Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 Nhìn lại một chặng đường HO Những Ngày Chờ đợi

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Nhìn lại một chặng đường HO Những Ngày Chờ đợi

In PDF.



Hai mươi năm nhìn lại chặng đường HO đã đi qua, lòng tôi không khỏi bồi hồi…

Chờ nhận giấy tờ xuất cảnh

      Mới đó mà đã hai mươi năm gia đình tôi sang định cư tại Mỹ theo “diện HO”. Hai mươi năm, chỉ thiếu một năm là  bằng thời gian tôi theo cha mẹ  trốn chạy Cộng Sản, cùng anh chị em từ miền Bắc di cư sống ở miền Nam năm từ 1954 cho đến  1975, Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam.


      Hai mươi năm nhìn lại chặng đường HO đã đi qua, lòng tôi không khỏi bồi hồi…


      Tôi không nhớ ngày tháng nào đã nộp đơn xin đoàn tụ gia đình với Phạm Anh Dũng, người em út trong nhà, là người duy nhất thoát được khỏi Sài Gòn trong ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Tôi chỉ nhớ cái cảm giác vô vọng khi ngồi chờ ở Sở Công An thành phố. Gương mặt ai nấy đều buồn rầu, có lẽ họ cũng như tôi, nộp đơn thì vẫn nộp nhưng hy vọng được xuất cảnh thật mỏng manh.


      Rồi chồng tôi bị tai nạn chết trong tù, rồi tôi tìm đường vượt biên hai lần đều bị bắt giam, tôi đành an phận với cuộc sống lao đao và  miệt mài vào công việc mưu sinh, và gần như tôi quên đi cái đơn xin xuất cảnh.


      Cho đến một hôm, tôi được một ông anh họ khơi lại chuyện ra đi. Anh là Giám đốc bệnh viện Grall Hà Nội. Anh có người em rể là kỹ sư được đi tu nghiệp Hoa Kỳ. Anh đến nhà tôi khuyên nên làm đơn thẳng sang Mỹ. Người kỹ sư ấy cũng là phụ huynh học sinh trường tôi đang dạy cho nên tỏ ý sẵn sàng giúp tôi. Tôi làm đơn cho Tổng thống Mỹ (TT Reagan) kể về hoàn cảnh khó khăn của mình (chồng tôi bị chết trong tù, con tôi sẽ chẳng có tương lai vì lý lịch ghi là “gia đình ngụy quân”). Đơn được mang đến tận tay cho Hồng Thuỷ, bạn thân của tôi ở vùng DC. Thuỷ đã chuyển ngay cho anh chị Lê Đình Điểu ở quận Cam, Nam Cali, vận động dân biểu, nghị sĩ giúp đỡ. Kèm theo lá đơn còn có bằng tốt nghiệp khóa Tham Mưu Cao Cấp năm 1970-1971 của chồng tại trường Leaven Worth, Kansas do cô bạn thân khác là Hương Kiều Loan xin giúp, cùng giấy báo tin của trại Vĩnh Phú là nhà tôi đã bị chết trong tù.


      Không bao lâu tôi nhận được lá thư hồi đáp của văn phòng Tổng Thống. Đại khái lá thư viết rằng “rất xúc động trước hoàn cảnh của bà và sẵn sàng đón tiếp gia đình bà vào đất Mỹ. Tuy nhiên hiện nay chính phủ Việt Nam ngưng không cho ai xuất cảnh sang Mỹ. Nếu bà và con gái đến được một nước thứ ba, chúng tôi  sẵn sàng đón nhập cảnh Hoa Kỳ.”



       Vàng đã hết, lại thêm các tin tức thảm khốc về những chuyến vượt biên vượt biển, làm cách nào tôi có thể đến được một nước thứ ba? Thôi đành cất giữ lá thư làm… kỷ niệm.


       Hàng ngày tôi vẫn đến trường dạy học, môn Văn ở trường “chuyên” cho các em học sinh giỏi thành phố. Mỗi cuối năm học, kỳ thi toàn quốc, tôi đã mang về cho thành phố những giải xuất sắc. Sở Giáo dục có ý chuyển tôi về Sở làm việc, trường Trung Học Sư Phạm cũng muốn tôi về dạy cho giáo sinh. Vì sợ mất tôi, Quận đã “đề bạt” tôi vào chức vụ Hiệu phó Chuyên môn trường điểm hạng 1 của thành phố. Được hai năm, tôi đã mang bao nhiêu thành tích giáo viên giỏi, học sinh giỏi về cho Quận Nhất. Khám phá chuyện tôi đăng ký xin xuất cảnh, Uỷ viên giáo dục Quận Nhất thuyết phục tôi rút đơn, đổi lại sẽ cho tôi đi “nghiên cứu sinh” (tu nghiệp) ở nước ngoài, cho con gái tôi du học Liên Xô…Tôi từ chối. Sau ba tháng nghỉ ở nhà mà vẫn được hưởng lương (có lẽ họ muốn chờ đợi tôi thay đổi ý kiến), tôi chính thức nhận được giấy cho thôi việc vào đầu năm học 1985-1986. Cuối năm học đó, đội tuyển học sinh giỏi Văn không có giải nào. Phòng Giáo dục cho người đến tận nhà mời tôi trở lại dạy, và những năm kế tiếp vẫn kiên nhẫn mời gọi, nhưng tôi vẫn từ chối…


      Trở lại thời gian bị nghỉ việc, tôi lo lắng không biết mình sẽ làm gì để sinh sống. Sợ nhất là công an phường khóm làm khó dễ. Tôi chợt nghĩ đến chị Hoàng Oanh (vợ nhà văn Dương Hùng Cường). Hàng năm, gần ngày khai trường, chị thường nhờ tôi giới thiệu với các trường tôi quen trong thành phố để bỏ thầu bán căn-tin. Chị Hoàng Oanh vui lòng hướng dẫn giúp tôi vào nghề.


      Mỗi ngày tôi dậy từ 4 giờ sáng. Từ đường Tự Đức quận Nhất, ghé chợ mua củ sắn, trái thơm, chở trên xe đạp lỉnh kỉnh hàng trăm thứ, đến trường Ngô Sĩ Liên gần Tân Sơn Nhất. Miệt mài làm việc để kịp bán giờ ra chơi. Lột vỏ củ sắn thì dễ dàng, nhưng gọt trái dứa rất khổ cực. Bàn tay bị acid từ dứa ngấm vào da sưng đỏ, nhức nhối. Phụ huynh làm trong bịnh viện thương quá, cho gant tay cao su bao bọc. Chiều về đến nhà, mệt quá, không ăn uống gì, chỉ biết nằm vật ra thở. Tối đến còn phải thức thật khuya nấu cho xong nồi chè đậu đen to tướng, ngủ vài tiếng là lại bắt đầu một ngày mới, lại rời nhà từ lúc trời còn mờ tối. Thấy con vất vả quá, mẹ tôi nói “Thôi đừng bán buôn nữa, từ từ tìm nghề nào nhẹ nhàng hơn. Lúc này mợ vẫn có thể nuôi con và cháu Uyển Diễm được mà!” Nghe mẹ nói mà nước mắt tôi chảy ràn rụa. Mẹ tôi bao giờ cũng là bóng mát, là chỗ dựa cho các con và thúc giục các con nên làm như thế nào trong mọi tình huống.


     Tôi cố gắng bán một hai tháng xem sao. Và rồi như quen việc, tôi không còn cảm thấy mệt nhọc nữa. Nhất là hàng tháng tiền bán, sau khi lấy vốn về, trả lương mấy người phụ giúp, số tiền còn lại nhiều gấp mấy chục lần lương dạy học. Không khí trong căn-tin cũng rất vui vì có cả các bạn cũ chung bán. Các chị đều còn đang dạy học nhưng có các anh đi tù về  giúp đỡ.


      Cũng từ nơi này chúng tôi bắt đầu nghe đến chuyện HO…


     Từ khi tin Mỹ có chương trình nhận tù nhân chính trị được lan truyền, cứ đến những ngày chẵn trong tuần là các ông rủ nhau ra công viên trước Dinh Độc Lập để nghe tin tức. Các bà có phàn nàn thì các ông nói rằng “Mấy bà cứ ở đó mà lo nhặt bạc cắc. Người ta đi hết rồi mới ôm mặt khóc.” Thế là các bà nhao nhao phản đối “Chúng tôi không sợ đâu nhé. Ở đây có vài ba bước là vào Tân Sơn Nhất. Chỉ sợ các ông kẹt lại mà thôi.” Ấy thế mà khi các ông về, ai cũng hỏi “Có tin gì mới không?” Trong căn phòng căn-tin, mái tôn thấp nóng hừng hực, chúng tôi vừa làm vừa nói chuyện “ra đi”. Dù biết là tin vịt nhưng hình như ai nấy vẫn có một chút gì hy vọng …


      Rồi tất cả lại… êm ru. Các ông không thấy ra ngồi công viên nữa, và chúng tôi thì vẫn quần quật sắp xếp hàng bán, đợi giờ học trò ra chơi. Hy vọng tan như mây khói.


      Một năm, hai năm sau…, bỗng có một ngày Sài Gòn lại xôn xao với tin tù nhân chính trị sắp được “bốc” đi. Các ông lại bỏ bán căn-tin, đạp xe xuống phố Thái Văn Lung, nơi có sở Ngoại Vụ. Có hôm mang về mấy tờ giấy màu đen, lợn cợn, in ấn bôi bác, bán với giá rất đắt. Nào mẫu đơn, nào giấy kê khai lý lịch… Có tin gì mới không? Có chứ, sắp được đi đến nơi rồi! Ngoài đó đông lắm. Một người quen chen lấn rớt cả kính mới vào tới nơi để đọc thông báo. “Rơi mất cả kính thì làm sao mà đọc được nhỉ?” Thế là tiếng cười vang rộn khắp căn phòng. Tuy nhiên vẫn cứ hy vọng đợi chờ cho đời bớt sầu, bớt khổ. Chúng tôi cứ như thế sống trong hy vọng rồi thất vọng với câu chuyện ra đi, vừa bùng lên rồi lại xẹp xuống như chiếc bong bóng…


      Cho đến một hôm, tin tức “ra đi” lại xôn xao. Có cả danh sách những người được ra đi đợt đầu. Những ai ra đi? Ra đi như thế nào, tàu bay hay  hạm đội? Thế là sắp hàng mua đơn ở Uỷ ban Phường. Các quán photocopy người ra kẻ vào tấp nập, tha hồ thu tiền. Bưu điện thành phố chật cứng người gửi hồ sơ sang Bangkok. Người người truyền tai nhau tin Hội Gia đình Tù nhân Chính trị của bà Khúc Minh Thơ đang lo chuẩn bị đón tiếp. Vừa bước xuống máy bay, người tù chính trị được trao một chùm chìa khóa nhà, xe hơi, một phong bì trong đựng 500 đô của Đức Giáo Hoàng và vô số quà cáp của các hội thiện nguyện…


      Ôi, những ngày khốn khổ sắp qua! Giấc mơ không bao giờ dám ao ước lại sắp thành sự thật!


      Ngoài công viên lúc nào cũng đông vui, nhộn nhịp. Trong gia đình bàn tán sôi nổi, ồn ào. Có người bán đồ đạc, may quần áo. Có người bán cả nhà đi ở nhờ, chờ đợi ngày “Mỹ bốc”. Con cái nghỉ học, tìm thầy dạy Anh văn. Có bà đi sửa sắc đẹp, có cô đi học nhảy đầm. Có ông bị vợ bỏ từ ngày đi tù. Ngày trở về lủi thủi cô đơn, gặp được người bạn gái năm xưa an ủi, tính làm giấy hôn thú để cùng “ra đi” thì bà vợ cũ xuất hiện. Bà không chịu ký giấy ly dị, bắt ông chồng phải ghi tên bà vào danh sách. Mỗi ngày bà đến ăn vạ chồng và đến đánh ghen tại sở làm việc của người đàn bà “đã cướp chồng mình”. Người chồng không chịu nổi, phải giơ hai tay kêu lên “Thôi, thôi! Bà về với ông chồng của bà đi! Tôi sẽ không nộp đơn, không đi đâu cả!”


      Mỗi ngày một tin. Mỗi ngày một chuyện. Cười ra nước mắt.

      Ngày lại ngày qua đi, chẳng thấy gì.


      Lại thỉnh thoảng lang thang ở công viên trước dinh Độc Lập vắng hoe. Lại lếch thếch đạp xe tới nhà nhau hỏi “Có tin gì mới?”. Lại lắc đầu và nhìn nhau thở dài, thất vọng. Nhưng tại công viên đường Thái Văn Lung, trước cửa sở Ngoại Vụ, loáng thoáng người ta vẫn cứ đến, cứ đợi cứ chờ…


     Cho đến một hôm, nhà nước loan tin chính thức về chương trình ra đi của tù nhân chính trị. Có người mách tôi ra Hà Nội xin xuất cảnh dễ dàng hơn là ở trong Nam. Tôi mang hồ sơ xin xuất cảnh và lá thư của văn phòng Tổng thống Mỹ đến Bộ Nội Vụ, số 40A Hàng Bài. Ngồi đợi một hồi lâu mới thấy mấy người công an trẻ, dáng điệu quan trọng bước vào. Họ xem xét hồ sơ và dừng lại rất lâu trước lá thư của văn phòng Tổng Thống Mỹ. Có lẽ vì thế mà họ lịch sự, không hống hách, lạnh lùng như công an trong Nam chăng? Hỏi cung như nói chuyện và ghi giấy hẹn tôi trở lại vào hôm sau. Sáng hôm sau, chỉ trong vòng chưa đầy mười phút, họ đưa cho tôi mảnh giấy nhỏ hứa cho xuất cảnh. Hộ chiếu sẽ được gửi vào Sài Gòn sau.


      Tiếng lành đồn xa… Người trong Nam kéo ra Hà Nội rất đông.


      Nhưng sau này phải qua một nơi gọi là “Dịch vụ”, và phải tốn tiền làm giấy tờ mới được tới 40A Hàng Bài. Trong Nam cũng có một văn phòng Dịch Vụ, toàn là những gương mặt công an của Sở Quản Lý Người Nước Ngoài và Xuất Nhập Cảnh. Nhưng thái độ tiếp chuyện niềm nở chứ không lạnh lùng như trước.


      Hồ sơ xin giấy xuất cảnh phải tốn ít nhất cho dịch vụ là một triệu đồng (năm chỉ vàng). Hồ sơ mới nộp thì gấp mười lần, chưa kể đến nếu “chạy chọt” thì được xét trước. Nếu không, chẳng biết hồ sơ của mình nằm ở cái xó nào!


      Tháng Giêng 1990, gia đình tôi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Đáng lẽ đi chuyến bay đầu nhưng tôi đã xin được cho gia đình người em gái có chung hộ khẩu đi theo nên phải bổ túc hồ sơ.


      Ngày 10/4/1990 tôi rời Sàigòn. Có đến hàng trăm người đưa tiễn. Họ hàng thân quyến hai bên nội ngoại, đồng nghiệp dạy học hay cùng làm ở Sở Giáo Dục trước 75, bạn cũ Trưng Vương, học trò của tôi, bạn học của Uyển Diễm, cùng các anh chị em từng sinh hoạt thanh niên sinh viên Sài Gòn như anh chị Ngô Mạnh Thu, anh chị Hà Tường Cát, anh chị Nghiêm Phú Phát v…v…


      Cuộc chia ly đẫm nước mắt vì tôi phải bỏ lại mẹ tôi già yếu bệnh tật không đi. Mẹ tôi ốm đau mất trí hàng năm trời nhưng kỳ lạ thay, những ngày sau cùng cụ lại tỉnh táo để biết là đám con cháu được ra đi… Và mẹ tôi đã đi vào miên viễn sau một tháng khi chúng tôi được đặt chân lên đất nước Hoa Kỳ trong nước mắt tiếc thương của các con cháu. Chắc chắn nơi chín suối, mẹ tôi đã mỉm cười yên lòng với tương lai của bầy con cháu nơi vùng đất tự do…



BÍCH HUYỀN
(Phu nhân cố Trung tá Nguyễn Quang Hưng, nguyên TMT/ĐH/CTCT/ĐL)