Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2011 TÔI VÀO QUÂN ĐỘI

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

TÔI VÀO QUÂN ĐỘI

In PDF.



       Có vài vị linh mục lúc còn nhỏ xin vào chủng viện đi tu chỉ vì thích được đá banh; cũng có vài vị thượng tọa vào chùa xin làm chú tiểu lúc mới  năm, sáu tuổi chỉ vì thích được gõ mõ. Điều này không phải tôi phịa ra mà do chính quý ngài nói cho tôi nghe, tôi chỉ nhắc lại ...Thời gian ở tù tại Yên Bái, tôi được sống và sinh hoạt gần gũi với các cha, các thầy, lâu ngày trở nên thân thiết, rồi kể cho nhau nghe những chuyện buồn vui cuộc đời. Một hôm cha K. đang cắt tóc cho thầy T, tôi đứng bên cạnh để nghe qúy ngài nói chuyện đạo, việc đời. Tôi chẳng hiểu nhiều về giáo lý, cũng góp chuyện cho vui bằng câu hỏi hơi tò mò, nhưng cả cha lẫn  thầy đều vui vẻ trả lời.  Tôi hỏi:


- Qúy cha, quý thầy thường thường đi tu khi còn bé. Lúc đó cha và thầy có một ý thức nào về việc xa gia đình để vào tu viện lo việc tu trì và khi trưởng thành quý ngài cảm thấy thế nào về cuộc sống bình thường của người đời? .


 - Lúc đó tôi muốn vào chủng viện để được đá banh. Nhà tôi ở gần một tu viện, chiều nào cũng thấy mấy ông thầy dòng ra sân đá banh, vui qúa ... Nên mới xin cha mẹ cho đi tu. Vào chủng viện được học hành, lần hồi mình có nhận thức để xác lập hướng đi cho cuộc đời, rồi được ơn Chúa gọi, thế là mình trở thành linh mục và chỉ muốn phụng sự theo ý thánh Chúa - Cuộc đời mỗi nguời đã được Chúa an bài ... Linh mục K trả lời như vậy.


Bây giờ Thượng tọa T. phát biểu:


- Bước đầu, tôi muốn vào chùa tu để được gõ mõ - Đơn giản chỉ có thế - lúc nhỏ mỗi lần theo mẹ đi chùa lễ Phật, xem qúy sư tụng kinh, gõ mõ tôi thích lắm, nên xin đi tu. Dần dà do tu  học mình thấu hiểu những nhiệm mầu, thâm sâu của đạo pháp - Rồi được mặc áo cà sa, đi thuyết giảng cho chúng sinh hiểu những điều Phật dạy và được người đời gán cho cái nhãn hiệu Đại đức rồi Thượng tọa. Thực sự thì từ cái duyên nó tạo ra cái nghiệp mà mỗi người ai cũng có. Chuyện thế gian, trần tục thì lắm điều để bàn, nhưng đã thấm nhuần đạo Phật thì chẳng có gì đáng lo, đáng tiếc cả - nó sắc sắc, không không .... 


Thầy T ngừng một chút rồi thong thả nhìn tôi, hỏi :


- Vậy anh tình nguyện vào quân đội vì lý do gì? .


- Lúc thiếu thời , qúy Thầy, quý Cha đi tu vì một vài hấp dẫn rất bình thường đối với trẻ thơ như thích gõ mõ, đá banh; còn tôi tình nguyện vào quân đội chỉ vì thích được sống ở Đà lạt vài năm - Động lực trước tiên là như vậy. Tôi trả lời .


Linh mục K tỏ vẻ bất bình, nói hơi gay gắt :


- Chúng tôi đi tu lúc còn nhỏ, chưa có nhận thức rõ ràng nhưng cũng có thiên hướng và rồi chúng tôi tìm ra chân lý. Còn anh vào quân đội sau khi đã đỗ tú tài 2, tức cũng đã trưởng thành mà chẳng có lập trường, lý tưởng gì cả hay sao?. Các anh lãng mạn quá nên thua họ là phải rồi ...


   Những lúc đàm đạo về chinh trị, cha K thường hay bênh phía bên kia, cho rằng họ có tinh thần yêu nước... họ đã hy sinh gian khổ hơn phe ta. Anh em trong Đội ai cũng biết cha có lập trường chống cộng rõ ràng nhưng đã bị ảnh hưởng bởi sự tuyên truyền của các phong trào phản chiến khi tu học ở nước ngoài trong những năm cuộc chiến tranh VN leo thang từng ngày. Cho nên tôi phải suy nghĩ, lựa lời trình bày cho ngài hiểu thực trạng của Miền Nam VN lúc bấy giờ .


- Cha nói không sai nhưng còn thiếu. Chúng tôi chẳng những đi vào cuộc chiến một cách lãng mạn mà còn ngây thơ nữa và cũng như cha và thầy tìm ra chân lý sau một thời gian tu học thì chúng tôi cũng kiên định lập trường và tìm thấy lý tưởng sau một thời gian học tập và chiến đấu bảo vệ nền Tự do, Dân chủ cho Miền Nam VN. Còn chuyện yêu nước thì mỗi bên có quan niệm khác nhau. Họ yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi yêu nước là yêu dân tộc. Sự hy sinh gian khổ của họ chẳng những là một phí phạm không cần thiết mà còn gây nên những hệ lụy đau thương cho dân tộc. 
Câu chuyện đã trở nên phức tạp và có thể đưa đến sự tranh luận , nên thầy T nhìn chung quanh xem có tên "an-ten" nào không. Khi thấy an toàn thầy góp ý:


- Các anh ngây thơ hay lãng mạn cũng không có gì đáng trách vì tuổi thơ của thế hệ các anh ở MN đã sống hồn nhiên trong một xã hội hài hòa và nhân bản. Câu nói bập bẹ đầu đời của trẻ thơ MN thường là: " công cha như núi Thái sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra..." . Chứ không phải - "Tiếng nói đầu đời em gọi Stalin" (thơ Tô' Hữu). Lúc còn học ở lớp Ba, lớp Nhì chúng ta  hay đưa hình ảnh của ông ngọai, ông nội vào những bài tập làm văn - " ông tôi lưng còng, tóc bạc, da mồi v...v..." . Thấy sao chúng ta tả vậy. Chứ không ai dạy hay mớm cho chúng ta nói điêu, nói xạo như thế này:  "Ông Lenin ở nước Nga mà sao trông thấy rất là Việt nam " (thơ TH) - Cũng không có ai thúc đẩy các anh đấu tố, hay thù cha, hận mẹ vì những mưu đồ chính trị. Ngoài những bài học về khoa học tự nhiên, thầy giáo đã đưa vào tâm hồn các anh cái nhân, cái nghĩa .... Bài tập đọc đầu tiên có thể là đoạn văn xuôi của Thanh Tịnh: "Sáng nay , một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi ..." , ai đã đến trường đều thuộc bài ấy, dễ thương quá phải không?. Lời ca, tiếng hát đầu đời của trẻ thơ MN có thể là vài câu vọng cổ, một điệu hò, một khúc ca vui phù hợp với tuổi thơ, chứ không có những lời nghe rợn cả người: " thề phân thây , uống máu quân thù " . Ngoài việc tu trì, tôi đã có nhiều năm tham gia vào ngành giáo dục , tôi đi dạy học từ những năm đầu thập niên 60, tôi thấy thầy, cô và ngay cả Bộ Giáo Dục rất lơ là trong việc trang bị cho học sinh cái tinh thần chống "kẻ cướp" . Nhưng không sao, các anh, hay chúng ta thất bại trong chiến tranh bạo lực, nhưng lại có được một tâm hồn trong sáng , chân thật và một tấm lòng nhân hậu đối với đời  . 


- Tôi không trách Thầy, Cô cũng không phê bình chuơng trình giáo khoa của Bộ giáo dục - Tôi yêu và thích cái lề lối giáo dục đó. Khi nãy cha Khải nói chúng tôi lãng mạn nên thua. Nếu muốn biết lý do nào phát sinh hiện tượng "lãng mạn" trong thế hệ chúng tôi,  thì tôi sẽ kể cho quí ngài nghe cuộc đời của nhiều người, trong đó có tôi vào thời điểm Hà nội khởi động cuộc chiến tranh để suy ngẫm.


- Rất mong muốn được nghe anh kể . Cha K. trả lời.


Thầy Thu thêm vào :


- Mặc dù những năm đó tôi sống tại Saigon, nhưng cuộc đời tu trì đã hạn chế phần nào trong cái nhìn toàn diện về thực trạng xã hội và cuộc chiến . Anh là người trong cuộc đã gánh chịu nhiều hậu quả đau thương của thời thế, chúng tôi mong được biết để bổ túc cho phần nhận thức .


- Sẽ rất chủ quan , phiến diện, nhưng trung thực và  đặc trưng cho thân phận của những con người "sinh nhầm thế kỷ".

Tôi bắt đầu kể:


"Nhớ những ngày tôi rời quê hương Miền Trung nghèo khó để vào Saigon tìm cách tiến thân bằng đường học vấn, cha mẹ tiễn đưa tôi trong niềm vui xen lẫn một chút tự hào và đặt nhiều kỳ vọng nơi thằng con trai duy nhất. Còn tôi cũng thấy lòng phơi phới, tưởng chừng như tương lai tươi sáng đang rộng mở ... đón chờ ...


    Để bước vào năm đầu ở bậc đại học, tôi nạp đơn dự thi vào các trường chuyên nghiệp như y, dược, kỹ sư Phú thọ. Đây là những trường chuyên nghiệp mà các bậc phụ huynh mong ước con mình được vào học và cũng là ước mơ cuả nhìều học sinh có bằng tú tài hai, nhưng phải qua kỳ thi tuyển không phải dễ dàng, vì tỷ lệ được chọn rất ít. Thi xong tôi nằm chờ kết quả. Mấy tuần sau xem bản niêm yết không thấy tên mình, tôi cảm thấy hụt hẫng, muốn quay về quê xin dạy học ở các trường tư thục. Nhưng cha tôi nhắn tin vào bảo nên ở lại và ghi tên học lớp luyện thi để chờ năm tới . Cha tôi gởi thêm cho ít tiền "động viên" .


    Ngoài việc học lớp luyện thi tôi cũng theo những người bạn cùng chung cảnh ngộ ghi danh vào đại học khoa học, văn khoa, luật khoa ... v..v... Nói chung là ở Sàigòn có bao trường ĐH đều ghi tên xin học - dễ học chơi cho biết, khó thì bỏ - Lúc đó người ta gọi chúng tôi là đám "sinh viên liên trường" (Mấy năm sau này sv không được ghi danh nhiều trường nữa) .


   Ảnh hưởng từ "đám sv liên trường" cộng với những xáo trộn chính trị trong những năm sau ngày đảo chánh TT Ngô Đình Diệm đã biến tôi từ một người học trò chăm chỉ - bỏ quê ra tỉnh tìm chút chữ nghĩa tiến thân theo ước muốn của cha mẹ, trở thành một thanh niên mất định hướng, không nhìn thấy tương lai và mất niềm tin ở chính mình cũng như xã hội . Không ít người trong số các bạn bè của tôi mang tâm trạng đó.


   Để vơi bớt những hoang mang, khủng hoảng trong suy tư và hành động đám sv "liên trường" tìm đến những quán cafe, tập hút thuốc lá, ngồi tán  gẫu chuyện văn chương chữ nghĩa, triết lý cuộc đời, bình luận chính tri ...v...v... Bấy giờ không còn "lấy Kiều" hay lấy Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc ra để giải bày tâm sự mà bàn về các tác phẩm Nhận Định của Gs Nguyễn Văn Trung, Hố Thẳm Tư Tưởng của Phạm Công Thiện...với  một mớ từ ngữ lạ hoắc, khó hiểu; lý luận thì lòng vòng - Chúa chẳng ra, Phật chẳng ra Phật, chẳng phải duy tâm, cũng chẳng ra duy vật... Nói theo kiểu "huề vốn", hiểu sao cũng được và không có kết luận. Nghe nhạc thì phải là của Trịnh Công Sơn với những bài có âm tiếng Việt mới toanh, nghe thì êm tai nhưng chẳng hiểu, nhắm mắt lại để mường tượng thì cũng chẳng thấy những tiếng ấy diễn tả cái gì . (xin lỗi có lẽ tôi dốt nên không hiểu thấu cái cao siêu của tác giả và cũng không có tâm hồn nghệ sĩ để đồng cảm với TCS trong một số từ ngữ ông dùng mà có người cho rằng : "TCS là phù thủy cuả ngôn ngữ") . Lại thêm cái tật "tiếng tây tiếng u" chẳng có bao nhiêu mà thường trên tay lúc thì cuốn Bonjour Tristesse của Francois Sagan, lúc thì La Nausée của Jean Paul Sartre, rồi nói về hiện sinh của J.P. Sartre hoặc bàn về chủ nghĩa Cộng sản qua những bộ Tư Bản Luận ( Capital ) của Karl Marx, giống như mấy anh VC ngày nay nói về chủ nghĩa Marx.


     Hiện tượng chung trong suy tư và hành động là mơ mơ màng màng , thích cái lối ăn cơm thế gian mà nói chuyện âm phủ , ngồi dưới đất bàn chuyện trên trời ...Như vậy mới chứng tỏ ta là người có học. Đó là cái "mode" thời thượng .


    Nói chuyện âm phủ hay bàn chuyện trên trời thì vô thưởng vô phạt, nhưng đụng chuyện nhân gian thì phải tốn tiền , mà mỗi tháng tôi chỉ nhận được mấy trăm bạc do cha mẹ gởi cho, vừa đủ trả tiền cơm tháng và chút ít tiêu vặt, đâu có cái phụ khoản cho cafe, thuốc lá .... Để giải quyết những nhu cầu ngoài tiêu chuẩn tôi xin vào nội trú tại Đại học xá Minh Mạng, nơi đây được Bộ Xã Hội tài trợ, sinh viên ăn ở ít tốn kém hơn bên ngoài. Nhờ vậy dôi ra chút tiền còm cho các phí khoản linh tinh.


    Thời gian ở đại học xá, tôi có thêm bạn bè và gặp nhiều tay cao thủ. Tôi bắt đầu nhìn cuộc đời qua nhiều lăng kính, hướng đi cho tương lai không còn hạn hẹp. Lúc đó chưa có chế độ "giáo dục lý lịch" như những năm sau 1975, cho nên sv không mang nỗi hận trong lòng và nhận biết rằng khung trời ĐH không đóng cửa một ai, chỉ vì mình học còn dở mới không được vào, bằng chứng có một ít bạn bè cùng lớp với tôi đã trúng tuyển vào các trường chuyên nghiệp. Do vậy chúng tôi sống rất hồn nhiên và đôi khi tự an ủi mình qua vài câu thơ của Cụ Nguyễn Công Trứ - "Trời đâu riêng khó cho ta mãi ... hay - Rồng mây chưa gặp hội long vân ..." để chờ thời .


     Chờ thời là chờ cái cơ duyên đến với mỗi người để đưa đẩy cuộc đời về gần với định mệnh của họ. Lần lượt rồi mỗi người cũng tìm ra hướng đi như gia nhập quân đội VNCH, thi vào trường QGHC. Có một số vào "bưng" theo MTGPMN. Phần đông còn lại tiếp tục theo học ở các đại học Khoa học, Luật, Văn khoa và tiếp tục chờ thời .


    Đa số  sv lưu trú trong ĐHX không phải con nhà giàu có, nên phải tìm cách xoay xở kiếm tiền nuôi thân - chờ thời ...Những buổi tối, sau bữa cơm chiều, mỗi nhóm năm bảy tên quây quần vừa xem truyền hình vừa tán dóc. Câu chuyện bấy giờ không phải văn chương chữ nghĩa mà là chuyện kiếm tiền. Kiếm tiền bằng đủ cách: - biểu tình kiếm tiền - chạy hàng PX kiếm tiền - quay cours kiếm tiền - dạy kèm kiếm tiền v...v.... Một thằng học trò tỉnh lẻ, chân ướt chân ráo, chưa thuộc hết những con đường chính ở Sàigòn như tôi mà ngồi nghe mấy tay tổ nói chuyện làm tiền thì "ngộp" thật, như nghe chuyện phong thần . Nhưng " cùng tất biến - biến tất thông", cánh học trò miền Trung đa số rồi cũng làm ra tiền với một công việc lương thiện và ít phiêu lưu - đi "dạy kèm"-  mà mỗi khi có ai hỏi :- Mày đang làm gì? thì chúng tôi ví von rằng; - Đang làm "gia sư"- Tiếng của mấy bà mẹ Bắc kỳ tặng cho.


   Những buổi chiều về đám "gia sư" thường ngồi lại với nhau, kể chuyện buồn vui trong nghề. Làm "gia sư" thì có lắm chuyện cười ra nước mắt, cũng có những chuyện nhớ đời. Tôi nhớ mãi nét mặt của một bà mẹ Bắc kỳ, ở đuờng Gia Long. Sáng Chúa Nhật hôm đó, như thường lệ tôi đến dạy toán cho hai cô, cậu con nhà bà. Thông thường khi tôi bấm chuông, bà ra mở cửa đon đả mời chào:


-  "Mời vào, hôm nay gia sư đến sớm há , khoẻ không ?". Có lúc bà bảo: -" Mời cậu giáo vào ". Nhưng hôm nay mặt bà đanh lại, bà nhìn tôi xa lạ, tay cầm sẵn chiếc phong bì, chặn tôi tại cửa và giọng nói như gió rít qua song - "Thôi, cậu đừng đến dạy hai đứa nhỏ nữa". Ngừng một chút bà càm ràm như nói cho bà nghe "Dạy với dỗ - Chỉ có hư thân mất nết", rồi bà trao cho tôi chiếc phong bì. Cầm chiếc phong bì, tôi rất ngỡ ngàng, bối rối ... không biết nói gì, tôi khẽ gật đầu chào bà và quay về chỗ gởi xe đạp. Lững thững trên đưòng Gia Long, tôi nghĩ xem chuyện gì đã làm cho bà ta giận như vậy?  À, thì ra ... vì " ăn kem ở Tháp Con Ruà " . Chuyện thế này -  Hai đứa học trò bé bỏng của tôi - cô chị đang học Đệ Tứ, cậu em lớp Đệ Ngũ đã nhiều lần đề nghị với thầy " đi ăn kem" . Tôi ngần ngại, nên hứa khi nào thầy ra những bài tóan mà các em giải thông suốt, đúng 100% thì thầy sẽ bao. Chiều nay, Thứ Bảy chúng nhắc lại và buộc tôi phải giữ lời. Tôi ra hai bài toán hình học rất khó, thế mà hai đứa làm xong trước giờ và đúng hoàn toàn. Cô chị hí hửng bảo:

- "Thầy phải giữ lời hứa đó nghe" .

Tôi bảo :

- "Ờ , Các em xuống xin phép mẹ rồi mình đi". Cô chị vừa nguýt dài vừa nói :

- " Đời nào mẹ cho đi một mình - Thầy cứ ra trước ngồi đợi ở Tháp Con Ruà, chốc nữa tụi em ra ." .


    Nghe lời cô học trò bé bỏng nên mới ra cớ sự.  Đây chỉ là chuyện nhỏ, rất thường xảy ra trong đám gia sư và cũng là đề tài tán gẫu cho vui của những tên hay có cái tật - "dạy thằng em nhưng lén xem con chị ". Nhưng với tôi đây là một trong những sự kiện đã đưa đẩy đời tôi vào một ngõ rẽ mới .


    Đang chán cái phù phiếm của văn chương chữ nghĩa, lại gặp rắc rối trong nghề "gia sư" và tôi cũng ngán cái náo nhiệt, nóng bức của SG thì gặp lúc trường ĐH/CTCT mới mở, ra thông cáo tuyển sĩ quan hiện dịch, thời gian thụ huấn 2 năm ở Đà lạt , thế là tôi ghi tên dự thi và đời tôi gắn bó với quân đội từ dạo đó. Thời gian 2 năm thụ huấn ở ĐL đã để lại trong lòng tôi nhiều kỷ niệm đẹp, rất khó quên và tôi có thêm một số hành trang quí báu để bước vào đời....


Cha K trầm ngâm , rồi chậm rãi nói :


- Đó là do Chúa sắp đặt. Con người dù có vẫy vùng thế nào rồi Chúa cũng dẫn đưa về gần với định mệnh đã được Chúa an bài .


Thầy T thêm vào:


- Bên nhà Phật chúng tôi thì những cái duyên tạo thành cái nghiệp mà mỗi người phải sống với cái nghiệp của minh .


- Vậy thì mấy trăm anh em trong trường chúng tôi Chúa cho chung một định mệnh , và chắc tất cả cùng tạo cái duyên "lãng mạn" nên thua trận , bây giờ phải mang cái nghiệp ở tù.


Câu chuyện đang đứng đắn, đượm màu tôn giáo thiêng liêng bỗng trở nên có vẻ tiếu lâm. Thầy T cười cười phát biểu :


- Tại vì Chúa sắp đặt như thế .


Cha K cũng cười , nói lại : 


- Không phải thế đâu, vì các anh CTCT sợ phạm giới sát sanh , nên khi ra trận cứ bắn chỉ thiên .


- Thưa cha, thưa thầy không phải tại Chúa cũng chẳng do tại Phật mà tại vì chúng con nghe theo lời dạy của Thánh tổ Nguyễn Trãi: " Đem đại nghĩa thắng hung tàn - Lấy trí nhân thay cường bạo " nên mới thua bọn "ăn cuớp ".


    Cả ba chúng tôi cùng cười cởi mở .... lúc câu chuyện đang vui thì một hồi kẻng vang lên báo cho biết - Giờ "vào chuồng" đã đến . Sau một ngày nắng gắt , hơi nóng còn ủ lại trong buồng giam ít cửa sổ , những cơn gió lùa không vào đủ để đưa bớt hơi nóng ra ngoài. Hơn năm mươi con người lần lượt chui vào "tổ ấm" của mình - cái "tổ ấm" ấy chiều ngang không quá 60 phân , chiều dài 2 mét . Mỗi ngày trong trại tù có ba hồi kẻng: - Sáng - Chiều và Tối . Mỗi một hồi kẻng mang đến cho người tù một cảm giác khác nhau : - Hồi kẻng buổi sáng là " tiếng kêu của quỷ dữ "- báo cho người tù biết rằng dù thân thể mày có rã rời , suy kiệt đêm qua mày cũng phải bò ra khỏi phòng , để ra đồng hoặc vào rừng sâu làm lao động khổ sai theo chỉ tiêu dưới sự kiểm soát của các tên công an .


- Hồi kẻng buổi chiều là  "tiếng gọi của cõi âm" - sau khi cửa buồng khóa lại cho đến lúc nghe kiểng báo ngủ là khỏang thời gian người tù ngán ngẩm nhất - Trong căn phòng tù mù, thiếu dưỡng khí, hơi người tỏa ra quyện vào mùi khai nồng nặc của nước tiểu, mùi thối của phân người xông lên từ hố xí ở cuối phòng, những tấm thân gầy guộc ngồi hằng gìờ trong khoảng không gian ấy để kiểm thảo, phê bình lẫn nhau sau một ngày lao động ...Tưởng tượng như những con ma đói đang ngồi trong địa ngục. Chưa có ai về từ địa ngục để mô tả cho ta biết cảnh tượng đó thế nào , nhưng nếu có thì cũng đến thế là cùng.- Hồi kẻng cuối cùng trong ngày là " tiếng chuông ân huệ"- Từ giờ này những người tù khốn khổ sẽ "thả hồn vào mộng đi khắp muôn phương"



    Hôm nay, sau giờ "ngồi đồng" kiểm thảo, mỗi người trở về vị trí của mình chuẩn bị đì ngủ. Thầy T bỗng nổi hứng cất giọng oang oang: - "Không phải tại anh, cũng chẳng phải tại tôi - Tại ông Trời muốn thế nên chúng mình mới vào đây "



   Bên ngoài tên vệ binh đập vào tường thình thịch, rồi quát :"Anh lào giờ lày còn hát hò ninh tinh đấy? - Ngủ đi".



   Thầy T im bặt, tôi mỉm cười một mình trong bóng đêm và đang cố dỗ giấc ngủ để chờ chuyến tàu suốt đưa về Saigon, dẫn vợ con đi ăn phở gà Hiền Vương.



NT1 Lê Đức Luận