Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2011 TUỔI THẦN TIÊN

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

TUỔI THẦN TIÊN

In PDF.

 



Tuổi thần tiên nép trong tay mẹ hiền…
Tuổi thần tiên lắng nghe cha ngọt ngào…
P.D.


       Tôi có con nhỏ bạn thời còn đi học mà bọn tôi gọi nó là “con bé củ khoai”. Bởi vì cứ mỗi lần bọn tôi ngồi kể lại chuyện hồi thơ ấu thì nó cứ buồn buồn nói một câu như một điệp khúc: “Tuổi thơ của tau tội nghiệp lắm mi. Nhà tau nghèo lại đông con. Tau là chị của một đàn em nheo nhóc. Có ai có thời gian để chăm sóc, lo lắng cho tau đâu. Tau  đã lớn lên như củ khoai rứa mi nợ”. Rồi nghe tôi kể chuyện hồi nhỏ của tôi, nó lại hếch mũi lên cười hít hít rồi nó nói “ Vui quá đi, mi đúng là con ngố”. Vậy đó, mỗi người trong chúng ta đều có một góc trời thơ ấu riêng. Dẫu vui, dẫu buồn nơi ấy cũng là nơi chốn có nhiều kỷ niệm khó quên…


    Tôi nhớ lại năm tôi còn nhỏ xíu, anh Hai tôi đã là thầy giáo. Tôi thường hay nhìn anh Hai tôi ngồi viết. Anh có thói quen cứ mỗi lần viết đầu anh lại nghiêng nghiêng về một bên. Cái cằm cứ đưa lên hạ xuống theo từng nét chữ. Miệng anh lại méo qua bên nầy, méo về bên kia. Thỉnh thoảng cái tay cầm viết của anh Hai tôi lại đập đập xuống bàn. (Sau nầy tôi mới biết là anh đã làm như vậy ở mỗi dấu chấm hay dấu phảy). Cái thói quen của anh Hai tôi chả đẹp chút nào thế mà tôi lại say sưa nhìn. Với cái trí óc non nớt của tôi ngày ấy, tôi đã nghĩ rằng chỉ có những người biết chữ mới làm được như vậy. Từ đó cái ước ao được đi học, được biết  chữ háo hức trong tôi.  Một lần nhân lúc anh Hai tôi vắng nhà, tôi đã bắt ghế leo lên bàn lén lấy viết và vở của anh Hai tôi ra viết.


    Tôi cũng viết đầy cả vào những trang sách của anh. Cái chữ tôi viết chỉ là những đường gãy hình “dích dắc” nhún lên nhún xuống chẳng ra chữ gì! Lúc anh Hai tôi phát hiện được tôi lại bị ăn đòn. Mẹ tôi thấy vậy nên sắm cho tôi quyển vở và cây bút chì. Mẹ tôi viết vào vở những nét sổ dọc mờ mờ thẳng hàng để tôi đồ đậm lên. Dần dần tôi đã học được mấy con chữ cái. Viết được chữ i, chữ t… Mẹ tôi đã trở thành người thầy đầu tiên dạy tôi biết chữ lúc nào mà mẹ tôi không hay. Những nét bút chì cứ mờ mờ đã làm tôi không thích nên mỗi lần viết tôi thường liếm nước miếng vào đầu bút chì cho nét chữ đậm hơn. Cứ thế cho nên quyển vở của tôi càng ngày càng ỉu mềm. Mẹ tôi lại thay vở mới cho tôi và mẹ tôi đã thay không biết bao nhiêu lần vở! Năm sau mẹ tôi cho tôi vào học lớp vỡ lòng của thầy Dụng. Trường học cách nhà tôi chừng vài trăm mét. Hằng ngày ở nhà tôi vẫn nghe rõ mồn một tiếng trống trường. Nghe nói được đi học tôi mừng lắm. Chẳng chờ mẹ đưa đến trường. Tôi ôm vở chạy theo con Dương con ông Trí ở đầu chợ để đến trường. Thầy Dụng đón tôi ở cửa lớp. Thầy Dụng lại là người anh rễ chồng bà chị con ông bác tôi. Bởi vậy ngày đầu tiên đến trường tôi không có sự bỡ ngỡ, rụt rè. Thêm vào đó là chút vốn liếng “chữ nghĩa” mà mẹ tôi đã bày dạy thời gian qua ở nhà, tôi tự tin và bạo dạn để hòa nhập vào môi trường mới. Rồi ngày tháng trôi qua tôi cũng được lên lớp năm (lớp một bây giờ). Tôi bắt đầu làm quen với cây viết mực. Niềm ước mơ của tôi đã là sự thật. Nhưng người lớn ngày đó hay nói phải tập viết với ngòi viết “lá tre” thì chữ mới tốt được. Mẹ tôi cũng nói vậy nên mẹ tôi sắm cho tôi cây bút với ngòi viết giống hình cái lá tre . Tôi tập viết bút mực thật khó khăn vì ngòi viết cứ xóc vào mặt giấy. Cố gắng cách mấy tôi cũng làm gãy ngòi bút mỗi ngày. Sau nầy mẹ tôi đổi lại cho tôi dùng loại ngòi bút hình bầu bầu . Dùng loại ngòi bút nầy tôi tập viết đỡ hơn. Còn mực thì khỏi nói. Mỗi ngày mẹ tôi phải hòa cho tôi một bình mực. Không biết sao mà mỗi ngày đi học về mặt mày, quần áo của tôi đều lem luốc cả mực!  Lúc ấy đến trường tôi rất vui vì có được nhiều bạn bè. Đứa nào cũng thích chơi với tôi vì tôi luôn thể hiện lòng tốt giúp đỡ bạn bè như bài đức dục mà thầy tôi đã dạy. Đứa nào thiếu cái gì là tôi sẵn sàng chia xẻ. Đặc biệt là mực, ngày nào tôi cũng có đầy bình. Đứa bạn nào thiếu mực là có mực của tôi đây. Có đứa biết điều trao đổi cho tôi vai cây kẹo ú hay ít sợi dây su (thun), có đứa “cáo già” hơn, hồi nào cũng thiếu mực. Chính ba cái chuyện sang qua sớt lại nầy mà tôi như cô bé lọ lem vấy đầy mực mỗi buổi tan trường. Chiều nào mẹ tôi cũng dắt tôi ra sau bếp để rửa ráy cho tôi và lần nào mẹ cũng nói có một câu “Gớm! Sao mà bôi cái mặt như con mèo như ri chớ”. Lúc nầy tôi cũng đã đọc thông viết thạo. Tôi đã tự hào trong lòng là tôi đã biết chữ. Và tôi cũng hí hố lắm. Về nhà thấy chỗ nào có chữ viết là tôi đọc liền. Một lần tôi đã vô tình phát hiện được cái điều bí mật của anh Hai tôi nhờ vào chỗ tôi đã biết chữ. Lâu nay tôi thấy anh Hai tôi thay đổi lắm.Anh hay ngồi trầm ngâm một mình. Điều làm tôi chú ý là thỉnh thoảng thấy anh Hai  nhai nhóp nhép trong miệng (ngày đó đâu đã có kẹo su nên tôi để ý  là đúng) nhưng chẳng biết đâu mà tìm hiểu vì bộ óc tôi còn non nớt quá.  Tình cờ một hôm đi ngang qua bàn viết của anh Hai. Anh Hai tôi có cái bàn viết bên dưới có nhiều ngăn kéo như cái tủ nhỏ. Tôi thấy có mấy con kiến bò ra bò vào. Nhân lúc không có anh ở nhà tôi tò mò kéo ngăn kéo của bàn ra. Tôi sáng mắt ra nhìn. Ồ! anh Hai tôi có cả nguyên một hộp bánh đậu xanh được làm giống như những viên kẹo. Bánh được bọc bởi những tờ giấy pelure đủ màu: xanh lơ, hồng nhạt, vàng nhạt (màu sắc thật lãng mạn) được cắt tua tua ở hai đầu. Anh Hai tôi đã ăn hết đi một phần rồi (tôi nghĩ mà tức vì anh Hai tôi đã ăn lén mà không chia cho em út , lần sau dừng có hòng mà sai tôi làm cái nầy làm cái khác). Nhưng thật lạ, ai ăn kẹo bánh cũng vứt giấy gói vào sọt rác sao anh Hai tôi lại xếp cất cẩn thận  từng tờ giấy gói bánh nầy lại.


    Tôi táy máy mở từng tờ giấy gói bánh hồng hồng , xanh xanh đó ra xem. Trên mỗi tờ giấy đều có viết chữ.  Với trình độ đọc viết của tôi lúc nầy thì  đọc mấy chữ nầy thật là dễ ợt. Tôi đọc được mấy tờ đã có ghi mấy câu “Em yêu anh”, “Nghĩ về anh”, “Anh làm gì đó”, “Nhớ em không”… Tôi đọc được nhưng không hiểu nhiều vì có nhiều câu không có trong bài học của tôi. Cái mà tôi thắc mắc là tại sao anh tôi lại cất mấy miếng giấy nầy lại và ở đâu anh có mấy viên bánh nầy. Tôi cũng muốn ăn thử một cái nhưng sợ anh Hai tôi nên không dám. Tôi cẩn thận cất lại chỗ cũ. Hôm sau trong lúc ngồi ở bàn ăn tôi sực nhớ ra những chữ mà tôi đã đọc được hôm qua. Tôi đọc lên thật vô tư để chứng tỏ là mình đã biết được nhiều chữ chứ không hề có ý đồ trêu ghẹo anh Hai vì lúc đó tôi chưa đủ già dặn để làm vịêc đó. Tôi mới mở miệng đọc mấy chữ “Em yêu anh” thì anh Hai tôi ngừng nhai, bỏ đũa xuống, xô ghế đứng dậy rồi chạy biến lên nhà trên trước sự ngạc nhiên của cả nhà. Chỉ có tôi hiểu được vì thái độ của anh Hai đã nhắc nhở tôi nhớ lại câu chuyện hôm qua. Bữa khác anh Hai tôi kêu tôi lại rồi nói “Im cái miệng mầy nghe, không được nói với ai” Thấy tôi tỉnh queo, anh lấy trong túi đưa cho tôi cái bánh (kẹo) đó. Tôi lột ra ăn và đưa trả cho anh hai tờ giấy gói như là một người đã biết chuyện. Tờ giấy gói nầy không có chữ nào hết, và bánh thật là thơm ngon. Tôi thầm nghĩ biết chữ cũng có lợi và làm thinh cũng là thượng sách. Dại gì nói ra đã mất được ăn bánh mà không khéo lại bị ăn đòn. Cái người làm bánh thơm ngon, gói bánh đẹp đó sau nầy là chị dâu của tôi. Chị ở thành phố nên cách thổ lộ tình yêu cũng thiệt là văn minh vào thời điểm ấy.


   Lại thêm một chuyện kỳ cục nữa, không biết sao người lớn thời ấy có nhiều qui luật (hay thói quen? Tôi không biết nữa) khi tập viết bút mực thì phải viết bằng ngòi viết “lá tre” - khi nhỏ tóc phải cạo trọc hay hớt “ca-rê” để sau nầy tóc mới tốt – như vậy để bước vào giai đoạn để tóc “bôm-bê” là phải chịu cắt tóc thiệt là ngắn.


Tôi cũng bị mẹ tôi dắt xuống ông Hiển thợ cắt tóc gần nhà cắt tóc theo kiểu “ca-rê” (may mắn là không bị cạo trọc lóc). Mấy năm học đầu tiên của chương trình tiểu học, tôi đi học với cái đầu trụi lũi giống như con trai.


     Gần hè năm học lớp Năm, trong giờ hoạt động ngoài trời, thay vì ở ngoài sân, thầy giáo dắt tụi tôi ra tập họp trong cái đình làng sau trường. Cả lớp được một nhóm người lạ đến nói chuyện.  Một người trong đám người lạ đó mặc bộ đồ đen, lúc nói chuyện xưng với tụi tôi là cha (Sau nầy tôi mới biết là những người nầy trong đạo Công giáo đi truyền đạo. Vì lúc ấy quê tôi đạo Công giáo chưa phát triển, chưa có nhà thờ). Người mặc áo đen giảng nhiều lắm nhưng trí óc non nớt của tôi không nhớ, không hiểu hết. Cuối cùng người đó hỏi cả lớp  “Như vậy các con có biết ai là người lớn nhất, có nhiều quyền năng nhất trong chúng ta ..?”. Tôi không hiểu nãy giờ người ấy giảng những gì, nhưng hỏi ai là người lớn nhất, nhiều quyền năng nhất trên đời thì tôi lơ mơ đoán được. Vốn dạn dĩ và cũng có tài lanh nên tôi suy nghĩ là thường ngày nghe mẹ tôi hay than “Trời ơi!” mỗi khi có việc không may, hay mẹ tôi hay nói “Trời có con mắt” nên tôi giơ tay đứng lên nói: “Dạ con biết, đó là ông Trời”. Mọi người cùng “ồ” lên rồi vỗ tay khen tôi: “Giỏi, con nói đúng đó. Đó là đức Chúa Trời”. Người mặc áo đen chạy lại ôm tôi vào lòng, tay ông xoa xoa cái đầu trụi lũi tóc của tôi. Rồi người ấy lấy trong đồ đoàn đem theo tặng tôi một ổ bánh mì thật lớn. Cả lớp chẳng đứa nào trả lời được câu nào nhưng “ăn theo” tôi, mỗi đứa cũng được tặng một ổ bánh mì. Tản mát trên đường làng, bọn tôi ra về tay ôm ổ bánh mì lớn ai cũng quở, cũng hỏi. Lúc tôi về nhà hí hửng khoe cái ổ bánh mì. Mẹ tôi hỏi ở đâu mà có. Tôi chẳng biết trả lời thế nào, chỉ biết nói “của ông mặc áo đen cho”.


    Sau nầy khi tôi lên lớp Tư (lớp 2 bây giờ), Ba tôi được chuyển công tác về gần nhà. Ông làm Hiệu trưởng liên trường ở đây.  Ngày nào ba tôi cũng chứng kiến cái mặt lọ lem của tôi mỗi buổi tan trường. Chắc Ba đã cảm thông được cái nỗi vất vả của mẹ đã chăm sóc cho tôi trong những ngày Ba vắng nhà. Ba tôi thường xuyên đi công tác về ty Giáo dục (Ty Giáo dục hồi đó ở Hội An). Mỗi lần đi xa về, ba tôi lại có quà cho tôi. Qùa của Ba cho lúc nào cũng đẹp, cũng lạ mắt. (mang hơi hám của thành phố). Đến giữa năm học, trong lần đi công tác về  Ba mua cho tôi cái bình mực. Ba nói cái bình mực nầy không đổ (chắc cái mặt lọ lem của tôi đã đi vào nỗi ưu tư của ba). Cái bình mực lớn hơn quả trứng vịt một chút và bóng láng màu nhựa mới. Phần trên có màu hồng mã não, phần dưới là màu nhựa trong có thể nhìn thấy ngấn (vạch) mực bên trong. Nắp bình có quai xách. Nghe nói cái bình mực nầy không đổ tôi háo hức lắm và đi hòa mực đổ vào bình. Cả nhà xúm lại xem. Tôi chúc lên chúc xuống bình mực, nghiêng qua nghiêng lại. Quả thật không có giọt mực nào bắn ra ngoài (Ai đó đã có sáng kiến làm một cái cù lao bên trong bình mực nên lúc chúc xuống hay nghiêng qua mực cứ dạt vào 2 bên thành bình thì làm sao mực rơi ra ngoài được!). Tôi sung sướng và hãnh diện với bạn bè với món quà của Ba cho. Nhưng người vui nhất phải nói là mẹ tôi. Từ nay mẹ tôi đỡ phải hòa mực cho tôi mỗi ngày. Rồi cái tin đồn về cái bình mực không đổ của tôi lan nhanh trong trường.  Các bạn bè cùng lớp, các anh chị lớp lớn và cả  các thầy cô trong trường cũng tìm đến xem cái điều kỳ lạ của cái bình mực nầy.  Báo hại cho tôi, trong thời gian đầu trong giờ ra chơi, thay vì ra sân vui đùa  cùng chúng bạn, tôi lại phải ngồi lại trong lớp để canh chừng cái bình mực. Dần dần cái bình mực không đổ cũng đã phổ biến và lác đác vài đứa bạn trong trường tôi cũng có nhưng kiểu cách dáng dấp khác hơn cái bình mực của tôi.



   Theo năm tháng, tuổi thơ của tôi lớn dần trong vòng tay yêu thương chăm sóc của ba mẹ. Ba tôi tính thường nghiêm khắc. Tình cảm yêu thương con cái ít bộc lộ ra ngoài. Các anh chị tôi ai ai cũng kính nể hay nói khác hơn là rất sợ, chẳng ai dám cãi lại Ba tôi một lời. Chỉ có  riêng tôi cứ ỷ mình là con út luôn được nuông chiều nên môt đôi lần bướng bỉnh dám cãi lại lời Ba. Tôi còn nhớ một lần vào buổi tối, tôi đang ngồi ở bàn học để học bài khoa học thường thức. Bài học nói về con rắn. Mở đầu bài học là câu: “Rắn là loài bò sát không có chân”. Tôi cất giong ê a đọc bài: “Rắn… rắn… rắn là loài bò… loài bò… sát không chân … sát không chân”. Tai tôi nghe tiếng ba mẹ của con Trâm bạn tôi ở trước nhà nói chuyện với nhau (Nhà con Trâm ở trước mặt nhà tôi chỉ cách nhau con đường lộ như khoảng sân nhỏ). Tiếng bà Ng. nói với ông Gi. “Ông coi kìa, con út thầy Trợ học hành chăm chỉ rứa đó. Con Trâm nhà mình mới bi chừ đã quấn chiếu ngủ mất rồi”. Nghe được câu nói của bà Ng. tôi khoái chí lại cất cao giọng ê a “ Rắn… rắn… rắn là loài bò…loài bò… sát  không chân… sát không chân”. Tôi đọc hoài nhưng chẳng thuộc được chữ nào. Bỗng tôi nghe tiếng guốc của ba tôi lớn dần từ nhà trên xuống nhà ngang. Rồi đến chỗ tôi ngồi học. Tiếng guốc dừng lại và tiếng Ba tôi nói như hét “ Hừm! Học cái kiểu chi lạ vậy?  Phải đọc cho hết câu, hiểu ý của cả bài mới mau thuộc được. Mầy học cái kiểu nầy đến sáng cũng chưa thuộc được bài. Ai, ai dạy mầy cái kiểu học đó?”. Tôi đang ê a đọc bài ngon trớn bị Ba tôi cắt cái rụp nên bực mình và bướng bỉnh trả lời Ba tôi “Dạ! Dạ… Thầy con biểu học rứa đó”        Giận quá Ba tôi “Hừm” một tiếng rồi bỏ lên nhà trên. Khi tiếng guốc của ba tôi xa dần tôi tiếp tục ê a đọc tiếp, nhưng tôi chẳng thuộc được chữ nào.  Học được một chặp, tôi thấy mất hứng thú nên xếp vở lại, tắt đèn, leo lên giường trùm mềm để ngủ. Tôi tưởng nói bướng như vậy là xong, là yên chuyện. không ngờ sáng hôm sau, trong giờ tập viết, cả lớp đang yên lặng viết bài. Bất ngờ ba tôi xuất hiện trước lớp. Thầy tôi đứng dậy ra cửa tiếp chuyện với Ba tôi. Hai người đang trao đổi chuyện gì với nhau tôi không biết nhưng tôi thấy thỉnh thoảng thầy tôi lại nhìn tôi cười cười. Tim tôi đập mạnh và như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.  Hai tay tôi rịm ướt mồ hôi. Tôi đã cố gắng thật nhiều nhưng nét chữ viết của tôi vẫn run run. Giờ ra chơi thầy tôi kêu tôi lại bàn thầy. Thầy tôi ôn tồn nói với tôi: “Trò không được cãi lại lời của ba trò, Về nhà trò phải xin lỗi ba nghe chưa. Trò không được tái phạm nữa, trò có nhớ không?”. Rồi thầy nhắc lại cho tôi cách học bài , cách đọc một câu khi có dấu chấm dấu phết. Tôi cúi đầu lí nhí  “Dạ! Con nhớ”. Và nước mắt rưng rưng. Thầy tôi cười cười, xoa đầu tôi và cho tôi ra sân chơi. Nụ cười bao dung của thầy đã làm tôi nhớ mãi đến bây giờ. Từ đó tôi đã hiểu được Ba tôi đã thương yêu chăm sóc chu đáo cho tôi và cũng đã nghiêm khắc giáo dục tôi chứ không nuông chìu tôi như tôi tưởng. (Sau nầy lũ nhóc học trò của tôi cũng đã dùng cái “chiêu” mà tôi đã dùng để đối phó với cha mẹ để tôi phải bị phụ huynh đón đường mắn vốn, nhưng tôi không bực mình hay khó chịu vì hiểu được đó là cái “luật nhân quả” mà tôi đã tạo ra…).


   Thời gian đi thật nhanh, rồi tôi đã học xong chương trình tiểu học và thi đậu vào lớp đệ thất của trường trung học TCV ở thị xã. Lớp tôi thi đậu được 2 đứa (tôi và một thằng bạn ở xóm trong). Các anh chị lớn đa số ở nhà làm ruộng, lấy vợ, lấy chồng. Bọn học trò nhỏ nhỏ như tôi thi không đậu thì vào học trường tư thục. Ba mẹ tôi rất vui. Riêng tôi xen lẫn niềm vui là cái lo lắng. Một khung trời mới đang mở rộng ra chào đón tôi. Trường trung học cách xa làng quê tôi 8 cây số nên đây là lần đầu tiên tôi phải xa nhà. Để chuẩn bị cho năm học mới, Ba tôi  mua tặng tôi chiếc cặp da và một cây viết pilot màu hồng hồng như cái bình mực không đổ mà ba đã tặng tôi ngày nào. Mẹ tôi dắt tôi lên ông thợ may ở đầu chợ may cho tôi một bộ quần áo dài trắng mới (nếu mà biết “điệu điệu” như sau nầy chắc tôi không chịu để mẹ dắt đi may ở ông thợ nầy đâu vì ở quê có khi nào ông may áo dài đâu). Chị tôi mua cho tôi một rame vở Cyclo giấy trắng tinh và bao bọc cho tôi thật đẹp.    Ngày khai giảng của năm học đầu tiên ở bậc trung học đối với tôi thật là một ngày trọng đại. Cái cảm xúc của tôi lần nầy mới thật giống cái cảm xúc của nhà văn Thanh Tịnh trong ngày đầu đi học. Trong hơi sương lạnh lạnh của buổi sáng mùa thu, tôi theo chị tôi và mấy người bạn trong nhà trọ háo hức đến trường. Chiếc áo dài bó sát người tôi thẳng đuột từ  cổ đến bụng trông như cái đòn bánh tét. Tay ôm cặp, tay cầm chiếc nón mới. Đôi guốc sơn cứ trật qua trật lại dưới chân tôi. Đôi guốc mà chị tôi mới mua cho tôi chiều hôm qua ở hiệu guốc Mỹ Sơn nổi tiếng ở thị xã. (Tôi chưa quen đi guốc chút nào vì lúc đi học ở quê tôi thường mang dép chứ có mang guốc bao giờ đâu). Cổng trường đông nghẹt học trò. Còn sớm quá nên cổng trường chưa mở. Chị tôi thì tíu tít mừng rỡ gặp lại bạn bè sau “chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê”, còn tôi và một số học trò “ở nhà quê lên tỉnh” đứng khép nép bên cổng trường. Tôi tò mò dõi mắt vào bên trong. Ngôi trường mới nầy đối với tôi trang nghiêm quá. Các thầy cô đang lăng xăng đi lại trên hành lang. Ở góc trường, gốc đa già có rễ to treo lòng thòng và bò ngoằn nghoèo như những con rắn. Bóng đa, tàng lá xum xuê xòe ra che mát cả dãy phòng học sát cổng trường. (Gốc đa nầy đã đi vào ký ức kỷ niệm của bọn học trò chúng tôi sau nầy khi nhắc về mái trường xưa). Tôi đang miên man quan sát ngôi trường, bỗng dưng có ai đó gọi tên tôi (cái tên cúng cơm ở nhà) “S.! S.”. Tôi nhìn theo hướng phát ra tiếng  gọi và giật mình khi thấy Ba tôi đứng bên kia đường. Một tay đặt trên ghi-đông xe đạp, một tay chống nạnh. Đầu Ba đội cái mũ dạ. Bộ đồ Âu màu trắng, ống quần bên phải được xắn lên cao (Ba tôi thường cẩn thận làm như vậy để được an toàn và không bị xích xe đạp cắn lủng hay làm dơ quần). Tôi mừng muốn khóc vì đã một đêm rồi tôi xa nhà , xa Ba Mẹ. Tôi muốn chạy nhanh đến với Ba nhưng đôi guốc không cho phép tôi thực hiện ý muốn. Tôi đi chậm chậm đến bên Ba hỏi vội: “Ba xuống chi sớm rứa?”. Ba tôi không trả lời, Ba mở cái túi vải treo ở ghi-đông xe đạp lấy ra đưa cho tôi cái bình mực Pilot. Thì ra tôi đã để quên nó khi dọn hành trang xuống nhà trọ chiều hôm qua.  Cầm lấy bình mực tôi hối hả nói với Ba vì sợ bạn bè thấy được tưởng tôi còn “mè nheo mít ướt”. “Con có đủ mực rồi, thôi Ba về đi”.  Ba tôi nhìn tôi cười cười như hiểu ý rồi ba nói “Được rồi, Ba về bây giờ đây”. Tôi quay trở lại cổng trường rồi theo đám bạn  vào lớp, không quay lại nhưng tôi vẫn biết Ba tôi vẫn còn đứng đó nhìn theo tôi. Cô bé học trò nhà quê “ngô ngố” nay đã là cô nữ sinh trường trung học TCV ở thị xã.  


   Năm tôi học lớp đệ thất cũng là năm mà phong trào Phụ nữ liên đới và Thanh niên Cộng hòa của bà Ngô Đình Nhu lên cao. Trong ngày lễ Hai Bà Trưng năm đó, bọn học sinh nữ trường tôi được lệnh tham gia đầy đủ trong lễ trại nầy.  Thời gian cắm trại là 2 ngày một đêm, Địa điểm cắm trại ở ngay trước cổng tỉnh đường. Khoảnh đất nầy trước đây là một cánh đồng ruộng, bây giờ nằm trong phạm vi của tòa tỉnh. Tôi chưa bao giờ được tham dự vào sinh hoạt như thế nầy nên cảm thấy thích thú lắm. Buổi tối ở trại bọn nữ sinh tụi tôi chẳng đứa nào dám trốn trại về nhà. Sau khi phần văn nghệ và  đốt lửa trại chấm dứt, chúng tôi kéo nhau về ngủ ở lều trại của lớp. Chúng tôi nằm sắp lớp chen nhau như cá. Sương đêm lành lạnh cọng thêm cái mùi ngai ngái của bùn non từ dưới đất toát lên đã đưa chúng tôi vào giấc ngủ. Sáng hôm sau, khi còi báo thức của Ban chỉ huy trại nổi lên, chúng tôi tung chăn dậy. Sau khi làm vệ sinh cá nhân, chúng tôi lo dọn dẹp lều trại để BCH trại chấm điểm. Đang lăng xăng làm việc tôi đưa mắt nhìn ra khoảng hàng rào vòng đai của trại. Lố nhố nhiều bóng người và những gánh quà rong bán thức ăn buổi sáng. Tôi nhìn thấy bóng dáng Ba tôi đứng lẫn trong đám người lố nhố đó. Ba tôi cũng nhìn thấy tôi . Ba đưa tay vẫy vẫy. Vẫn như lần trước, Ba tôi một tay vịn ghi-đông xe đạp, một tay vẫy tôi. Cũng ống quần bên cao bên thấp, Ba tôi đã có mặt ở đây từ sáng sớm. Chắc đêm qua Ba không ngủ được vì lo lắng cho chúng tôi. Tôi chạy ra chỗ Ba đang đứng.


Cũng như lần trước tôi vội vã hỏi Ba “Ba xuống chi sớm rứa?” Ba không trả lời mà đưa tay vào túi quần lấy ra một nắm tiền lẻ dúi vào tay tôi, Ba nói “cất đi để ăn quà, chia cho chị con một ít. Thôi Ba về đây, cuối tuần tụi con về chứ?”.  Rồi Ba quay ra về liền. Chắc là ở nhà đang vào vụ mùa. Lần nầy tôi lại đứng yên nhìn theo Ba tôi. Cái dáng Ba lom khom trên xe đạp đã làm lòng tôi cảm thấy bâng khuâng. Bây giờ mỗi lần nhớ lại tôi lại thấy thấm thía với 2 câu thơ của ai đó mà tôi đã đọc được “ Nước biển mênh mông không đong đầy tình Mẹ; Mây trời lồng lộng không phủ kín công Cha”.


    Những năm đầu của chương trình trung học tương đối nhẹ hơn nên tôi không phải lo chuẩn bị bài nhiều vì thế cuối tuần nào tôi cũng về quê. Về để được gần gũi với Ba Mẹ và cũng để kiếm chút tiền để tiêu vặt. Lúc nào ngoài số tiền cố định của mẹ cho Ba tôi cũng cho thêm mỗi đứa một ít tiền lẻ nữa. Những ngày tháng tôi xa nhà đi học xa, mẹ tôi thường dồn hết những đồ vật kỷ niệm thời nhỏ của tôi vào một cái rương nhôm cất chỗ bàn học của tôi.  Mỗi lần về thăm nhà , lúc rãnh rỗi tôi thường mở chiếc rương nhôm đó ra xem, mân mê từng món. Trong rương chẳng có gì quí giá hay to tác cả, thế mà tôi quí lắm. Một bộ thẻ với trái banh tennis mà Ba mua cho trong một lần đi xa về, một chuỗi dài dây su (thun) thắt chập 5 dài như con rắn (tài sản tôi có được trong những lần chơi đá dây su với bạn bè), một bộ nồi niêu, soong chảo mà tôi hay chơi đồ hàng, cúng quảy với bạn bè,  những con vật bằng nhựa thật dễ thương mà tôi đã mua góp nhặt từ cửa hàng của ông hai Dinh trước nhà và nhiều thứ linh tinh. ..Đặc biệt là có cả cái bình mực không đổ của Ba tôi mua cho cũng nằm cả trong rương, bây giờ mực đã khô đóng lại dưới đáy bình…


  Mấy năm sau chiến tranh  ngày càng lan nhanh và quê tôi tràn bóng giặc. Gia đình tôi và bà con ở quê gồng gánh dắt dìu nhau bỏ quê tản cư về sống loanh quanh ở ngoại ô thị xã, bỏ lại sau lưng cái tài sản đã một đời gầy dựng. Bên cạnh cái tài sản lớn lao của ba Mẹ tôi bỏ lại, riêng tôi cái rương nhôm, cái tài sản quí giá thân thương của tôi cũng chẳng còn! Cuộc sống của gia đình tôi thay đổi từ đây. Nàng tiên tưổi thơ của tôi cũng bỏ tôi đi mất! Ba Mẹ tôi buồn lắm. Riêng Ba tôi đã không chịu đựng được với cái biến động lớn lao của cuộc đời nên lâm bệnh… Không bao lâu sau Ba tôi kiệt sức và đã ra đi vào mùa xuân năm Mậu Thân 68.Tôi mơ màng nhớ lại tiếng hát của lũ nhóc học trò tôi thánh thót ngày nào:


“Ba sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa, Mẹ sẽ là bông hoa, cho con cài lên ngực. Ba Mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con…”.


    Lá chắn cuộc đời tôi đã không còn. Ngày ấy tôi vừa 17 tuổi. Mười bảy năm sống bên Ba tôi chưa làm được gì để đền đáp ơn Ba tôi. Chỉ là những tháng ngày vô tư, hưởng thụ những gì Ba tôi đã chăm sóc, lo lắng cho tôi. Thậm chí đến một câu nói cám ơn Ba hay biểu lộ lòng yêu thương đến với Ba cũng không có. Hơn nữa thời đại của tôi lúc đó còn lạc hậu, quê mùa nên chưa ai  có thói quen để làm việc nầy. Cũng như thuở đó, con cái đâu biết ngày sinh nhật của Ba Mẹ để nói một câu chúc mừng cho Ba Mẹ vui. Bởi vậy tôi không có một dịp nào để nói lên được lòng yêu thương Cha Mẹ của mình. Chả bù lại bây giờ , các con của tôi cũng như lớp hậu duệ của chúng ta được may mắn sống trong một đất nước văn minh,  hấp thụ được văn hóa Âu Mỹ, hằng năm có ngày dành cho Cha, ngày dành cho Mẹ… Tụi trẻ có nhiều cơ hội để thổ lộ được tình cảm của mình đối với đấng sinh thành… Mỗi  năm cứ đến ngày sinh nhật của tôi, tiếng điện thoại reo, tôi nhắc điện thoại lên thì nghe tiếng con gái tôi trong veo từ đầu dây bên kia: “A lô! Mẹ đó hả, con đây nè, Bé lớn đây mẹ! Con gọi về chúc mừng Mẹ ngày sinh nhật vui vẻ. Con mới vừa ra khỏi chỗ làm nên gọi về Mẹ hơi trể. Ba Mẹ có khỏe không? Mẹ làm chi đó? Mẹ chuẩn bị đi ngủ chưa? Thôi chúc Mẹ ngủ ngon há. Ngày mai con gọi lại. Mẹ ơi! Nhớ Mẹ quá hà! Con bye Mẹ!”.  Giờ giấc hai miền đông tây nước Mỹ khác nhau nên mỗi lần con gái tôi gọi về thường trể. Nhưng không sao! Chỉ chừng đó thôi cũng đủ làm cho tôi vui cả buổi tối. Làm cha mẹ chẳng đòi hỏi nhiều nơi con cái. Chỉ một chút xíu quan tâm cuả con cái cũng đã đem lại niềm vui cho cha mẹ rồi (Ấy thế mà cũng có người quên mất để cha mẹ phải buồn lòng!). Thế nhưng niềm vui của tôi cũng không được trọn vẹn! Tấm lòng người mẹ thương con thường hay suy nghĩ vẫn vơ. Tôi lại nghĩ về con tôi. Con gái tôi như cộng cỏ nhỏ cố gắng vươn lên để vượt qua cơn lốc xoáy của cuộc đời… Lại hồn nhiên để sống, để đem lại niềm vui cho tôi. Còn tôi tự trách mình – Một người mẹ bất lực – Không làm được gì cho con như Mẹ tôi đã từng làm cho tôi… Tôi lại thao thức nghĩ về Ba tôi, về Mẹ tôi…Phải chi bây giờ còn Ba tôi, còn Mẹ tôi bên cạnh tôi cũng sẽ nói với Ba Mẹ tôi: “Ba Mẹ ơi! Con xin cám ơn Ba Mẹ đã cho con một thời thơ ấu thật tuyệt vời…”


Charlotte, Xuân Tân Mão 2011
Nguyễn Thị Duy    
(nàng dâu NT1 Trần Kim Khôi)