Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai GÓP MẶT ÂM THẦM

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

GÓP MẶT ÂM THẦM

In PDF.

 



Đêm cuối ở trường bộ binh Thủ Đức, thiếu úy Lê văn Vũ - sĩ quan cán bộ trực đại đội 22  kín đáo canh thức đám Sinh Viên Sĩ Quan vừa hoàn tất thủ tục bàn giao để đi trình diện đơn vị mới. Vào giờ nầy thì doanh trại vắng hoe vì phần lớn anh em đã bung ra tuyến phòng thủ với đầy đủ trang bị tác chiến như mọi khi. Ông ta ngại anh em sẽ nhậu đã rồi bốc sảng.  Quân số họ đã trực thuộc bộ về tổng tham mưu và đang chấm dứt mọi sự liên hệ ở đây. Thời gian bỗng dưng như khựng lại vì thói quen thường ngày sau giờ thao trường nay đột ngột đổi thay. Mỗi chiều tối, những chàng lính trẻ sau khi rải tuyến  và nhận phiên trực, thường vùi mình nơi quán hàng ở khu sinh hoạt với ly sinh tố, tách cà phê bên những giòng nhạc du dương đang lột tả những khát vọng, tâm tư, tình yêu tuổi trẻ thời chiến. Qua mặt được ông cán bộ gốc tác chiến SĐ18 nầy không phải dễ. Thế nhưng, đời dạy đời, những “con cá”, dù hiền đến đâu dần dần cũng biết chui vào câu lạc bộ khu gia binh tìm chút men say lúc chập tối; có người chui qua hàng rào phòng thủ sau khu thiết giáp để bò về phía học viện cảnh sát và men theo lối tắt ra khu chợ nhỏ để cố tìm chút yêu  thương hò hẹn dù trong phút giây thôi. Nếu bị lộ và đưa vào quân cảnh 202 thì câu châm ngôn truyền tụng từ các đàn anh vẫn chưa sai: “phi chuồng cọp bất thành chuẩn úy” nghe cũng êm tai mà thôi. Làm lính xa nhà, ánh đèn phố thị với cảnh dập dìu của bao người quanh Sài Gòn hoa lệ cũng gây cảnh bâng khuâng trong lòng, nên vào những lần về trường sau phép 24 giờ, do lang thang thả bộ trầm tư để hưởng hết tận cùng những giờ phút vàng ngọc, tôi bị cô chủ quán sinh tố Phương Lan nằm ở phía phải lối vào quân trường có lần ngập ngừng trả giá:


- Thấy ông cô đơn và ngơ ngơ. Có phải con dì phước thì nếu cặp với em thì em nuôi.


Vô tư như trẻ thơ, tôi nói không có nụ cười:


- Dì phước mô?



*
    Ba tháng thao trường trôi nhanh, gã thư sinh ngày trước tóc ca rê tận xoáy mà chả cần soi gương, nước da xạm đen như tượng đồng bóng loáng nhìn thấy hết giống gà tre thời đi học.


Đó là một ngày của đổi thay, của chuyển bước cho một đoạn đường dài: Anh em chúng tôi là những thí sinh trúng tuyển được chuyển qua trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Thoáng ngày qua như một giấc mơ!


…. Trên đồi Tăng Nhơn Phú - Thủ Đức, những chuyến xe GMC đầy ắp những người trai trẻ vừa giả từ thư sinh được đổ xuống vũ đình trường. Họ nhảy xuống xe giữa những dàn chào của những Sinh Viên Sĩ Quan cán bộ huấn nhục trong sắc mặt lẫm liệt, lạnh lùng như những hung thần. Những khẩu lệnh chỉ huy rền vang như sấm và  những chàng thanh niên trong màu áo dân sự, tóc tai bồng bềnh bay theo gió, tâm hồn thi vị như mùa thu lá rơi rơi… tả tơi dần theo những huấn lệnh lột xác kinh hoàng cho đến khi gần cả nửa quân số rơi rớt, ngất xỉu nằm la liệt khắp quanh sân cờ thì lời chào nhập cuộc mới dừng lại. Đó là cái ngày ấy khởi đầu  tám tuần huấn nhục và  đã trở thành một thứ hành trang đầy ấn tượng cho một ngưỡng cửa cuộc đời của những người trai thế hệ: Quân đội!


   Gỉã từ Thủ Đức! đó là một đêm dài đi qua chậm rãi. Hình ảnh một ngày qua trôi chầm chậm với thời khắc biểu đi kèm một kỷ luật sắt thép đã dần quen từ khởi đầu bỡ ngỡ rồi dạn dày dần với sương gió thao trường. Nhớ lại từ mới lúc làm quen rồi chú tâm như quán tính để rồi trở thành một thứ phản xạ vào mỗi sáng sớm sau hồi còi báo thức: vùng dậy vụt chạy ra giao thông hào, chụp nắp cà mèn chà láng lại vùng trách nhiệm bờ tường đất cát do lũ giun dế tung hoành đêm qua. Ông thượng sĩ trợ huấn cụ thường mon men đến với túi xách đầy xôi bắp gặp từng người để bán ký sổ như điểm danh mỗi buổi sáng và  sau đó cả đội hình tập họp bung ra thao trường. Cổng số 9, cầu Bến Nọc, đồi 25, 30, đèo mẹ Bồng Con, bãi nghĩa trang….Bao địa danh cùng nét quen thuộc thường ngày với cây M16 trong tư thế tác chiến khi trên xe GMC lúc đi bãi xa hay đội hình hàng dọc khi đi bộ về và cùng với khí nóng mùa hè trời nhiệt đới đã tạo một nét phong sương cho những chàng trai mới vào cuộc.


   Tháng 7/1972 - khi khắp miền Nam, chiến trường ở vào cao điểm nhất với những trận đánh kinh hoàng ở Quảng Trị, Tống Lê Chân, Kontum, Bình Long thì ở trường Bộ Binh có trên mười ngàn sinh viên sĩ quan đang thụ huấn, để cung ứng sĩ quan chỉ huy cho chiến trường. Các khoá ra trường được đặt tên bằng những địa danh có những trận đánh khốc liệt đó. Hằng ngày, khúc quân hành trong bước chân nhịp nhàng của các đại đội quanh vũ đình trường nghe vang vang như lời réo gọi non sông từ chốn non cao dốc thẳm. Tiếng quân ca của nhiều đơn vị quyện vào không gian, dội ngược từ các doanh trại như khúc nhạc giao thoa bất tận, cuốn hút vào tận chốn mây trời. Âm vang hùng tráng như tiếp sức cho người nhập cuộc được chân cứng đá mềm, cho cây cỏ lá hoa bừng dậy, cho không gian vỡ òa, cho tuổi trẻ thời chinh chiến đi lên, cho hồn thiêng sông núi tìm về. Đêm đêm ngang qua nghĩa sĩ đài... nhìn ngọn nến lung linh, bập bềnh hư ảo giữa màn đêm huyền hoặc tưởng như hồn tử sĩ tìm về chứng giám và trợ lực cho những người đi trả nợ núi sông… như hiệp cùng tiếng thét lời thề Sát Thát, tiếng gọi Bạch Đằng Giang, tiếng thúc quân Ngọc Hồi, Hà Hồi.


Giã từ cái đang có! Đó là một đêm trường thức trắng, trằn trọc. Bao tiếc nuối vì từ lúc chập chờn bước chân, lạng quạng thuở ban đầu với biết bao mồ hôi thao trường đổ. Chiếc alpha trên ve áo đang kiêu hãnh về phong cách của người được trở thành, đang ngạo nghễ  chuẩn bị ra  trường như cùng lớp lớp người đi... Nhìn lại chính mình tâm tư không khỏi chao đảo khi nhớ có một lần được nhìn tấm bích chương chiêu mộ: ”Muốn Thắng Địch Trên Mặt Trận Tư Tưởng, Hãy Gia Nhập Khóa 4 Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch”.


Đà Lạt mộng mơ, kiêu sa rộng vòng tay  đón chào những kẻ nhập cuộc. Con số 72 thành ngẩu nhiên tình cờ: Nhập ngũ 72 theo lệnh đông viên, số quân bắt đầu72, có 72 sinh viên sĩ quan từ trường Đồng Đế, Thủ Đức chuyển qua, khóa NT4 nhập khóa tháng mười hai/72.


Hướng về Đà lạt! trước mắt sẽ có hai năm liền bên lề cuộc chiến, được yên thân khi cường độ căng thẳng của khói lửa chiến trường đang ngút ngàn trên khắp quê hương. Mẹ cha  tạm lắng tiếng thở dài, mắt đỡ trông xa vào chốn xa xăm khi hằng đêm vang vọng tiếng súng mà nhớ về đứa con yêu. Viễn ảnh làm lính hiện dịch như một sự dấn thân được suốt đời cưu mang trách nhiệm, không sờn gian khó. Thôi thì ứng nợ núi sông vậy khi bao người cùng trang lứa trong số một ngàn không trăm sáu mươi người của tài khóa 4/72 TB Thủ Đức hiên ngang ra chiến trường.


Khi trở lại làm “tiền tân khóa sinh”để chờ nhập khóa, ngày giờ trở nên co rúm lại ở những sớm mai tạp dịch - tối đến ra canh gác phòng thủ. Ngày tháng chầm chậm trôi bên những vọng gác như Ninh Kiều, Đông Quan,Thăng Long, Tây Đô, Chúc Động và được các cán bộ đàn anh như Trần Xuân Choai, La Thành Nghệ, Nguyễn Văn Hải, Lê Văn Minh…nỉ non chuyện đời lính tráng. Họ hiền hòa, gần gủi và chưa lộ mặt hung thần cho đến một ngày chúng tôi được lệnh ôm lại xắc - ma - ranh  ra cổng Anh Đào nhập cùng anh em từ TTHL Quang Trung lên để nhập khóa. Đó là ngày 18 tháng 12 năm 1972.


Địa ngục trần gian lần thứ hai trong đời tái diễn. Những gương mặt đổi sắc lạnh lùng như băng giá, nghiêm như chóp núi Hy mã Lạp Sơn. Bao nhiêu cái tẩy đều được giải mật và đem ra hành xử: Con ông cháu cha, khoa bảng, cao niên, tu xuất, lính cũ...đều được chiếu cố tận tình. Từ cái nhìn từ xuất xứ, lý lịch được kín đáo tìm hiểu từ trước, hầu như từng người một được đánh đòn cân não cho đến khi nào thuần thục. Hãi hùng nhất khi được thông báo là mạng sống các anh chỉ đổi bằng hai bản báo cáo, một đắp vào mặt và một gởi đi. Có người mong được che chở có ý nhìn anh em trong khóa trước là bạn cùng lớp bên ngoài đại học hay cùng địa phương hoặc là bà con thân thích các quan lớn. Cán bộ đàn anh dựa trên các yếu tố nầy để hoạch tội và tác dụng ngược lại  nên các tân khóa sinh trả giá đắt lắm: Xương cốt muốn mềm tựa hồ sắt thép cũng chảy. Hình phạt ngay trước cổng Tam Quan của trường Võ Bị, ngay cạnh khóa 29 cũng là tân khóa sinh làm quân số hai bên quân trường chạy lộn vào nhau vì trời trăng mây nước không còn biết chỗ nào. Xê ô xê xê được “triển lãm” hành xác ngay trước vũ đình trường, nơi bác ruột, ông cậu ruột to như núi mà khi đứng trước phòng chỉ huy nhìn ra cũng chỉ biết thắt ruột lặng người nhìn đứa cháu nho nhã của mình được “biến thái” bằng những nghiêm lệnh cho thi hành như Vũ Khúc lên Đồi,Tình ca Người Đi Biển. Nhiều màn “săn sóc riêng” như những chiếc poncho quay tít hay những nhịp nhảy xổm bất tận được tái diễn vì tội “ma giáo làm lại” làm  mồ hôi tân khóa sinh đổ như tắm  dù đương  là mùa đông cao nguyên, rét lạnh căm da người. Hình phạt nhẫn nhục trong phạn xá, ngay trước con mắt sĩ quan cán bộ nhà trường: Các tân khóa sinh cứng đầu  nếm mùi ”quân lệnh như  sơn” để ăn cả nắm ruồi trong món “tiêu hiện dịch”, chùm ớt hiểm cay xé ruột trong món “kẹo ngọt nhà binh”, thử thách ủy mỵ khi viết thư  vĩnh biệt người yêu hay thân thích.


Cán bộ huấn nhẫn đầy quyền uy dưới con mắt tân khóa sinh thì chỉ đứng sau ông trời: Apres Dieu c’est vous!…Có một lần hội ngộ sau hơn ba mươi năm rời xa, anh em  chúng tôi trầm trồ khi thấy lại NT3 Nguyễn Văn Mỹ đã một thời thần tượng - Là cán bộ đại đội trưởng ngày xưa ấy, ông có giọng nói nhẹ nhàng mà thâm thúy, có lối chấn chỉnh đơn sơ mà anh em thi hành hoài vẫn chưa thỏa đạt lệnh thọ phạt. Ông ta rất tâm lý tình người với ngôn từ, cử chỉ  trong lối hạch tội tinh vi mà anh em nghe nhức nhối cho  cái đầu vì đòn cân não. Khổ nỗi trong lúc các cán bộ khác phùng mang trợn mắt, gầm giọng tựa thiên lôi giáng thế thì ông vẫn giữ cung cách nhẹ nhàng. Tuy cười cười nói nói mà hình phạt vẫn đầu sông tới cuối sông. Đa số các ông cán bộ  đều y hệt mấy ông thần: ánh mắt ,giọng nói, dáng dấp, phong cách thật tuyệt đối như người của thế giới hành tinh nào khác. Khi một lần gằn giọng, cả một tập thể đồng nhịp chấp hành. Con muỗi con ruồi có vo ve trước mặt cũng đành lơ. Từ sân bãi Võ Bị, quanh hồ Mê Linh, dọc theo mặt tiền trường nữ Bùi Thị Xuân đến khu phòng thủ, giảng đường Nhị Khê và quen  thuộc nhất là sân bãi vũ đình trường, các tân khóa sinh làm quen như cơm bữa các hình phạt bò lăn, nhảy xổm, trèo cao, nhảy thấp, lăn thùng phi, nhúng sình, cắn mũi súng nhảy xỗm, đo trí, tình đồng đội… làm  từng tế bào như thân quen từng tiếng đếm, nhịp chân như cái máy nhận lệnh thi hành ở bất kỳ giờ phút nào.


Đêm lột xác từng người một lên trình diện niên trưởng. Những người đàn anh không là cán bộ hướng dẫn săn sóc dịu dàng những người đàn em trong sắc mặt chưa hết hốt hoảng. Họ cho ăn, cho uống, cho lời nói, cho nguồn an ủi. Những tô mì gói, những gói kẹo, những tâm tình làm dịu lại phần nào bao nỗi âu lo. Nhiều lần, các cán bộ huấn nhẫn thường đùa: Niên trưởng thương đàn em,cán bộ giết đàn em!


Khi chiếc alpha cài lên ve áo thì niềm kiêu hãnh tựa như Christophe Colomb  khám phá trái đất tròn. Ý chí khắc phục, tự thắng được đào tạo thời tân khóa sinh là khởi nguồn cho một cuộc chinh phục trường kỳ mà bước đường binh nghiệp về sau vẫn sẽ xem như là một hành trang suốt đời. Nhìn lại, sức khỏe mỗi người cường tráng lên và số cân tăng vọt rất nhiều. Alpha giúp vượt thắng, trợ niềm tin, thêm bản lãnh và xem thường trở lực. Alpha như người tình, tựa gươm báu, là lời thề huyết thệ, là khởi đầu cho cuộc chinh phục lâu dài: Đó là  người mà bạn sẽ trở thành! Từ đó, alpha là di sản hiếm quý phải biết gìn giữ!


Hơn hai năm trời qua không mau, khóa 4/CTCT/HD tiếp nối các khóa đàn anh trong nhiệm vụ học tập, trau dồi vừa văn hóa, quân sự và chính trị. Đặc biệt nhất của khóa là tham gia hai cuộc công tác tại vùng 1 và vùng 4. Qua đó, thực tế của địa bàn chính trị sắc bén như Quảng Ngãi và tình hình chiến sự trong các đơn vị tiểu khu của 16 tỉnh miền tây cùng các đơn vị chủ lực như SĐ 7, 9, 21BB đã tôi luyện thêm bản lãnh và ý chí của nguời cán bộ trong hoàn cảnh đất nước ở hồi chiến tranh cao điểm nhất.


Cuối tháng 3 năm 1975, theo vận nước, quân trường đã phải ngậm ngùi đắng cay di tản khỏi Đà Lạt. Nỗi tiếc nuối  chiếc nôi hun đúc chí trai với nhiều hoài bão đã làm chạnh lòng người ra đi và lưu luyến nguời dân ở lại. Những kỷ niệm bên giảng đường, quanh bãi tập với nhiều sôi nỗi trước những khám phá trong nhiều lãnh vực mà nhà trường đã kỳ công trang bị như vấn vương bước chân người đi. Các sinh viên sĩ quan buộc phải giả từ một vùng đất nơi tuổi trẻ, tình yêu và tham vọng được tô bồi trên căn bản một người lãnh đạo chỉ huy tương lai.


Trong tình hình nghiêm trọng  do việc Cộng sản đánh chiếm ngày càng gia tăng nên chính phủ đã quyết định cho khóa NT4 ra trường sớm trước thời hạn để bổ sung sĩ quan chỉ huy cho các mặt trận. Trưa ngày 22 tháng 4 năm 1975, tại sân cờ của tiểu đoàn 30 CTCT ở Tam Hiệp Biên Hòa, buổi lễ mãn khóa diễn ra đơn sơ dưới sự chủ tọa của trung tướng Trần Văn Trung - Tổng Cục Trưởng  Tổng Cục CTCT và một số quan khách cùng thân nhân của SVSQ. Tổng số 199 tân sĩ quan ra trường  trong bộ chiến phục đơn sơ với huy hiệu Lục Đại Chiến và đến trưa ngày 24 tháng 4 năm 1975, những chiếc quân xa GMC của các đơn vị đã chực sẳn để đưa  ra chiến trường đang lúc dầu sôi lửa bỏng đúng như nguyện vọng ban đầu của người sĩ quan tình nguyện. Ngày ra trường trong khung cảnh đó  mãi là những kỷ niệm hào hùng,bi thảm mà mỗi cựu sinh viên sĩ quan có được như một kỷ niệm quý giá cho đời mình.


Qua ngày thứ tư tại tuyến đầu trong vai người trung đội trưởng, khi chiến trường đương bập bùng khói súng, trung úy đại đội trưởng kêu máy họp các sĩ quan.


Ông chỉ vào chiếc xe tăng địch đang cố thủ lô cốt ngay lối vào trường bộ binh Long Thành đã bị chiếm và nói thẳng vào tôi:


- Cơ hội tốt nhất cho anh lập công trạng vì mới ra trường. Lấy mười người độc thân, trẻ tuổi cùng anh, sau hỏa lực bắn che, anh cho xung phong lên bắt sống chiếc T54 đó.


Khi trở lại khu rừng cao su ở ngã ba Thái Lan - Long Thành để tuyển quân tình nguyện, cơn xúc động làm miệng tôi ú ớ lúc nói trong khi đôi chân khựng lại vì run không  nỗi. Hành trình huấn nhục đã giúp tôi lấy lại tinh thần từ từ. Các hình phạt ngày trước có lần cho tân khóa sinh làm quen với sự chết, khi ngất đi được bạn bè kéo xác đem chôn; cũng như từ trên cao đỉnh conex, ba lô súng đạn nhảy xuống vực hoặc chui đầu vào thùng phi rồi cho đạp lăn từ trên đỉnh đồi xuống thung lũng. Cái chết đã đôi lần lãng vãng trước mặt trong những chuổi ngày làm quen.


- Thiếu úy mới ra trường, kinh nghiệm chưa có làm sao bắt xe tăng. Tiếng người trung sĩ trẻ hỏi.


    Nhìn thẳng vào mắt họ, tôi nói tự tin:


- Lệnh trên đã ban hành, ta phải làm.Tôi sát cùng mấy anh, cùng chết hoặc cùng sống! Ta đánh kiểu thần tốc.


    Tôi ngã xuống ngay chiều tối hôm đó, thầm nghĩ mất xác vì miễng đạn găm ngay ngực, rất khó thở và máu tràn ra nhiều quá trong khi trời tối đen mà chung quanh chiến xa Cộng quân gầm rú như chỗ không người. Đại đội trưởng bị thương đằng sau lưng vài phút  trước đó vì trúng đạn pháo, cả người toàn máu. Cũng mới trước đây  lại vừa tải thương hai trung đội trưởng, trong đó có một anh K29 VB mới ra trường. Vết thương anh ta ở bọng đái làm đôi mắt anh ta trợn ngược vì quá đau đớn.Trong cơn nguy khốn, tôi cùng y tá chạy đến tiếp cứu. Khi kéo chiếc quần trận xuống để tìm vết thương băng bó, tội thân anh đau đớn tột cùng mà còn biết mắc cở đưa đôi bàn tay yếu ớt giữ lại.


    Đêm tối pháo đạn kinh hoàng, tiếng hỏa tiển tầm nhiệt AT7 rít ghê rợn trên đỉnh đầu. Địch cố truy đuổi xe tăng của ta đang nghênh chiến.


    Khi cố trở mình vì máu ướt nhẹt, người y tá chiến trường chạy đến. Anh bình tỉnh đốt thuốc và ép tôi hút một hơi rồi chăm chú rọi đèn pin vào vết thương đang trào máu theo từng nhịp thở. Nhìn kỹ không thấy khói thuốc bốc ra, anh mừng rỡ cho biết:


-  Thiếu úy sống  được! Đạn chưa xuyên phổi.


    Trong cơn đau tôi có cảm tưởng như phép lạ đến với mình khi văng vẳng có tiếng điều quân của vị đại úy tiểu đoàn phó lên tiếp cứu và tải thương. Chiếc xe Jeep duy nhất còn lại của tiểu đoàn chở tôi về bộ chỉ huy nơi người bạn cùng khóa Ngô Chi đang cố chờ  sẳn và cũng là lúc tuyến đầu bể. Sáng 29 tháng 4 năm 1975, xe tải thương về đến bộ chỉ huy lữ đoàn ở Long Bình thì nghe tuyến tiểu đoàn di tản.Trưa cùng ngày, chiếc xe GMC chở xác tử sĩ và thương binh hướng về bệnh viện Lê Hữu Sanh chạy rất chậm trên đường quốc lộ vì xe cộ và dân chúng hốt hoảng ngược xuôi chạy loạn. Khi ghé chuyển xác chết cho đội chung sự ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa thì Long Bình bỏ ngỏ. Sớm ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi vừa qua đêm tại bệnh viện sư đoàn thì thấy trên tivi chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đọc lại lệnh đầu hàng của tổng thống.



    Tin mất nước đến khi vết thương đang hành với cơn đau nhức theo từng nhịp thở. Nhìn quanh khu ngoại thương của bệnh viện thấy vắng hoe đến lạnh người. Cơm không, nước không,y tá bác sĩ cũng không, chỉ còn vài đồng đội có vết thương không di chuyển tự mình được. Miệng đắng, ngực đau, bụng đói ; bấy nhiêu cũng đủ ngao ngán nên tôi nằm ẹp không buồn dậy nữa cho đến khi một người y tá tốt bụng đến thúc dục và thuê bao một chiếc xe lam chở hết các sĩ quan bị thương không đi  được thoát ra khỏi bệnh viện.


Vào cuối năm 1975, trên trại cải tạo Cồn Tiên - bạn cùng khóa Ngô Chi, Phan Duyệt, Trần Đại Đãi như vẫn còn nợ gắn bó từ kiếp nào, đón tôi trong niềm hạnh phúc mất hết mà vẫn còn có nhau. Khi ngồi bẹp dưới đất bãi xem văn nghệ trại nhân một ngày lễ lớn trên rừng, Chi chỉ lên một người tù tốt tướng đang thủ vai bác sĩ chữa bệnh cho mấy người bị bụng to và bảo đó là một đại niên trưởng của mình. Nhiều năm tháng trải dài với đôi dép râu, áo  sọc tù và nón cối đi rừng rồi cũng có dịp gặp người đàn anh đó mà mãi mãi về sau là cả một sự kính trọng. Đó là NT1 Nguyễn Như Quỳnh, đơn vị là trung tâm huấn luyện Đống Đa. Mỗi lần đi củi gặp, anh ân cần thăm hỏi an ủi và trợ lực tinh thần cho nhau. Tuy lao nhọc trên chốn rừng sâu, nhưng mỗi khi gặp mặt và có dịp cất tiếng chào niên trưởng thì chợt nghe trong cổ họng nghèn nghẹn vì một niềm cảm thông và sự gắn bó thiêng liêng nào. Đây là người niên trưởng NT1 đầu tiên trong suốt đời binh nghiệp ngắn ngủi mà tôi gặp ngoài quân trường mặc dù có một năm chiến dịch từ vùng 1 đến vùng 4 và qua rất nhiều đơn vị.


    Khi từ miền bắc trở vào nam thì bỗng gặp lại niên trưởng Lê Phước Ánh, nguyên sĩ quan cán bộ quân trường khi tình cờ đi tiếp phẩm cho phân trại. Nỗi ngạc nhiên đến độ ngỡ ngàng vì sau ngày 75 có nghe tin anh theo gia đình vợ di tản sang Mỹ. Thấy anh ốm đen, tiều tụy lặng thinh nhìn đàn em đồng môn trong cùng bộ đồ đồng phục tù chợt xót xa như muối xát vào lòng. Kỷ niệm khó quên nhất là  lúc anh đi tìm ba sinh vien sĩ quan là NT4 Thái, Huê, Luân khi nghe tin tiểu đoàn 512 ĐP đang công tác bị gần xóa tên trong trận đánh tại kinh Cổ Cò - quận Giáo Đức, Định Tường vào tháng 7 năm 1974.  Cọng Sản thâm hiểm trong vấn đề đánh giá hàng ngũ sĩ quan chúng ta nên cho thanh lọc sau hàng trăm lần khai lý lịch và liệt kê vào hạng L13 tất cả những ai xuất thân từ trường hoặc là sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị. Thứ hạng “nợ máu” sau cả C trưởng, không quân, pháo binh và ngang hàng với an ninh tình báo, cảnh sát, phượng hoàng, thiên nga, chiêu hồi , CIA, biệt kích, Phủ đặc ủy tình báo…  nên được “ưu tiên” cải tạo lâu dài. Sau nầy mới gặp thêm NT3 Trần Văn Ngãi, Đặng Như Xuýnh, Nguyễn Ngọc Bình, Đoàn Chức, NT2 Nguyễn Hữu Tư, Trần Đình Toại, Mai Văn Tự, Võ Công Dương,  Nguyễn Đăng Cường, Hoàng Văn Ca, Hồ Văn Đông, Phan Xuân Mai, NT1 Dương Viết Điền cùng số phận đường trường xa trong trại tù công an Bình Điến Huế! Thời gian như ngọn lửa rèn, càng lâu càng nóng để tôi luyện ý chí và lòng yêu thương như một hợp đoàn cùng sát cánh, nghĩa tình và thủy chung theo vận nước.


    Năm 1997, được gặp lại vị cựu chỉ huy trưởng tại nhà NT1 Nguyễn Văn Mục ở San Jose. Giữa đông đảo đồng môn đang quấn quýt mừng gặp vị thầy kính yêu sau những năm dài cùng hứng chịu những ngày tháng đọa đày của ngục tù Cộng sản  dành cho những cán bộ nòng cốt từ trường Mẹ, một số anh em bày tỏ nỗi niềm chua chát vì những sự đối xử, ứng dụng bạc bẽo lúc phục vụ ngoài đơn vị. Vị thầy khả kính đã ân cần:


- Qua cuộc chiến, ngành Chiến Tranh Chính Trị chúng ta chưa đóng góp được gì to tát cho quân lực, nhưng chúng ta có tự hào một đội ngũ cán bộ  được đào tạo lâu dài để cung ứng cho đất nước những kiến thức, tài năng trong những kế hoạch dài hạn. Vấn đề là mỗi lãnh đạo phải là một cán bộ đúng nghĩa và chúng ta tự hào về quân trường.


Những cán bộ đó có mãi trong lớp đồng môn, có khi sẽ rực sáng như ánh hừng đông, là bông hoa trí tuệ, thắm sắc như ánh dương, nhưng là những kẻ góp mặt âm thầm.


   Một ngày kia khi ra trại, trên bến Đông Ba - Huế tấp nập người đi kẻ lại, một anh phu xích lô xuống xe nhìn tôi chăm chú:


-  Có phải là niên trưởng ?


Chợt ngỡ ngàng, tôi lắc đầu.


- Niên trưởng ở trong hệ thống huấn nhẫn, phụ trách  chính huấn!


-  À!


    Anh phu xích lô gặp anh phụ lái đò, những người sống sót trở về quê cũ, những đồng môn gặp nhau sau ngày đất nước ly tan. Nhìn đôi mắt tinh anh và nụ cười sâu kín với mái tóc vuốt ngược cùng giọng nói quen quen, tôi mới nhớ lại rõ hơn khi có lần xếp hàng chung chờ máy bay về Biên Hòa lúc di tản tại phi trường Bình Tuy đầu tháng 4/75. Đó là một Nguyễn Trãi 5! Anh và tôi có chung một kỷ niệm về một cảm xúc khi nghe ông thượng sĩ kèn bên toán di tản bạn đánh giá với vẻ mỉa mai cười cợt về một sự so sánh xa xa gần gần mà rất khiêu khích bần tiện. Mấy mươi năm sau, những bài viết đánh giá kinh tế,chính trị,bình luận thời cuộc trên bình diện nước Mỹ và quan hệ quốc tế với kiến thức phong phú,lý luận sắc bén đã đưa tên tuổi anh vào quần chúng như một hiên tượng hiếm quý về một tài năng vượt trội. Người ta biết tới anh qua sự góp mặt âm thầm với phong cách bình dị, khiêm tốn trên các trang báo. Khi gặp lại, tôi vẫn kiên quyết nhắc lại thứ vũ khí của trận chiến tư tưởng rất chiến lược là tinh thần cán bộ nồng cốt, là kiến thức trong tinh thần trí nhân dũng thành để mãi tự hào về chiếc nôi nơi mình được hun đúc và mang hành trang đó vào đời.


NT4 Phạm Hữu Huê

Qua hơn ba mươi lăm năm xuống núi, cả một đoạn đường dài bằng nửa cuộc đời với trọn vẹn nghĩa tình có trước có sau, có vinh quang và cay đắng, có dâng hiến và đáp đền. Bản thân chợt nhìn lại sao mình có nhiều thử thách mà lại được đầy diễm phúc: Một ngày lính đổi hai ngày tù từ nam ra bắc để biết người biết ta, từ trừ bị sang hiện dịch để xem quân đội là cuộc đời mình, ra trường ngắn ngày lại bị tù dài ngày, được thấm đòn gian khổ để biết rõ bản chất tàn ác, phi nhân của chủ nghĩa Cộng sản..Những đứa con từ quân trường Mẹ vẫn giữ trọn tình, trọn hoài bão như từ Alpha đến Omega - một thủy chung cho đến bến bờ từ hai lần quỳ xuống nơi vũ đình trường lãnh nhận trách nhiệm trước tổ quốc.


Và nếu có ai hỏi, ví ….như thời gian lùi lại hay được làm kiếp sau thì sao? Thôi thì đành xin kiếp sau trả lời vậy.




NT4 PHẠM HỮU HUÊ
Sacramento – Tết Tân Mão 2/2011