Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2011 QUẢNG NGÃI, NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG.

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

QUẢNG NGÃI, NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG.

In PDF.



Hàng năm vào những ngày cuối tháng 3 dương lịch, lòng tôi se lại, tim tôi nhói lên từng cơn, ruột tôi quặn thắt từng khúc khi nhớ về những ngày tháng này hồi năm 1975, lúc tôi còn chỉ huy đơn vị Đại đội Chiến Tranh Chính Trị của Tiểu Khu Quảng Ngãi.


Thời gian mà tôi nhớ rõ nhất và in đậm nét trong ký ức tôi là kể từ ngày 22 tháng 3 năm 1975. Những tiếng súng liên thanh nổ dồn từ biên giới và tiếng đại pháo của địch ầm ầm long trời lỡ đất càng lúc lại càng gần hơn. Người dân Quảng Ngãi hoang mang, hoảng sợ.


Sáng ngày 23 tôi quyết định đưa gia đình của tôi gồm có mẹ tôi, vợ tôi và 3 đứa con còn nhỏ dại đi xuống cảng Phú Thọ cách quận Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi chừng mười lăm cây số về hướng Đông Nam, để theo tàu thủy của hải quân Việt Nam Cộng hòa di tản vào Nha Trang. Nhìn 4 chiếc tàu nhổ neo, tôi và một số chiến sĩ trong đơn vị tháp tùng theo tôi, mọi người đều im lặng. Dường như trong chúng tôi, mỗi người đều mang một tâm trạng giống nhau: “Ôi! Biệt ly sao mà buồn vậy.” Tôi quá nghẹn ngào tức tưởi và chỉ biết vẫy tay chào gia đình cho đến khi những chiếc tàu khuất dạng.


    Từ Cảng Phú Thọ, tôi trở về đơn vị, bất chợt tôi nhớ đến những ngày mới vào quân trường Mẹ, lòng ấp ủ bao nhiêu mộng ước cùng với hào khí:


“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.”


    Lúc bấy giờ tôi tự nhủ phải sống làm sao cho xứng đáng một đấng nam nhi vào thời loạn...Tôi túc trực ngày đêm ở đơn vị, và sẵn sàng chiến đấu cùng với anh em binh sĩ, những anh em còn có bầu nhiệt huyết tuyệt đối tuân theo kỹ luật, trung thành với quân đội và đất nước, tôi rất chi là mừng thầm bởi vì giờ này tôi không bị lẻ loi, cô độc mà ngược lại bên cạnh tôi còn có sự hiện diện của đông đủ một trăm phần trăm quân số của đơn vị. Một điều đáng mừng hơn hết là tinh thần đoàn kết của anh em đã thể hiện  một cách rất rõ nét. Có những gia đình anh em binh sĩ ở trong trại gia binh cạnh đơn vị đã tự nguyện nấu cơm, nấu cháo để mời nhau ăn, gọi là chia sẻ cho nhau vào đúng cái thời điểm mà mọi người đang cố gắng tự dấu cái sự âu lo, phiền muộn của mình.


    Cơm nước xong, tôi tập họp đơn vị lại và ra phương án phòng thủ. Đúng 12 giờ khuya tôi liên lạc với trung tâm hành quân của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Ngãi, tôi được biết tin là một trong bốn chiếc tàu nhổ neo hồi chiều đã bị đạn của địch và chìm. Trí óc tôi quá rối bời bởi vì hết sức lo lắng cho gia đình của tôi không biết sẽ ra sao, nếu có bề gì không may xảy ra chắc tôi khó mà sống nổi. Tuy nhiên, trách nhiệm, bổn phận của một cấp chỉ huy, tôi cũng như các sĩ quan trong đơn vị cứ luân phiên nhau đi tuần tra, kiểm soát vòng quanh các vọng gác của anh em binh sĩ. Vào lúc 2 giờ 30 phút sáng ngày 24, người em trai của vợ tôi từ Nha Trang gọi cho tôi biết là gia đình tôi đã đến nơi bình yên. Thật sự mà nói lúc ấy lòng tôi sung sướng vô cùng và cái chuỗi dài xao xuyến băn khoăn dần dần nhường cho cái cảm giác vui mừng khôn xiết.


    Cũng chính ngày 23/3/1975, đúng là một biến cố đau thương thay đổi cuộc đời tôi nói riêng và thay đổi cuộc sống  của dân chúng tỉnh Quảng Ngãi nói chung. 3 giờ 30 phút chiều cùng ngày, địch pháo kích liên tục vào thị xã Quảng Ngãi. Một trái đạn pháo 130 ly đã rớt xuống văn phòng Khối CTCT. Rất may mắn là toàn bộ sĩ quan  thuộc khối Chiến Tranh Chính Trị đã kịp thời trú ẩn dưới hầm tránh pháo kích của lũ sài lang dã man và đầy gian ác này. Tình hình mỗi lúc lại càng sôi động hơn. Đúng 5 giờ chiều, tôi ra lệnh cho anh em thuộc bộ phận tiếp liệu của đơn vị cấp phát nhiên liệu tối đa cho tất cả các tài xế, từ xe GMC, xe Dodge, xe Jepp, và ngay cả những anh em có phương tiện như những loại xe gắn máy cũng đều được đổ xăng đầy đủ. Mỗi người trong đơn vị được nhận ba ngày lương khô hành quân. Đơn vị đặt trong tình trạng sẵn sàng chờ lệnh cấp trên. 7 giờ tôi, tôi nghe tiếng động cơ của một chiếc trực thăng chiến đấu loại UH1 D, tôi đăm đăm nhìn lên trời thì thấy chiếc trực thăng này đang lượn quanh gần sát nhà của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Ngãi. Một tiếng đồng hồ sau tôi nhận cú “điện thoại đỏ” từ thiếu tá Nguyễn Văn Hường, trưởng phòng an ninh, cho biết là trung tá Phạm Đình Lộc, Tham mưu trưởng, đã nhận được một phong bì của đại tá Lê Văn Ngọc, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng tiểu khu Quảng Ngãi thả xuống tại sân cờ của Bộ chỉ huy tiểu khu. Trung tá Tham mưu trưởng đã họp khẩn các phòng, ban và ông cho biết là “lệnh di tản” của Đại tá vào lúc 8 giờ tối hôm nay. Chấp hành “lệnh di tản”, đoàn xe của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu trong đó có đơn vị của tôi ra khỏi cổng Hoa Lư, thì tôi nghe có tiếng khóc lóc như oán, như trách của gia đình vợ con binh sĩ, họ đòi đi theo và họ cứ lầm lủi chạy theo đoàn xe. Đoàn xe của quân ta qua khỏi cầu Trà Khúc, tiến thẳng ra Chu Lai.


Trên đoạn đường di tản dọc theo quốc lộ 1, Việt cộng đã phục kích sẵn, bọn chúng bắn xối xả vào đoàn xe và vào đoàn người dân vô tội. Đàn bà, trẻ thơ, chết một cách oan ức. Những người bị thương nằm ngổn ngang, la liệt, rên xiết, kêu la chờ chết. Đoàn xe cứ di chuyển và di chuyển hết sức chậm, đôi khi dừng lại. Đột nhiên tôi thấy thiếu tá Lê Hòa, Tham mưu phó Chiến Tranh Chính Trị tiểu khu Quảng Ngãi  từ trên xe bước xuống. Cũng từ trên xe Jeep của đơn vị, tôi ngừng lại và chạy vội vàng đến gặp ông. Sau khi mời ông ăn một nắm gạo sấy mà tôi đã rang sẵn, và đưa biđông nước mời ông uống một ngụm xong, không hiểu tại sao tôi liên tưởng đến “đại lộ kinh hoàng” một cái tên đã in đậm nét vào những trang quân sử vô cùng oanh liệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. “Đại Lộ Kinh hoàng” là một danh xưng đã gắn liền vào thời kỳ vàng son mà quân ta đã anh dũng tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị vào năm 1972.


   Tôi liền hỏi:


“Thưa Thiếu tá!Thiếu tá nghĩ như thế nào con đường mà ta đang đi đây, so với “Đại lộ kinh hoàng.”

“Còn hơn thế nữa” Ông ta trả lời.

    Vừa trả lời xong, ông cười và bắt tay tôi, ông nói:

“Thôi moi đi, trước sau cũngvậy thôi ".


    Xe của ông vừa mới chuyển bánh cách tôi khoảng chừng 20 mét thì tôi nghe một tiếng đoành và trong đêm tối, tôi thấy một màu xanh loé sáng. Tôi tự nói một mình và chỉ để cho một mình tôi nghe thôi là « Chao ôi, Thiếu tá của mình đã đi rồi», Chính tiếng đoành và màu xanh loé sáng ấy đã kết liễu cuộc đời của vị thiếu tá mà suốt đời tôi luôn thương kính. Cũng ngay lúc ấy, chiếc xe Jeep mà tôi đã dùng làm phương tiện chuyên chở tôi và một số sĩ quan trong đơn vị, không biết dây kẽm gai từ đâu tới cuốn xoắn vào lốp xe đằng trước về phía bên trái. Không còn cách nào để lái chiếc xe này đi được nữa. Tôi bèn quyết định rút chìa khóa xe ra và trước khi quăng chìa khóa, tôi đã loan báo cho mọi người trên xe tự lo liệu cho chính bản thân mình.


Tôi băng đồng, lội suối, bơi sông tìm đường thoát. Khi nhắc tới bơi sông tôi sực nhớ đến ngay cảnh tượng hết sức đau lòng đó là trong lúc tôi bơi, tôi thấy có những xác chết trôi sông đang cuốn theo dòng nước chảy. Những xác chết ấy rồi sẽ không biết trôi giạt về nơi đâu? Đó là cảnh thê lương trong muôn vàn thê lương trên bước đường di tản. Mặc dù con sông không rộng lắm nhưng đủ để làm tôi kiệt sức còn có người bạn đồng hành của tôi là Đại úy Phạm Thọ, Đại đội phó đại đội CTCT/Tiểu khu Quảng Ngãi, đang bám vào hai vai tôi vì anh ta không biết bơi. Mãi cho đến khi tôi cảm thấy mệt nhoài và nghĩ là mình không còn sức để bơi qua khúc sông này dù chỉ còn 5 mét nữa là tới bờ. Tôi la lên : « Anh Thọ, hãy thả tay ra hoạ may trời có thể cứu chúng ta. » Bất chợt người tôi nhẹ nhõm. Thế rồi tôi đã đến được bờ bên kia. Viết đến ngang đây tôi lại càng nhớ rất rõ cái cảm giác tê lạnh này phát xuất từ đức tin. Khi vào được bờ rồi tôi van vái ơn trên giúp tôi cứu người bạn đồng  hành. Chỉ trong một sát na thôi, tôi thấy một cây sào tre bên cạnh nơi chỗ tôi đang đứng, tôi bèn lấy cây sào lên, nắm thật chặt vào hai tay và đánh mạnh xuống nơi mà cái đầu anh ta đang còn nhô lên trên mặt nước. Anh ta đã dùng hết sức bình sinh chụp được cây sào tre và bấy giờ tôi đã kéo anh lên bờ. Hú hồn hú vía là anh bạn tôi đã được tai qua nạn khỏi. Sau đó chúng tôi trực chỉ leo lên một ngọn đồi để ẩn núp. Nhìn qua ngọn đồi bên kia, cách ngọn đồi mà chúng tôi đang trú ẩn, khoảng chừng 500 mét tính theo đường chim bay, Việt cộng đang pháo kích ra hướng Chu Lai. Dưới kia, đường đất đỏ, xe tăng của chúng được ngụy trang bằng lá rừng ùn ùn từ Trường Sơn di chuyển xuống Quốc Lộ 1.


    Suốt ba ngày đêm nhịn khát và nhịn đói, trên ngọn đồi trọc, đứng ngồi không yên, đêm thì chúng tôi bò xuống vườn mía của dân để bẻ trộm vài cây mía ăn tạm và để chống cơn đói đang hoành hành cồn cào một cách dữ dội. Ngày thì chúng tôi nằm sát rạt xuống bên cạnh các lùm cây tuy không cao nhưng cũng vừa che thân. Chúng tôi tiếp tục quan sát, nghe ngóng những tình huống xung quanh. Rạng ngày 27 trời vừa mới hừng sáng nhưng vẫn còn sương mù dày đặt, tôi cứ loay hoay tìm kiếm khẩu súng Colt 45 mà tôi đã lận trong lưng quần. Tôi tìm hoài vẫn không có, nếu tìm ra được thì tôi cũng không biết là giờ này tôi có còn ngồi đây hay không để mà ghi lại những gì mà tôi còn nhớ trên từng trang giấy này. Sau đó, tôi quyết định xuống núi, cùng với anh Thọ, đi vào làng dân, bất chấp những gì có thể xảy ra. Lúc chúng tôi băng qua một cánh đồng, bỗng nhiên có một thanh niên trạc chừng mười chín, hai mươi tuổi đang vác cái cuốc trên vai. Người thanh niên này dừng lại và hỏi :


«Có phải các anh là lính?»
«Phải, chúng tôi là lính. » Tôi đáp.
«Em đưa các anh gặp gia đình em» Anh ta nói tiếp.


    Chẳng biết thực hư thế nào, chúng tôi bèn đi theo anh thanh niên này. Đi được khoảng 15 phút, trên đường dẫn vào làng dân, tôi thấy một đám đông người đang xúm xuýt vây quanh một ông cụ già. Tôi đứng lại và nghe cụ già này kể rằng rằng cụ vừa mới chôn một xác ông quan lớn. Tôi hỏi ngay :


«Ông quan lớn có giấy tờ gì trong túi không, thưa cụ?»
«Có một thẻ quân nhân, nên tôi mới biết ông quan lớn này là Thiếu tá Lê Hòa». Ông cụ trả lời ngay.


    Vậy là cụ già đã chôn xác thiếu tá Tham Mưu Phó CTCT của tôi rồi. Tôi đau đớn ứa nước mắt, nín lịm cả người và chỉ biết chào vĩnh biệt một vị thầy của mình mà thôi. Sau khi hỏi tiếp  về chi tiết thì được biết một phần của thầy tôi được ông cụ cắm một tấm gỗ và có đề tên, nằm bên vệ đường cạnh trường tiểu học Trà Bồng.    Tôi tự hứa với lòng mình là sau này nếu tôi còn sống, tôi sẽ tìm cách báo cho gia đình thầy của tôi biết. Tôi giã từ cụ già tiếp tục theo chân chàng thanh niên. Vừa vào đến sân nhà anh ta liền gọi bà mẹ nấu mấy gói mì và một nồi khoai lang. Ăn được một bụng no nê xong, chúng tôi đã được anh này dẫn đi trình diện hội đồng xã, một trụ sở mà Việt cộng đặt tạm thời để tiếp nhận những người sa cơ thất thế như chúng tôi. Từ đó, bọn họ đưa chúng tôi vào các trại tù mà mà chúng thường dùng cái từ rất chi là mị dân : « Trại cải tạo. »


    Thời gian dần trôi, tôi đã trải qua tất cả các trại, từ trại Trà Niu nằm xa thẳm vào tận vùng sâu nước độc của vùng núi hiểm trở thuộc quận Trà Bồng, rồi đến trại Kỳ Sơn thuộc quận Tam Kỳ, Quảng Tín. Cuối cùng là trại Tiên Lãnh thuộc quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.


    Sau những năm tháng triền miên đầy gian nan khổ ải, nếu ai trong chúng ta đã trải qua những chuỗi dài thời gian nếm mùi cay đắng dưới gông cùm của bọn Cộng Sản thảy đều đã biết. Bây giờ tôi, người trở về từ trại tù Cộng Sản, còn sửng sốt ngoái nhìn lại quá khứ, một quá khứ ê chề, thê thảm, thật sự quá giật mình. Song tất cả đều trôi qua, tất cả đều xóa nhòa, chỉ còn có kỷ niệm, dù chỉ là kỷ niệm buồn. May mắn thay là bên cạnh những kỷ niệm buồn thảm ấy, tôi có một điều rất mừng là tôi đã nhờ bà xã tôi, sau chuyến thăm nuôi đầu tiên tại trại Kỳ Sơn, về lại nhà tìm cho ra gia đình Thiếu Tá Lê Hòa, để báo tin cho gia đình ông biết rõ địa điểm ngôi mộ của ông. Sau khi ra khỏi trại tù Cộng sản, về với gia đình, tôi được biết là gia đình của ông đã đưa hài cốt ông về yên nghỉ tại Huế. Tôi thở dài nhẹ nhõm là đã làm một việc gì đó có ý nghĩa. Một điều đáng mừng nữa là người bạn đồng hành của tôi, Trung úy Phạm Thọ, hiện còn sống và đang đnịh cư tại Thành Phố Westminster, tiểu bang California. Tôi đã một lần gặp mặt anh Thọ, sau ba, bốn mươi năm xa cách, nhân chuyến đi về California để tham dự đại hội 15 của Tồng Hội Ái Hữu cựu Sinh Viên Sĩ Quan Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt vào tháng 5 năm 2009.


    Giờ đây lòng tôi vẫn mang một nỗi buồn rười rượi, vời vợi nhớ về Quảng Ngãi : Quê hương thứ hai của đời tôi. Tôi sinh ra, lớn lên tại Huế, sau khi tốt nghiệp Khóa 1 từ Quân Trường Mẹ : Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, tôi sống và chiến đấu từ các đơn vị tác chiến đến đơn vị Đại Đội Chiến Tranh Chính Trị  Tiểu Khu Quảng Ngãi, cho đến ngày cuối cùng. Cho nên giờ này tôi luôn nhớ các địa danh mà tôi đã từng đặt chân tới như : Thạch Trụ, Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh, Bình Sơn... Đặc biệt là ngọn núi « Long đầu hý thủy » đứng sừng sững, hùng vỹ, bên giòng sông Trà Khúc gợn sóng, khi gió lạnh đông về là những hình ảnh gợi nhớ và dễ dội về trong tâm khảm. Tôi thầm nguyện cho người dân Quảng Ngãi nói riêng và cho dân tộc Việt Nam nói chung sớm thoát ách độc tài đảng trị của bọn Cộng Sản. Tôi hy vọng rằng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền thật sự sẽ đến với đồng bào ta một ngày không xa.


NT1 Lương Văn Thuận