Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai BỐN MƯƠI NĂM NHÌN LẠI NHỮNG CUỘC TÌNH

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

BỐN MƯƠI NĂM NHÌN LẠI NHỮNG CUỘC TÌNH

In PDF.



    Ông cảm thấy thoải mái khi đã dọn về ở vùng thung lũng Pauoa. Phía trước một khoảng nhỏ nhìn ra biển, còn lại chung quanh là núi bao bọc. Trời lúc nào cũng âm u, mưa nhiều hơn nắng, lại thêm khí hậu lành lạnh của Đà Lạt.


    Trời đã vào thu, từng cơn gió nhẹ đem theo những chiếc lá vàng, từng chiếc, từng chiếc lìa cành, rơi xuống bay lả tả cuốn dọc theo con đường dốc. Ánh nắng chan hòa với một chút se lạnh. Đứng trước khu đất, dưới tượng Mẹ Maria mà ông đã dựng ngày mới dọn đến, chung quanh để những chậu hồng, những đóa hoa đang khoe sắc, làm ông liên tưởng đến Đà Lạt, thành phố nhiều kỷ niệm một thời sinh viên. Đà Lạt êm đềm, tĩnh lặng, không hối hả, vội vàng...Thành phố không đèn xanh đèn đỏ, không bon chen dành giựt. Con người Đà Lạt thanh lịch, lúc nào cũng áo vest, măng-tô, thong thả dạo bước. Có người cho ông biết Đà Lạt bây giờ không còn Đà Lạt nữa, cuộc sống vội vã, chen chúc, lộn xộn, bừa bãi, rác rến, không còn vẻ thơ mộng như ngày xưa. Ông cũng chưa biết vì ông chưa trở về Đà Lạt từ năm 1975.


  Đã hơn 40 năm qua mới ngày nào còn là một thanh niên tuổi học trò bây giờ ông sắp bước vào tuôỉ bảy mươi thời gian qua nhanh quá. Năm 1964 sau khi đậu tú tài ông ghi danh vào đại học khóa đầu tiên ở trường Chính Trị Kinh Doanh, cũng vì ham cái mới có ở Việt Nam, ông bỏ khóa biên tập viên cảnh sát. Những ngày đầu đi học thời sinh viên, đầy tự do, chỉ biết thời khóa biểu ghi phòng học, rồi đến giảng đường nghe và ghi chép.


    Cuối năm thứ nhất, ông ghi tên tham dự trại hè - Trại Vượt Biển, không phải vượt đại dương như sau 1975, mà vượt biển theo chiều dài của đất nước. Từ Đà Lạt xuống Nha Trang, ra Đà Nẵng, rồi Huế, ròng rã 33 ngày đêm công tác xã hội: Quét dọn đường phố, sơn sửa trường học, phát thuốc, văn nghệ giúp vui trẻ em bán báo đánh giày v.v...


    Trại hè năm đó, ông đã quen với một nữ sinh, chung trong toán ẩm thực, ông đã giúp nàng trong việc nấu ăn, đi chợ, nên trở thành thân thiện. Những lúc rãnh rổi, ngồi nói chuyện bâng quơ. Nàng đã tâm sự:


“Nàng sinh ra và lớn lên ở Huế, con một gia đình không khá giả gì, nhưng vì thích Đà Lạt nàng năn nỉ cha mẹ cho vào Đà Lạt học. Con gái xứ Huế xa nhà, cảm thấy cô đơn và lẻ loi, e dè, nên ít bạn bè.”


    Nàng không đẹp sắc sảo, nhưng dễ thu hút người đối diện, mái tóc ôm khuôn mặt bầu bỉnh, làn da trắng và thân hình cân đối.


    Xong công tác ở Nha Trang, một buổi chiều xuống tàu ra biển để đi Đà Nẵng, gió thật mạnh, con tàu lắc lư nhồi sóng. Ngồi bên ông, trên boong tàu, nàng đã gục người bên ông, trong cơn say sóng không chịu nổi, nàng đã ôm lấy ông, rồi thiếp đi. Ông thấy lâng lâng xúc động với những va chạm đầu đời bên người con gái.


Đến khuya, biển lặng, nàng tỉnh lại, bẽn lẽn khi thấy mình nằm gọn bên ông, nàng ấp úng nói lời xin lỗi ông, ông mĩm cười với tâm tình hoan hỉ.


    Công tác tại Đà Nẵng, rồi sau đó ra Huế, nàng xin tách đoàn để về với gia đình. đã để lại cho ông nhiều luyến nhớ.
Niên học sau đó - 1965 - nàng không trở lại Đà Lạt, vắng bóng nàng, một đôi lần ông viết thư liên lạc, nhưng không thấy hồi âm, ông buồn bã mất nàng từ đấy.


    Thời gian trôi qua, cuối năm 1966, ông bỏ Chính Trị Kinh Doanh vào Đại Học Chiến Tranh Chính Trị - là một trường đầu tiên của QL/VNCH. Vì ham caí đầu tiên đó, ông mạnh dạn đi vào quân đội - đời SVSQ – cũng lại học những môn văn hóa như trường Chính Trị Kinh Doanh. Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy.


    Năm 1968, ông biết tin nàng chết trong trận giặc Mậu Thân, vì nàng là công chức của Tòa hành chánh Huế, năm đó khi về với gia đình vì gia cảnh thiếu hụt, nàng đã thôi học xin đi làm công chức, nên gặp nạn. Ông đã mất nàng vĩnh viễn.
... Ông đứng suy tư, thả hồn về quá khứ, để hồi tưởng những kỷ niệm, lòng ông dâng lên một tình cảm nao nao, nhất là mối tình Đà Lạt.


“Nghĩ gì mà nãy giờ thơ thẩn vậy ông?”


Tiếng vợ ông đã cắt đứt dòng hồi tưởng. Ông mĩm cười không trả lời, đưa tay đỡ lấy ly trà nóng mà vợ ông biết ý chiều chuộng ông. Ông nhìn theo bà, thầm cảm ơn người vợ thủy chung.


    Vợ ông vẫn còn trẻ đẹp so với những người cùng lứa tuổi. Cơ duyên nào đã đưa ông bà thành vợ chồng? Vợ ông dân miền Tây, còn ông dân Đà Lạt.


    Sau khi tốt nghiệp ông đã ở lại trường chưa ra đơn vị một ngày nào. Nhiều bạn bè thắc mắc, chỉ một số nhỏ biết duyên phận của ông.


    Cho đến khi ông định cư ở Hawaii, nhiều người mới gặp cũng cho rằng vợ ông là vợ ghép đi H.O, vì nàng còn quá trẻ, đẹp, so với ông quá chênh lệch, tuy ông chỉ hơn bà 9 tuổi...


   Hơn 40 năm chung sống, từ thuở ông là thiếu úy mới ra trường, bà đã thủy chung, tận tụy. Trải qua bao khó nhọc của cuộc đời dâu bể, bà đã nuôi con, sắt son chờ chồng cho đến ngày ông ra khỏi tù.


    Ông đã đề nghị chủ đề Đặc San Ức Trai kỳ nầy là tất cả viết lại chuyện tình của mình. Dù hay dù dở, miễn là sự thật, không hư cấu, nên bây giờ ông phải giữ lời.





   Sau khi ông ra trường độ khoảng 6 tháng thì người anh ruột của ông tử trận, ông xuống miền Tây để lo an táng. Vợ ông lúc đó, là em ruột của người chị dâu ông. Tình cảm bắt đầu qua sự với đứa cháu mới một tuổi, sự bồng ẳm đứa cháu, chuyền tay giữa dì và chú, qua ánh mắt, nụ cười, đã tạo cho ông niềm xúc động cảm tình. Nàng lúc đó vừa mới mười bảy tuổi, còn rụt rè, e thẹn. Nữ sinh miền Tây  làn da trắng, thân hình thon thả gọn gàng, mái tóc xõa dài, đã tạo nên một nét đẹp đã làm cho ông rung động. Phần ông lúc bấy giờ cũng chẳng đẹp trai gì, tuy nhiên với cặp hoa mai vàng chói trên cổ áo cũng có thể là niềm ước mơ của các cô gái bấy giờ. Hơn nữa, tình liên hệ gia đình, đã hỗ trợ cho tình cảm giữa chú và dì, đã tạo duyên vợ chồng.


Ông đã cưới vợ vào năm 1970, sống cho đến hôm nay, ông bà đã có với nhau hai người con trai, hiện cùng sống dưới một mái nhà, kể từ khi đến định cư tại Honolulu.



NT1 Nguyễn Thắng Nguyện