Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2011 HY VỌNG?

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

HY VỌNG?

In PDF.

 



    Khi bắt đầu thành niên, mỗi khi gặp việc gì thất bại tôi thường hay nản lòng. Do đó, có người khuyên bảo tôi rằng: “Sau cơn mưa trời lại sáng.”. Đại ý sẽ qua lúc u ám, tối tăm, mọi việc sẽ tốt hơn.

    Nhưng cái thằng tôi nay đã ngoài sáu mươi hay ngẫm nghĩ khi liên hệ thực tế ngoài đời đến bản thân. Lúc về ruộng vườn canh tác từ năm 1993, tôi sống đơn lẻ ngoài ruộng xa gia đình, thân nhân xóm làng khoảng 1000m từ bờ rạch Cái Cẩm (Phong Điền). Vì thiếu tất cả tiện nghi cuộc sống nên thường gặp nhiều khó khăn. Vào mùa mưa sắp chấm dứt, có những cơn mưa kéo dài một hoặc hai ngày kèm theo dông bão hoặc nước ngập ngoài ruộng đến trên 0,5 m, nhằm ngày không trăng sao đến lúc hết mưa thì đã sẫm tối. Khi đó, trong nhà không còn dầu lửa để  thắp đèn, tôi đành ngủ sớm. Lúc đó tôi muốn than một câu nhưng nói không lên lời này: “sau cơn mưa trời vẫn tối rồi đen luôn.”


Có Một Lần Trong Đời Tôi


    Tôi là nhân chứng bất đắc dĩ cho lịch sử cổ kim hiện đại vừa qua. Do từ hồi ức viết ra nên ngày tháng tôi không thể nào nhớ rõ. Nhưng đây là một sự thật và liên quan đến một người khác đã chết: Khổng Trọng Trình. Bên tai tôi bỗng nghe văng vẳng tiếng ai đó: Mày nói dóc vừa phải thôi nghe Viên. (I think so.)


    Ba má tôi từ Phong Điền, quê ngoại và Ba Lán ra lập nghiệp tại Cần Thơ, trước đây là tên tỉnh lỵ nay là thành phố và địa chỉ gia đình là đại lộ Hòa Bình thuộc quận nhứt. Khi chưa có tôi và sau này khai sinh cho tôi tại làng (xã) An Bình với nghề buôn bán trái cây. Riêng ba tôi giặt nón nĩ trước nhà lồng chợ. Tủ hàng mang tên P.T. Má tôi bán hàng xén tại chợ Hàng Dương mỗi buổi sáng. Nối dài chút nữa là bến Ninh Kiều. Khi tôi vừa lớn lên, ba tôi mất chỗ làm nên cùng má tôi bán đồ nhôm và nhựa tại đó đến khi tôi nhập ngũ (1968). Gia đình giải nghiệp buôn bán sau biến chuyển 30/4/1975 và tôi về vườn canh tác năm 1993.


    Khi tôi học đến Trung Học (Trường PTG 1960) má tôi thường đi Chợ Lớn bổ hàng nên hay dẫn tôi theo để coi toa hàng. Các đại lý thường đặt trên đường Khổng Tử đại khái như: NTT, NTN, HH, PHH...


    Năm 1967 tôi đậu tú tài phần thứ hai nên có dự định vào học kỹ thuật tại trường Phú Thọ. Trong thời gian luyện thi tôi ở trọ nhà người cậu tại chung cư LVD, Bà Chiểu, Gia Định. Nhờ có xe đạp nên tôi thường du khảo vài nơi khác. Tôi có đến trường Petrus Ký vì trường này rất nổi tiếng. Tôi có thấy tượng Khổng Tử cao khoảng 0.8 m bằng đồng đen, xem qua rất giống hình ông thọ trong hộp sữa đặc có đường ông Thọ lúc ấy. Vì không đậu nên tôi về Cần Thơ ghi danh Khoa học, chính xác niên khóa 67- 68 và cuối năm Thi hành lệnh Tổng Động Viên, tôi nhập ngũ luôn.


    Năm 1971 mãn khóa, đơn vị đầu tiên của tôi là tiểu khu Chương Thiện, đến tháng 9/1973 (sau khi thi hành Hiệp Ước Paris) tôi thuyên chuyển về đơn vị kế tiếp là Tiểu Đoàn 2/12/SĐ7 Bộ binh, gọi thi vị hóa là Tiểu Đoàn “hai mùa mưa” (tên một bản nhạc tình cảm của Trúc Phương) và tôi thường ở ĐĐ YTTV (bảng lam nhạt).


    Vào khoảng đầu năm 1975, đơn vị hành quân vùng Tây Bắc Tân Hiệp (Bến Tranh), Mỹ Tho thường chạm súng với Cộng Sản. Một ngày nọ, có thường vụ đại đội dẫn một người mang cấp bậc Chuẩn uý bảng tím (ĐĐ4) về bổ sung quân số. Khi đi ngang qua tôi có giới thiệu tên người chuẩn úy là Khổng Trọng Trình, cao khoảng 1,70 mét, da ngâm, trán trợt, mặt rất giống tượng Khổng Tử ở trường Petrus Ký. Một khoảng thời gian sau, tôi được tin là trung đội do Khổng Trọng Trình dẫn đi bị F5 yểm trợ dội bom nhầm nên trung đội tử nạn gần hết. Riêng chuẩn úy Trình và âm thoại viên xác bay lên ngọn tre.

    Lúc về vườn, tôi đến thăm thân nhân bên ngoại và nhắc đến những việc đã qua. Họ thường kể những truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Tiết Nhơn Quý hoặc Tây Du Ký, có người nhắc đến bộ sử ký Tư Mã Thiên làm tôi nhớ đến  việc này. Khi học Kim Văn (văn xuôi)  ở lớp đệ lục, tiểu sử Khổng Tử như sau: Khổng Tử người nước Lổ tên là Khâu, hiệu Trọng Ni, ra đời năm 647 (?) trước Tây lịch, gọi chung là Khổng Trọng Ni. Liên quan đến chuyện cũ tích xưa, tôi chợt nhớ đến Khổng Trọng Trình.


    Hôm nay (Nov, 28, 2010), tôi viết ra bài này với kết luận là: Khổng Trọng Trình, hậu duệ Khổng Tử (không biết đời thứ mấy) tử trận tại miền Nam, trong cuộc chiến VN vừa qua, để các bạn và quý vị nhận xét, có phải Khổng Trọng Trình  đúng là quân tử Tàu không?


2 PHÁT 57 TRÚNG 1


(Tôi viết bài này, nhân dịp vài ngày nghỉ để thân tặng các bạn, đại đội B.)


    Hẳn các bạn NT2 còn nhớ, sau khi nhập khóa được 1 năm, có sự thuyên chuyển chỗ ở của SVSQ. Do đó tôi từ đơn vị II C8 của quân trường sang IB5 của Khóa. Trong năm sau này, có học sử dụng các loại vũ khí nặng như súng cối và SKZ.


    Các nhà thiện xạ bắn trăm phát đều trúng, còn khi đó, tôi được bắn có 2 phát 57 SKZ với đạn tập mà chỉ trúng được 1 thì có gì là lạ đâu. Thưa các bạn! Tựa đề còn thiếu 2 chữ sau cùng: Mục Tiêu.


Câu chuyện xảy ra  vào năm 1970 mùa học quân sự tại bãi bắn trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam với huấn luyện viên vũ khí là Đại uý Tôn. Tầm bắn là 250 m.


    Sau khi học lý thuyết về súng SKZ, đại đội B Khóa II, được bắn đạn tập lần lượt từ học viên một.

Sau khi nộp đạn vào súng 57 đặt trên chân ba càng, phụ xạ thủ của tôi là NT2 Kiều Bằng vỗ vào nón sắt báo hiệu xong, tôi nhìn vào  ống nhắm thẳng vào mục tiêu là cây thông, bóp cò. Sau một tiếng vào cây thông, khói bay nghi ngút, cách mặt đất 3 mét. Đại úy Tôn ra lệnh: Anh bắn cho tôi thêm một phát nữa vào mục tiêu cũ.


    Sau khi nhận lệnh và NT2 Kiều Bằng vỗ vào nón sắt tôi đội trên đầu, thấy qua ống nhắm và đưa vào chỗ khói viên đạn trước còn bốc ra, tôi bấm cò lần nữa và phát đạn trúng ngay vào mục tiêu trước. Cả đại đội lúc đó đều cười ồ.


    Cũng trong những tháng cuối khóa, tôi còn một chuyện nữa xin kể ra đây để các bạn giải trí:


    Trong lần tập bắn súng cố 81 ly tại thung lũng. Súng đặt sẵn phía sau sườn đồi. Bên kia là phần còn lại của đại đội thêm máy vô tuyến để gởi yếu tố điều chỉnh về xạ thủ là tôi và Kiều Bằng. Trong suốt khóa, tôi và Kiều Bằng hoán đổi vị trí nhau khi học tập bắn. Súng đã đặt sẳn, nhiều người đã bắn quá. Đến phiên tôi bắn trái đạn đầu tiên và nhận được yếu tố điều chỉnh từ huấn luyện viên, tôi thực hành và đến trái đạn thứ 2, nhận được báo cáo là đã trúng mục tiêu. Đại úy Tôn ra lệnh bắn hiệu quả 15 trái. Đạn đã lột vỏ sẵn đặt kề bên súng. Tôi lần lượt bỏ từng trái đạn vào nòng súng và hụp đầu dưới nòng súng để khi phải nghe tiếng nổ phát ra. Đến trái đạn thứ 7, toán xạ thủ nhận được báo cáo là mục tiêu đã bị tiêu diệt, bạn Kiều Bằng lên tiếng:


- Cho tao bắn với Viên.


    Tôi đồng ý hoán đổi vị trí. Khi Kiều Bằng sắp bỏ trái đạn đầu tiên thì phụ tá huấn luyện viên vội lên tiếng cảnh báo:


-  Coi chừng nó bỏ đạn ngược.


    Nhưng hoàn toàn không có gì đáng tiếc xảy ra. Sau khi bắn hết số đạn còn lại, chúng tôi nhận được báo cáo từ toán tiền trạm là mục tiêu đã được san bằng. Một người bạn đến gần súng dìu tôi đến một gốc thông gần đó ngồi nghỉ. Lúc đó, tai tôi không còn nghe được tiếng thông reo nữa.


    Hai câu chuyện trên đây là nhưg kỷ niệm khó quên của tôi  và chỉ có Kiều Bằng biết rõ và một tập thể chứng kiến là đại đội B Tiểu đoàn I/SVSQ/CTCT vào năm 1970.


  Bạn Kiều Bằng, giờ này anh ở đâu? Ớ, ờ, ơ, anh ở đâu? anh ở đâu?


BBT: Nhắn riêng với Nguyễn Tấn Viên: NT2 Kiều Bằng đã tử trận tại SĐ 23BB.


CAN YOU DRIVE


    Đó là câu hỏi tiếng Anh mà trung úy cố vấn Lee hỏi tôi khi tôi muốn mượn chiếc xe Jeep lùn M151A tại Văn phòng Ban Cố Vấn chi khu Kiên Long (Chương Thiện) vào một buổi chiều khi tôi phục vụ tại đây (khoảng năm 1972).
    Khi đó đã hết giờ làm việc mà trung tâm hành quân được báo là có một khẩu 155 đã được trực thăng Chinook đặt xuống sân bay trước văn phòng quận và cần phải kéo gấp vào phía trong vòng rào chi khu. Phải khoảng 10 người mới có thể di chuyển nỗi khẩu súng này. Không còn tài xế nào ở đó. Trung tân Hành quân kêu tôi làm việc này. Do có bằng lái xe dân dụng trọng tải dưới 3.5 tấn, nên tôi không từ chối.


    Khi tôi bước lên sân gỗ trong nhà cố vấn thì trung úy Lee xuất hiện  và tôi chỉ chiếc xe đang ở  trước sân rồi ấp úng nói vài tiếng Anh, “I need”  và Lee hỏi lại tôi câu nói trên và sau đó tôi đáp lại dứt khoát: “I can” và Lee gật đầu đồng ý ngay.
    Sau khi lái xe ngoằn ngoèo giữa các hàng dây kẽm gai và khi ra đến sân bay thì tôi gặp một sĩ quan trẻ cấp úy sấp sỉ tuổi tôi lúc đó và có ý định giữ tay lái. Tôi hỏi kỹ lại là xe Jeep kéo súng này nổi không thì vị sĩ quan này trả lời là được. Tôi nói với người đó lên ngồi bên cạnh để tôi lái cho. Anh ra sau xe rồi bảo tôi cho xe lùi lại  1 mét nữa. Tôi làm đúng theo hướng dẫn rối người này móc vòng càng súng vào móc sau xe rồi lên ngồi ghế bên cạnh tôi. Sau khi lái bọc một vòng hơi rộng  trên sân bay,  tôi kéo khẩu súng vào bên trong quận một cách an toàn, đặt đúng vị trí yêu cầu, không có gì đáng tiếc xảy ra.


    Bây giờ tôi nghĩ lại không nên kéo súng nặng như vậy lên dốc cầu. Chiếc xe nhà phía trước sẽ bị bẫy bật lên và tai nạn không tránh khỏi. Vì không chuyên về pháo binh nên tôi không biết  trọng lượng khẩu 155 ly, riêng trọng lượng xe hepp là 255 kg.


   Trước khi ban cố vấn rút theo Hiệp Định Paris (1972) Trung úy Lee phong tặng tôi danh hiệu “Trung úy Coyboy” mặc dầu nói tiếng Việt không rõ ràng, nhưng tôi biết là Lee  nói đến tôi do kết quả cuộc đấu mặt đấu súng  trường M.16  với Việt Cộng trước đó.

Kỷ niệm khó quên với tôi trên đất nước Hoa Kỳ

    Khi các bạn đọc bài này  thì tôi đã định cư tị nạn  tại Harrisburg, Pennsylvania, thành phó cao nguyên gần Philadelphia, thủ phủ Kinh Tế Tài Chánh miền Đông nước Mỹ.

    Sau một năm xử dụng xe đạp và xe bus đi làm job hàng ngày và mùa đông tuyết dày quá lạnh, có mùa đông nhiệt độ thường - 10 độ C và tuyệt ngập đầu gối người. Trong thời gian NT2 ĐVV hướng dẫn tôi lái xe trên xa lộ và cũng là nhu cầu không thể thiếu, nên tôi thi lái xe lại.


    Như đã nói phần trên là tôi đã có bằng  lái xe dân sự VN năm 1966, nhưng khi thi thực hành thì tôi phải thi 6 lần mới đậu ở Mỹ.
Bốn lần ở Penn Dot và 2 lần ở Lebanon, chỗ sau này dễ đậu hơn do cố vấn NT2 ĐVV tận tình giúp đỡ.


    Thời gian học lái xe kết thúc sau khoảng 8 tháng, một thời gian kỷ lục để được một bằng lái xe tại Mỹ. Đến cuối tháng 11/09 tôi mua được chiếc xe Honda 94 cũ. Chưa đến 1 tháng sau thì có một tai nạn đáng tiếc xảy ra. Giữa tháng 12, đã có tuyết dày, bầu trời u ám mà lại có mưa đá bằng đầu ngón tay. Lúc đó vào khoảng 9:AM, tôi lái xe đỗ dốc xuống chữ S, từ Leymona về Harrisburg đường Market. Do không chú ý đến bảng cảnh báo hình vuông dựng xéo góc nhọn, màu vàng chữ đen 15 m/p/h dựng cố định từ lâu (bình thường hoặc mưa có thể cho xe tốc độ 25 m/p/h vẫn an toàn và xe nào cũng thế) vã lại lúc đó đường trơn như tấm kiếng có thoa mở nên tôi đạp embrayage và đạp thắng, nhằm khúc quanh, xe tông vào bờ lề. Tưởng không có gì, tôi rồ ga và sang số như thường lệ. Mâm xe bên phải đã móp kẹp vào bên trong dính chặt mâm thắng nên xe nhúc nhích được vài chục mét rồi cháy khét tục kết. Lúc đó, những xe khác dù leo dốc hay đỗ dốc đều bị tuôn bánh.


    Sau đó nhờ một người bạn gọi cầu cứu 911, tôi treo khăn trắng ở cửa tài xế và bỏ xe bên vệ đường. Tổn phí tai nạn này là 810$.


    Thành thật cảm ơn NT1 Lê Văn Cước và NT2 Nguyễn Thế Hiếu đã đáp lại lời cầu cứu của tôi, huy động các bạn giúp cho tôi một số tiền rất khá để trang trải chi phí trên. Đến nay tôi đã lái xe an toàn và tự tin hơn nhờ kinh nghiệm này.
   Bài viết này nhằm cảm ơn chung các bạn đó.

   Sẳn đây, sau khi xem TV các tai nạn giao thông, tôi nhận thấy khi xe chạy với tốc độ 65m/p/h trên xa lộ mà nếu xe trước đã ngừng nhưng không đạp giữ thắng nên đèn báo phía sau không cháy đỏ mà xe sau phóng thẳng vào vì quá lơ đểnh khi vận tốc xe cao (104m/p/h) và có thể 3 xe sau nữa cũng cùng chung số phận thì tai nạn thảm khốc xảy ra. Xe sau ủi vào xe trước là một lỗi không có lý do bào chữa vì không làm chủ được tốc độ phương tiện di chuyển của mình.


NT2 Nguyễn Tấn Viên
(PA)