăng khuya đi về trường tiểu học. Bỗng hai người cùng đứng lại.
Bên trái sát bờ rào ba bóng đen ẩn hiện. Bưởi ôm chặt Tâm run rẩy.


- Ma!.


Dưới ánh đèn mờ ảo, ba bóng đen đang mở nắp quan tài. Tâm nhìn kỹ thấy người đứng soi đèn chính là bà Vịnh. Hai người bàn bà kia tóc búi, đang cố sức lôi một gói màu đen ra khỏi quan tài đặt nằm trên mặt đất. Cả 3 người như giật mình lui lại. Chiếc bọc đen động đậy. Người đàn bà nói khẽ:


- Chưa chết.


Bà Vịnh đặt ngón tay lên môi, vội vàng cột lạt néo bưng chiếc quan tài về chỗ cũ. Hai người đàn bà khiêng chiếc bọc băng qua hàng rào lẫn vào trong đêm tối.


- Cái gì thế?
Tâm hỏi nhỏ.
- Trời đất!
Bưởi rùng mình.
- Con chó... hình như còn sống.
- Tại sao lại ở trong đó?
- Họ cải thiện đó anh.


Tâm chợt nghĩ về những ngày trong trại. Khi con người đói khát thì miếng ăn là là cám dỗ vô cùng bi thiết. Cải thiện cũng có nghĩa là kiếm ăn! Một lúc khá lâu Bưởi kề tai Tâm nói nhỏ.
- Coi như không thấy nghe anh. Chớ hé môi. May phước cho anh đó! 


Bưởi nắm chặt tay Tâm một cái rồi lặng lẽ vào nhà...


Bà Vịnh đã nằm trên bục gỗ ngáy kho kho như người  bị suyễn.



Mười lăm năm như một ngày chờ đợi. Tâm tưởng mình mới bỏ quê năm ngoái. Anh đi một mình trong cái lạnh cuối năm. Anh đi tìm Bưởi. Anh trân quí kỷ niệm dầu nó vui hay buồn. Kỷ niệm buồn thì nhiều nhưng lại khó quên.. Như mùa đông năm ấy.


Một buổi sáng gió bấc lạnh thấu xương xào xạc qua rừng cây xơ xác. Những cụ già vòng tay trước ngực run run. Những chiếc nón cời lật qua lật lại che ngang trước mặt. Dân chúng được huy động tập trung trước nghĩa trang. Đài liệt sĩ được quét vôi trắng với 4 chữ tròn "Tổ Quốc Ghi Công" màu đỏ. Quan tài đã được chôn từ sáng sớm. Những chiếc mộ xây sẵn với tấm bia xi măng thẳng hàng dài hút mắt. Tất cả được bao bọc bằng một bức tường xây ngang đầu. Tâm lẩn vào đám đông đứng thẳng cùng với các cụ già... Trong phút chốc anh nhìn quanh, thấy nhiều người đã  lần qua chỗ khác. Bưởi đến sát bên anh, và anh thấy mọi người đang nhìn Bưởi. Tâm chợt mỉm cười. 


Một người đàn bà nhai trầu móm mém đến bên anh hỏi anh cười cái gì. Có gì vui mà cười. Bưởi nắm tay anh, ngẩng mặt nhìn mọi người như thách thức. Nàng nheo mắt ra hiệu bảo anh đừng sợ, đừng nói gì với họ.


Ông chủ tịch đọc diễn văn. Bài diễn văn dài "... Anh hùng... vì nước, vì đảng, vì dân. Nhờ thế mới có được như ngày hôm nay. Đời đời nhớ ơn các đồng chí. Tội ác của Đế quốc Mỹ của Ngụy quân ngụy quyền... Các Đồng chí nằm đây, máu xương của dân tộc nằm đây, hãy cúi đầu nhớ ơn các liệt sĩ". May quá! hết rồi! Bưởi nói Tâm gặp may, hay ai gặp may chưa biết, nhưng chắc chắn không phải là con chó đêm qua.


Khi bước ra khỏi cổng nghĩa trang, một thanh niên đi sát Tâm nói nhỏ. Anh hôm nay cười hai lần đấy. Liệu hồn.  Đừng trách.


Không phải vì lời hăm dọa đó mà Tâm bỏ quê ra đi càng ngày càng xa và không muốn quay về. Thế nhưng có cái gì thôi thúc từ trong sâu thẳm của trái tim mềm yếu, réo gọi anh thiết tha. Anh không cầm lòng được. Mảnh đất này là của anh, của tổ tiên ông bà anh để lại. Anh có quyền. Mồ mả ông bà cha mẹ còn đó, hương khói bao năm vắng tanh... Những kỷ niệm thời thơ ấu ai cướp được.


Mười lăm năm Tâm lại đứng trước nghĩa trang. Đài liệt sĩ vẫn còn kia, những chiếc mộ rêu phong cỏ úa. Môi anh không cười được. Anh nhớ mẹ, nhớ thân phận ngày xưa. Anh nhớ Bưởi. Đôi mắt thấy cay xè rớm lệ.
Tiệm tạp hóa của Bưởi bên đường trước nghĩa trang. Bưởi đã dọn lên đây từ ngày anh đi - "Bưỡi biết anh sẽ trở về không ngờ lại lâu đến thế. Mười lăm năm, bốn tháng, năm ngày". - Bưởi cười bằng môi nhưng đôi mắt long lanh ngấn lệ.


- Mẹ chết rồi. Anh Chính thì điên. Những năm đầu ở đây em buôn bán khá lắm.
Bưởi mỉm cười nhìn lên mái nhà.
- Xây được ngôi nhà này và xin được một đứa con nuôi. Nhưng buôn bán mỗi năm mỗi ế. Người đến nghĩa trang thắp hương càng ngày càng ít. Những mẹ liệt sĩ đã chết cả rồi. Liệt sĩ không vợ không con. Anh em đồng đội thì mau quên lãng. Nên ban đêm ở đây sợ lắm. Có ma.
- Ma sống hả?
Bưởi nhìn Tâm mỉm cười.
- Cũng có thể là ma sống. Ma sống đuổi theo ma sống. Đôi khi bỏ lại cả giày dép và quần lót. Thiệt tình!..
 Tâm nhìn Bưởi bồi hồi thương cảm:
- Bưởi à! Anh về đây là để tìm em.
- Thiệt hôn?
- Là để nói với em một lời cám ơn và một lời xin lỗi. Em hiểu được lòng anh không.
Bưởi gật đầu rơi nước mắt. Mái tóc đã muối tiêu, chảy xuống vai. Một lúc khá lâu lại nhìn về hướng nghĩa trang:
- Em hiểu. Thôi mình quên đi nghe anh. Mình già cả rồi.
- Không, em vẫn còn trẻ và còn đẹp lắm!
Đôi mắt Bưởi nhìn ngang, và đôi má thẹn thùng ửng đỏ.
- Nhưng mà... hết mơ ước một đứa con rồi anh ạ...


LAM ĐIỀN NGUYÊN THỬ
NT2 Nguyễn Hữu Thử

(Saigon 1994, Charlotte 2008)

(1) Minotavre: Trong truyện cổ Hy Lạp, là một vị ác thần, ưa thích được dâng cúng những lễ vật đẫm máu