Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai NGÀY NẦY 40 NĂM TRƯỚC

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

NGÀY NẦY 40 NĂM TRƯỚC

In PDF.

 

Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị
Từ nơi nầy ta ra đi
Tung đời trai bay muôn phương
Xông pha khắp miền đất nước
Ra trường bốn mươi năm qua,
Tới nay vẫn chưa thấy già,
Thề nguyền vượt bao phong ba
Tiến lên trở về ĐẤT TỔ
Giảng đường kia nơi TA từng hun đúc
Chí làm Trai  ngang dọc khắp chiến Trường
Hỡi bạn tôi Hy Sinh vì Tổ Quốc
Hãy về đây ấm lại chút tình trần
Hỡi  bạn tôi hôm nay về đầy đủ
Hãy cùng nhau uống cạn chén rượu đầy
Cô nàng Thị Xuân kia ơi ?
Chiều nay đứng bên kia đồi
Bồn chồn cô lo cho ai?
Mà nghe cõi lòng xao xuyến
Thời gian như qua hôm qua
Mà nay  sáu ba tuổi đời
Tình yêu không phai trong TÔI
Với quân trường thủy chung
Đại học Chiến tranh chánh trị
Từ nơi nầy TA RA ĐI


    Đồi 4648 những tháng cuối năm 1970, những kỷ niệm rất đẹp sẽ là hành trang quý báu mà chúng ta mang suốt cuộc đời. Tôi ghi lại vài kỷ niệm với quý vị Sĩ quan Cán bộ, quý Niên trưởng cũng như với những Đồng Môn chiến hữu, đã một thời sống chung dưới mái trường thân yêu Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị Đà lạt


Bộ Bài Để Đời Của Đại Úy Nguyễn Tâm Miên


    Thế là niên học sau cùng dần dần trôi qua trong sự háo hức hay là tiếc nuối, nhưng cho dù thế nào, tuổi trẻ vẫn là những bồng bột không lường trước được ngày mai. Ngày mai mơ hồ mịt mù trên con đường vô định. Chúng tôi bốn thằng Nguyễn Gia Hoàng, Vĩnh Tường, Nguyễn Viết Cư và Tôi trốn học, trốn tạp dịch mãi mê bài binh bố trận thùng sảnh cù lũ mà quên ông đại úy Nguyễn Tâm Miên rình rập tự lúc nào.


«Anh Đây gom bộ bài lại đưa tôi, tất cả bốn anh về phòng thay quần áo ba lô, súng đạn ra tập họp ngoài sân chờ lịnh!»


    Bốn thằng tiu ngỉu, hô tuân lệnh, đứng dậy cái rụp, và năm phút sau đã có mặt đầy đủ trước sân Liên đoàn SVSQ.


«Mấy anh đã vi phạm Nội qui quân trường, hình phạt dã chiến được áp dụng là các anh sẽ nhảy xổm hoặc hít đất cho hết bộ bài nầy». Đại úy Miên nói.


    Bộ bài 52 lá nếu tôi rút trúng lá nào thì các anh sẽ nhảy xổm theo số nút ghi trên lá bài đó, riêng trường hợp lá ách thì phải nhảy 11 lần.


    Lần phạt dã chiến theo sáng kiến của đại úy Miên đã làm ê ẩm hết một tuần lễ mà đâu có thằng nào ớn, hễ bị phát hiện chỗ nầy thì tìm chỗ khác. Đúng là ngựa non chẳng biết trời đất là gì? Dù biết rằng vi phạm kỷ luật có thể khó lường trước được hậu quả của nó.


    Nói thật lòng chúng tôi cũng biết quý vị Sĩ quan cán bộ biết rất rõ việc làm của chúng tôi, nhưng quý vị cũng lơ là cho qua, nếu đừng có gì lộ liễu quá, những lần vượt rào đi đêm, ăn vụng thì thằng nào cũng cả bụng, đâu ai chịu kém ai, huống chi các anh đã từng hát:


Con đường xưa anh đã đi
Các em sao có thể bì
Đố thằng nào hơn các anh?


HỘP SỬA ÂN TÌNH


    Đầu xuân năm 1969, đợt 2 của khóa 2 được chuyển từ Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung về Quân trường Mẹ. Từ phi trường Camly, các xe buýt nối đuôi nhau tiến vào cổng trường trong cái se lạnh của khí hậu vùng cao nguyên. Các Niên Trưởng huấn nhục nhận bàn giao từ các Sĩ Quan Cán Bộ, bắt đầu màn Dã Chiến Tập Thể, mà sau nầy không thể nào quên trong đời Binh Nghiệp. Cuộc quần thảo cho đến lúc rã rời đến nỗi trái ớt cũng thành trái chuối, ăn vào không cay mà lại ngọt, cái gì cho vào bụng cũng tốt, bao nhục nhã, ê chề, dường như tan biến sau khi tấm lưng được ngã trên cái nệm, thì hồn phi phách tán, tiếng kèn báo thức vang dội, lại điễm danh tập họp và màn huấn nhục tiếp diễn, chúng tôi được tôi luyện thành một chất THÉP đễ kết dính lại với nhau, sau bao nhiêu biến cố cuộc đời, bởi vì Hình Phạt Huấn Nhục Không Là Sự Trả Thù, Không là sự dày vò, cũng không là sự trút bao Ân oán từ đời trước. Huấn Nhục để đi vào ĐỜI, một đời sống mới hoàn toàn khác hẳn những gì sách vở đã dạy, khi còn đời sống dân sự vừa để lại sau lưng.


    Niên trưởng Khóa I trước ngày mãn khóa đã để lại bao điều trăn trở, mỗi khi tuổi càng cao, và nhứt là ngày được giao làm  SVSQ cán bộ Huấn nhục khóa 3, bề ngoài với nét mặt lạnh lùng, cũng không che dấu được hết những ân tình còn lắng đọng, lặng lẽ trong đêm, thay nhau phiên trực, kéo từng tấm mền, từng tấm chăn xô lệch, những gương mặt vô tư trong giấc ngũ say nồng, bây giờ nhớ lại, những buổi sáng sớm nuốt ừng ực những hộp sữa đặc con chim, mẹ bồng con hoặc là ông thọ, tưởng chừng mắc nghẹn mà thật là ấm áp. Những hộp sữa ân tình, đã làm thay đổi hẳn cuộc đời của những thằng thư sinh ốm yếu, ích kỷ ngày nào, thành những chàng trai rắn chắc tự tin bước vào đời 9 tuần HUẤN NHỤC qua đi, cuộc đời như bước vào giai đoạn mới. Hôm qua, bây giờ là kỷ niệm, một kỷ niệm đeo đẳng cho đến ngày hôm nay: 40 NĂM HỘI NGỘ KHÓA II


XÉ RÀO


    Đã là SVSQ thì thằng nào cũng là TỔ SƯ XÉ RÀO. Ôi thì đủ các chiêu thức được tung ra, ỗi người mỗi vẽ mười phân vẹn chín, phần còn lại tin vào mệnh số ngày hôm đó quý quan cán bộ có bị quan bà hành hạ không? thường thường SVSQ xé rào vào năm thứ hai, dù gì có lỡ cũng được cái quai chão còn hơn cánh gà.


    Lần đầu tiên nếm mùi vị ngọt ngào là vào một đêm không trực gác.


“Ê! Đây, tối nay xuống phố chơi, tao vừa mới quen một em ở khu ký túc xá”.


   Gia Hoàng nói.


   “Ừ thì đi”


   Tui trả lời: “Tao cũng quen một em ở đó”.


   Thế là hai thằng lợi dụng trời nhá nhem tối vượt cổng Anh Đào lòn lách con hẻm phía sau đài phát tuyến, tiếp tục băng ngang những con hẻm mù mờ vì ngại bị quý quan Cán bộ phát hiện, trên lộ trình ngoằn ngoèo, cong veo, hai thằng lò dò cũng tới được điểm hẹn. Liên cô gái tôi đã quen trên chuyến bay từ Liên Khương về Sài gòn vào mấy tháng trước. Ngày đó thấy ai cũng đi phép lia lịa, bèn nghĩ ra cách nhờ thằng em “quánh” cho cái điện tín “ông nội quy tiên lần thứ hai” để xin được cấp phép về Cần thơ chơi, lấy le với bà con. Niên Trưởng Nguyễn Mậu Lộc, Sĩ Quan cán bộ đưa tới trạm Hàng Không, rồi từ đó có xe  buýt đưa ra phi trường Liên Khương. Thời tiết khá tốt, nhưng khoảng 3 giờ chiều phi cơ mới cất cánh, do sự tình cờ tôi được ngồi bên cạnh  L.


   Thế là chúng tôi quen biết từ đó, thỉnh thoảng có vào dạ vũ tại trường, cũng như những lần trên đồi Cù vắng vẻ, cũng như đêm nay, một đêm khí trời lành lạnh, chúng tôi tìm đến nhau để sưởi chút hơi ấm của người.


   Cũng một lần vượt rào tại cổng sau, nhà trung sĩ Kèn xíu mại, lần nầy ba thằng ngự lâm pháo thủ Trần văn Quá, Son Thợ Hồ và tôi, hình như vào chiều mùng một Tết năm 1971, chúng tôi đón xe lam vòng đường phía sau trường ra rạp Ngọc Lan xem phim, tôi cũng không nhớ là phim gì? Vì chưa vào rạp đã xảy ra vụ đánh nhau.


    Chuyện như thế nầy: Thằng Son đang lui cui mua vé, bất thình lình có một cặp nam nữ khá xinh, nhưng hơi lấc cấc, trong lúc con bé đứng cạnh, Quá thấy em có vẻ sành điệu, chàng Quá nhà ta cứ liếc mắt đưa tình, vì trong số ba thằng, nó cao ráo và đẹp mã nhứt, lại là cầu thủ con cưng của trường và thị xã Đà lạt. Mãi mê địa em mà nó quên bẵng thằng kép của con bé vừa gởi xe xong đi vào nhìn thấy, thế là lời qua tiếng lại, thằng kia cũng ỷ mính nằm trong đại đội Trinh sát của thành phố Đà lạt nổi danh quậy phá ngoài thị xã, vì được tỉnh trưởng cưng chiều quá đáng. Mặc dù thấp hơn thằng Quá một chút, nhưng vì có em, thành thử không thể nào nhịn nổi, rủ Quá đánh tay đôi không ai được can thiệp, chưa dứt câu đã nhào vô tấn công liền.


    Thằng Quá rất là nhanh nhẹn, né đòn dễ dàng và trong lúc thằng kia nóng tánh nhào vô búa xua, Quá nhà ta như Dương Qua trong Thần Điêu Đại Hiệp, dứt một đá, thằng kia lăn từ trên bậc thang rạp Ngọc Lan rớt xuống dưới đường, lồm cồm bò dậy, hắn điên tiết nhào vô tấn công tiếp, nhưng không thể nào chọc thủng hàng phòng thủ của Quá. Lại thêm một cú đá vòng chính xác tiếp theo một cú đấm, và cứ như thế nhận thấy không thể nào đánh thắng, hắn bỏ chạy ra xe rồ máy vọt đi như chớp, bỏ lại cô em tội nghiệp, vì sợ có chuyện không hay. Cô em khuyên Quá đi về, đừng ở lại, ảnh về nhà lấy súng đó. Nhận thấy có thể lớn chuyện và như thế quá đủ, ba thằng lên xe lam về lại Trường.


ĐÁM CƯỚI MÙA XUÂN

Viết Để Nhớ Về Các Bạn Bè Của Tôi


    Trong cuộc đời của tôi.Tôi đã hân hạnh làm rể phụ cho hai bạn đồng khóa là Lê Bá Hay và Đặng duy Kiều. Dự đám cưới Nguyễn Thế Thăng, Phan Gia Khương,Vũ Mạnh Lương, Nguyễn Thành An và Lữ Châu (1999). Mỗi đám cưới có nét đặc thù riêng.


   Tôi xin mạn  phép viết về đám cưới người bạn quá cố kém may mắn cùa của chúng ta là Đặng Duy Kiều, ra trường với cấp bậc Trung sĩ, phục-vụ tại TD 50 CTCT, nằm sau Tổng cục  CTCT, đường Hồng Thập Tự, như là một kỷ-niệm ĐẸP, một nén hương cho người nằm xuống, vả lại chúng ta cũng chẳng còn gì, sau cuộc chiến.

     Và tại sao chúng ta lại không đến với nhau?


     Cuối năm 1975, sau khi bạn bè đi tù cải tao, đợi mãi mà chẳng biết ngày về, người dân Miền Nam cảm thấy rất hoang mang, lo sợ. Để xoa dịu phần nào dư luận, CS Bắc Việt trấn an bằng cách gọi tiếp đợt 2,  từ cấp Đại úy giải ngũ tới Trung tá cho tập trung 7 ngày tại Donbosco, Gò-Vấp và cho về lại nhà, đồng thời cho thăm nuôi những người tù cải tạo, hầu giảm bớt những làn sóng vượt biên càng ngày càng gia tăng bị quốc tế lên án, đồng thời cũng nới lỏng kiểm soát chút ít gọi là cho có.


     CSBV cũng cho đội banh CAHN vào đấu giao hữu với Cảng Sài Gòn. Tôi tình cờ gặp lại Kiều trong lần coi đá banh đó trên sân CỘNG-HÒA. Nhà Kiều ở dường Nguyễn Kim sát sân vận động, nhà tôi bên kia đường Trần Quốc Toản, trại Tây-Sơn, khu gia-binh Quân-vận, trong khu vực chợ Nguyển Tri Phương, Q10. Anh em K2 rất đông. Tôi kể ra một số it: SonThợ Hồ, An Chột (sứt), Lộc gà mái, Vương T Sung, DQ Phúc (chuột) VD Trị, Lê v Bữu, VK Nam, Chung G Phong, Hà Tự, Ng Q-Thắng, PhBĐịnh, Lê b HAY và nhiều bạn nữa tôi không nhớ  hết.


    Vừa ngồi xuống ghế, kêu ly cà phê đen chưa kịp uồng, Kiều đã tiến tới chìa Thiệp Mời, đồng thời nhờ tôi và Bào làm rể phụ, lên Tùng Nghĩa, DALAT, rước dâu ngày 26 TẾT, làm sao mà từ chối được. Hai thằng tôi và Bào đều cu ki, hai thằng đều giải-ngũ. Bào tù binh, còn tôi phế binh, “chà đồ nhôm” bán riết rồi thành dân chợ trời hồi nào cũng không biết nữa. Luồn lách kiếm sống qua kẽ hở  thằng CS không khó, thậm chí còn làm giàu nữa!.


“Kiều mầy có mời thằng Phúc, thằng Nhơn không đưa Thiệp đây  tao đưa cho tụi nó.”


 “Hai thằng nó có rờ moóc rồi chắc khó có phép lắm! Bảo nói, “Ừ, thí thôi vậy.”


“Cận Tết quá, có về  được không?”


“Yên-chi, chẳng cần phải lo, hai thằng mầy cứ uống rượu thoải mái! Tụi Đà-lạt quất đế dữ lắm, tao không uống rượu nhiều được, nhớ nhé.”


    Đúng 26 Tết, 1977, trời vừa tờ mờ sáng, gia đình Kiều đã ngồi trên xe đò mướn trước, trực chỉ  Dàlạt. Cái lạnh cuối năm ảnh hưởng từ cơn gió Bắc thổi xuống, đem lại một cảm giác lâng lâng khó tả nên lời, lòng chạnh nhớ những mùa XUÂN đã qua đi, bè bạn đâu rồi?, Người thân phương nào? Có còn gặp lại chăng? Người tù khổ ải, người ở lại đắng cay.


    Kiều là con trai trưởng của gia đinh rất đông anh em, năm trai và bốn gái. Ba Kiều là sĩ quan cao cấp bị bắt tù cải tạo. Mẹ Kiều người Bắc chính tông, tần tảo nuôi con và mòn mỏi đợi chồng về. Tuy vậy vẫn tổ chức đám cưới cho con thật hoàn mỹ.


    Chiếc xe đò già nua ì-ạch thế mà cũng tới Ngã ba Dầu Giây, dừng lại chốt kiểm soát.


    Bọn CSBV đặt rất nhiều trạm kiểm sóat trên tất cả các trục lộ giao thông, mỗi địa phương tự cho mình có cái quyền đó, để thắt chặt sự cai trị hà khắc của chúng, để phân hóa các tầng lớp dân chúng, khó khăn trong đời sống kinh tế, sự nghèo khó, đói rách, bần cùng, để chúng dễ dàng thao túng, sai khiến. Một gia đình có người tù cải tạo, thì chẳng biết người tù và người ở nhà, ai khổ hơn ai? Anh em, bạn bè đã đi rồi, đêm đêm nếu không còn nghe tiếng chó sủa lúc 3 giờ sáng thì mới chợp mắt được. Bọn chó-săn thường làm việc vào lúc nửa đêm về sáng thôi các bạn ạ! Phải mất hơn một tiếng đòng hồ xe mới qua được trạm gác, nhìn mấy thằng du-kích, đội nón tai bèo, đeo súng AK, mang dép râu, không ra hình-tượng của một binh chủng nào, thế mà đành chấp nhận một sự thực quá phũ phàng!


“Tới Phương-Lâm rồi Bà con cô bác nghỉ giải khát, cơm trưa 30 phút xe chạy, các bác nhớ số xe nhé, xin mời bà con.”

Chúng tôi giựt mình choàng tỉnh nhìn không khí rộn rịp kẻ bán người mua, tôi dạo một vòng xung quanh nơi tiếp lộ, trông cô hàng bán mít xinh-xinh, mua một miếng mít nghệ thật to, ngồi dưới hàng cây xuyên bóng nắng ven đường.


    Ngẩm-nghĩ lại không biết đời mình rồi sẽ ra sao?


    Những đồn điền trà, cà phê xanh ngát hiện ra và dường như bất tận chạy suốt chân trời, cho tôi biết xe đã vào thị trấn Di-Linh, Bảo-Lộc, nợi đây chúng ta còn có người “bạn gái” tuyệt-thế giai nhân Nguyễn-Đức-Phương, cùng hiền nội cai quản của hàng bán trà.


    Năm 2000, Phương có xuống nhà tôi nhân lúc Phan Quang Đài  về Việt Nam thăm gia-đình, Phương có làm giấy tờ theo diện HO và bị từ chối.


   Khoảng xế chiều đoàn lữ hành đã vào địa phận Tùng-Nghĩa, nhà gái ra tận cổng làng đón tiếp nhà trai, hướng dẫn phái đoàn nhà trai vào một nhà lầu hai tầng, nằm trên đường gần đó thay đổi xiêm-y vội-vã, vì đã qúa giờ hoàng đạo rất lâu rồI thì phải.


    Chú rễ Đặng Duy Kiều uy-nghi trong bộ lễ-phục cổ-truyền  đi sau ông trưởng tộc dẫn đầu phái đoàn nhà trai, đoàn hộ-tống đi sau bưng trên tay mỗi người  mâm quả màu đỏ đựng lễ vật ngày cưới, khay trầu rượu, và một con heo quay. Đám trẻ hiếu kỳ ồn-ào đi theo rất vui, reo hò inh ỏi, người lớn thì trầm-lặng hơn nhưng cũng vui ra mặt


    Pháo nổ rền vang trước cổng nhà gái, xác pháo bay tung tóe hòa lẫn với từng cụm khói mù tiếng la hét của lũ trẻ chạy ùa lượm pháo lép, tạo bầu không khí vui nhộn, đón phái đoàn nhà trai từ Saigòn lên, từ-từ bước tới đứng thành hàng dài trước cổng nhà gái, các cô phù-dâu đã đợi sẵn, nhận lấy các lễ vật mà phái đoàn nhà trai mang tới, đem vào nhà đặt trước bàn thờ tổ-tìên. Tủ thờ thuộc loại danh mộc được chạm trổ cầu kỳ trong rất trang-trọng và uy-nghi, phía trên bộ lư đồng sáng choang mới vừa đánh bóng vừa trang-trí cho đám cưới, vừa chúc mừng năm mới. Hai vị trưởng tộc lần lượt giới thiệu hai họ nhà trai, nhà gái, những mâm quả lần lượt được mở ra trình hai họ, quan trọng nhứt vẫn là mâm trầu và khay rượu, nữ-trang, tiền cưới, trà bánh, các họ-hàng chúc mừng lì-xì.  Cô dâu chú rễ vái lạy ông bà, chú bác, cô dì hai họ. Xong đâu đó, hai họ còn kéo ra đền thờ sau nhà để tiếp- tục lễ lên đồng. Một tập tục cổ truyền lâu đời của người Bắc, đa số mọi người nơi đây dường như rất tin tưởng.


   Được rảnh-rỗi, vì không còn việc gì để làm ngoài cái công việc đợi chờ lên bàn nhậu, Bào và tôi bắt dầu quan-sát và “địa” mấy em dâu phụ, mặc dù hơi nhà quê một chút, nhưng cũng má đỏ môi hồng trông cũng dễ- thương lắm-lắm. Bào Biệt Động là một trong những thằng “bô”  trai nhứt khóa, tui không thể nào địch với nó được, hễ nó chú-ý em nào thì tui phải chọn em khác cho khỏi đụng hàng.


    Tôi đi lần về phía sau vườn, bầu trời ngả dần hoàng-hôn, ánh sáng vàng nhạt chuyển sang ửng hồng trước khi sụp tối, đốt vội điếu thuốc Hero, hít một hơi dài thật là sảng khoái, hướng tầm mắt nhìn theo những tà áo dài thướt tha mà mơ tưởng? những gốc mận trơ trụi lá, những cành hoa sầu úa ngày cuối đông, chợt lẩm-bẩm một câu Kiều lúc nào cũng không hay...”Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”


“Anh Bào, Anh Đây, tiệc dọn rồi, mời hai anh vào”, thằng TY, em vợ Kiều chạy ra mời tụi nầy vào, các cao thủ nhà gái đang đợi, hai bình loại can 4 lít rượu đế được mang lên, dường như phía nhà gái đang khiêu chiến thì phải, liếc ngang líếc dọc trong bàn cũng có vài bông hồng đơn lẻ, thế thì tốt lắm rồi, sau khi làm thủ tục sơ khởi lịch-sự của bà Alice Kiều-Oanh, khi còn học vỡ lòng ở trường, gắp qua gắp lại, cụng vài tuần rượu gọi là, bên phía nhà gái bắt đầu khiêu chiến, ban đầu ly nhỏ, ly lớn, rồi tới bằng chén, hai thằng ều làm nốt, chả chê cái gì cả, họ nhà gái cứ đem hết can nầy đến can khác, uống riết rồi tất cả đều cáo từ ra về, chỉ còn lại một cô áo hồng và một cô áo xanh, mời hai thằng qua nhà gần đó luộc bánh chưng, đánh tam cúc. Hai thằng cũng ngà ngà say  thấy mấy em mời thì nhận liền, trong ánh đèn vàng đêm xuân ấm áp như thế nầy, bao nỗi sầu vụt tan biến.


    Thật tình, cho tới bây giờ, tụi nầy cũng không nhớ hai cô nàng tên gì nữa, thôi thì gọi là Hồng và Thanh vậy. Trời Tùng Nghĩa về đêm khá lạnh, cái tĩnh-mịch thanh vắng gợi nhớ những ngày quân trường trốn trại đi phố đêm với thằng Nguyễn gia-Hoàng, ăn bánh xèo uống vài xị nếp than, hẹn mấy em ký  túc xá dạo Hồ Xuân Hương trong cái không khí lành-lạnh sương đêm của thành phố buồn muôn thuở Dalat. BĐQ Gia-Hoàng bây giờ đã nằm yên trong lòng đất Mẹ để lại nhiều tiếc thương trong lòng bạn bè chiến hữu.


    Băng ngang một con đường nhỏ tới trước cổng nhà có giàn hoa leo, Bào say sưa tán chuyện huyên thuyên vì là “nghề của chàng”, đã biết bao em “mệt” vì nó chớ bộ, nhưng mà tôi biết nó hiền lắm, chỉ “xì-tin giựt-giựt” vậy chớ chả có đứa con rơi rớt nào, hai nường chắc chả để ý gì đến tui cả, tự biết thế nên cũng chẳng quan tâm đến nhiều, cho đầu óc đi hoang không phiền muộn. Bào và tôi có rất nhiều giai thoại, nếu kể ra thì quá dài, nếu các bạn có chuyện tù cải tạo thì bọn nầy cũng có truyện “chợ trời” cười ra nước mắt.


    Bào có cô bạn gái rất dễ thương tên ZIZENE người Việt Quốc tịch Pháp, gia đình Zizene rất mến Bào, bằng lòng cho Bào cưới Zizene để theo vợ sang Pháp, nhà vợ lo hết thủ tục. quý bạn biết sao không? Nó tự ái không chịu mới chết, Thời kỳ đó muốn xuất ngoại rất là khó, có tiền cũng chưa chắc gì đi được. Câu chuyện chẳng dừng lại ở đây, sau khi Zizène theo gia đình sang Pháp, còn lại cô chị HÉLÈNE đang làm trong Lãnh-sự Pháp tại Sàigòn, cô nầy có ông Phụ Tá Lãnh-sự Pháp mê-mệt, dám dứng hàng giờ dưới trời mưa tầm tã trước phòng Hélène ở cư-xá Mạc Đĩnh Chi, thuộc tòa LS Pháp, để cầu em ban bố chút tình, mà Hélène chẳng bao giờ rung động. Tôi có khiêu vũ  với Hélène vài lần.


   Những tưởng chèo chung xuồng với nó ai dè! Tình Em Duyên Chị, và rồi Hélène cũng tới Paris!
   
    Bào và tôi vừa đánh Tam Cúc, đồng thời canh lửa cho nồi bánh chưng, một mỹ tục có từ đời các vua Hùng Vương truyền lại. Bên ánh lửa bập bùng đêm nay một đêm đầu tiên quá ấm cúng, tôi không còn nhớ  những gương mặt khả ái của  hai cô gái Xuân, chiều 26 TẾT năm nào, chúng tôi cũng không dám va chạm vào những gì cao quý, đẹp đẽ của ngày Xuân. Lần đầu và cũng là lần cuối chúng tôi không bao giờ gặp lại.


    Thấy trời có lẽ quá khuya, Bào và tôi xin cáo từ, mặc dù nhiều tiếc nuối, vừa về tới nhà, thằng Ty đã đợi ẵn tự lúc nào, đưa hai thằng ra phía sau nhà bếp, pha cho mỗi người ly cà phê nóng, lùi mấy củ khoai mì, khoai lang, thật không có gì tuyệt bằng .


    Ty hỏi:


“Nãy giờ mấy anh đi đâu vậy? cả nhà lo lắm. Trên nầy FULRO còn quậy rất dữ, tụi VC kiểm soát  gắt-gao cả nhà sợ hai anh có chuyện không tốt, nhưng em biết mấy anh mà. Nếu các anh mệt ăn xong mấy củ khoai lùi rồi hãy ngủ.”


   Trời  rất khuya khá lạnh nhưng hai thằng nóng bức không tài nào chợp mắt được, một phần lạ nhà và có lẽ mấy  can rượu hồI nãy dung hòa giữa cái nóng và cái lạnh mà phần nóng có vẻ trộI hơn,, nghĩ vẩn nghĩ vơ thế nào mà cũng chợp mắt dược vài tiếng, khi được đánh thức dậy  thì đã 7 giờ, còn phảI thu dọn hành lý về lại Sàigòn, từ đây chúng tôi phảI đón xe lên Dalat mới có xe về lại Saigon.


    Sau khi chào từ giã họ nhà gái. Chú Rể bị bắt ở lại,  chỉ có hai thằng Bào và tôi theo thằng Em cột chèo của Kiều đón xe lên Dalat vì em Kiều ở trên đó xuống dự đám cưới của chị. Tiếng gầm rú của máy bay nhắc nhở chúng tôi đến Phi trường Liên-Khương, dòng thác PRENN ầm ì tuôn chảy xối xả âm thanh vang vọng một thời oanh-liệt, đã trôi đi để lại nơi đây hoang tàn đổ nát. Xe đã vào chân đèo Prenn, vào địa phận thác Camly phi trường Cam ly với biết bao là Kỷ niệm....Phi-Trường Cam ly đã đón chúng tôi hôm nào khi bước sang trang cuộc đời, và đã đưa chúng tôi tung bay khắp 4 vùng Chiến-thuật.


    Hơi nước mù sương bốc lên từ mặt Hồ Xuân-Hương nhắc chúng tôi về thực tại, kia nhà Thủy-Tạ cho ly cà-phê ấm ngày nào xa-xa đồi Cù, những ngày không có em trời lộng gió.


    Xe đã vào bến những tiếng rao hàng quen thuộc cũng giống như những bến xe khác thời CS, những hàng dài nối đuôi chen lấn mất trật tự, muốn vào mua vé xe về Sàigòn chắc không dễ dàng chút nào. Em Kiều trấn an, hai anh đừng lo gì, cứ dạo chợ, khoảng 3 giờ em ra đón trước chợ Hòa- bình, ngày mai sẽ có vé xe.


    Lần theo con đường cũ, dưới hàng hoa anh đào rộ nở chào đón mùa Xuân mới sắp sang, chúng tôi đứng trước cổng trên lầu chợ Hòa-Bình, sao giống chợ trời quá vậy. Kẻ bán người mua lộn xộn chen chúc trước cổng chợ, mỗi gian hàng nhỏ bày bán trên tấm nhựa trưng bày đủ thứ mặt hàng và chúng tôi cũng cuốn vào dòng người mua sắm, không còn nét quyến rũ như thời chúng tôi còn là SVSQ dạo phố chợ mỗi sáng chủ-nhựt.


    Hai đứa mầy đi đâu đó? Lên đây hồi nào? Có nhớ chị không? Tôi và Bào giựt mình quay lại. Chị Chúc, không ngờ đã nhiều năm trôi qua mà chị vẫn nhớ tên từng thằng một, Chị không còn bán hàng trong chợ nữa, bây giờ cũng trải tấm nhựa ngồI bán dưới lòng dường.


    Cũng giống như tôi chiều chiều trải tấm nhựa trên đường Hai Bà Trưng trước nhà thờ Tân-Định bán đủ các mặt hàng trong nhà, có món gì đem ra chưng bày thì cũng có người mua.


- Bào , Đây về nhà Chị dùng cơm nhé,
- Cám ơn Chị nhiều tụi nầy có hẹn rồi
- Hai đứa cải tạo bao lâu?
- Tụi nầy tàn phế nên chúng tạm thời chưa đụng tới!
- Đi lên đây chơi với ai vậy?
- Làm Rể Phụ Cho Thằng Kiều, Bạn Đồng Khóa tại Tùng-Nghĩa , sẫn thăm chợ, cảnh cũ người xưa, luôn tiện mua vé xe về Sàigòn ngày mai.


    Chúng tôi mời chị giải khát, nhưng chị bảo phải trông hàng, chị hỏi hai đứa mua được vé xe chưa, Bào nói chưa nhưng có bạn mua dùm rồi. Chị nói ngày mai chị lại bến xe, nếu mua không được chị sẽ giúp.


    Chúng tôi chào từ giã chị Chúc, vẫn gương mặt hiền hòa ngày nào, bắt tay tạm biệt tôi và Bào một cách trìu mến. Như luyến tiếc một cái gì đẹp đẽ đã trôi qua, khó mà bắt lại.


    Vòng qua phía sau chợ, gian hàng may vá, nơi đây trước kia rộn rịp ngày chủ nhựt SVSQ hay ra sửa quân phục cũng như mua sắm vật dụng linh tinh, Tôi gặp lại Nguyệt, người em gái ngày nào, bây giờ đã thành thiếu phụ, dang dỡ hôn nhơn, may vá thuê mưu sinh, Nguỵêt mừng rỡ tíu-tít hỏi thăm đủ thứ chuyện, tôi cũng không nhớ hết mình đã nói gì, và trả lời những gì! Nguyệt đóng cửa hàng sớm hơn thường lệ, hẹn bọn tôi khoảng 6 giờ đến nhà ở đường Quang-Trung ăn cơm, Nguyệt lập đi lập lại nhiều lần, nhưng một lần nữa THÔI ĐÀNH LỖI HẸN


Chiếc xe đò chật ních người từ từ lăn bánh, phía dưới đường Nguyệt nhìn theo tôi với cặp mắt đen buồn bã, như thầm oán trách tại sao và tại sao? Chị Chúc cũng đợi tụi nầy từ sáng sớm. Biết nói gì ngoài những lời cầu chúc bình an, sức khỏe dồi dào để còn chịu đựng thêm nhiều nghịch cảnh và từ đó đến nay, tôi chưa một lần trở về Dalat.



NT2 Nguyễn Văn Đây
Tây nhà Đèn Georgia