Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Tiếng chuông chùa Hàn San…

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Tiếng chuông chùa Hàn San…

In PDF.

 Tương truyền tiếng chuông chùa Hàn San là độc nhất vô nhị, sự cảm xúc đã gợi hứng cho rất nhiều thi nhân qua các triều đại, nhưng nổi bật vẫn là bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" của thi sĩ Trương Kế. Kiệt tác này hiện là pháp bảo vô giá của Hàn San, được khắc trên bia đá sừng sững giữa trời thi gan cùng tuế nguyệt.


   Chùa Hàn San tọa lạc bên bờ sông Cổ Vận thôn Thất Lý, nằm ngoài cổng Tây Xương thành cổ Tô Châu, nay thuộc trấn Phong Kiều, khu Kim Xương, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Chùa được xây cất vào năm Thiên Giám đời nhà Lương (CN 502-519). Xưa gọi là " Tháp Viện Diệu Lợi Phổ Minh ".


Vào năm Trinh Quán đời nhà Đường (627-649), theo truyền thuyết, lúc đó có hai vị danh tăng là Hàn San và Thập Đắc từ núi Thiên Đài đến trụ trì nơi đây, cho nên đổi tên là Hàn San. Trong hơn 1000 năm qua, chùa Hàn San đã 5 lần bị hỏa hoạn, lần trùng tu cuối cùng là vào khoảng năm Quang Tự đời Thanh (1875-1908). Trên lịch sử, chùa Hàn San từng là một trong mười ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Trung Quốc. Trong chùa di tích xưa rất nhiều, có bài văn bia được khắc trên đá của nhà thơ Trương Kế, có tượng Hàn San Thập Đắc được khắc bằng đá, những văn bia khắc bị vở của Văn Trưng Minh và Đường Dần...


    Qua con hẻm nhỏ đường Thạch Bản của cổ trấn Phong Kiều, hoặc đứng ở đầu cầu Phong Kiều, đưa mắt nhìn sẽ thấy trên con đường nhỏ quanh co xa tắp, thấp thoáng bóng chùa Hàn San với tường vàng ngói biếc, sân chùa tùng bách tươi xanh, tọa lạc trong rừng cây xanh thẳm.Trong bối cảnh thành Trường An chìm trong cơn tao loạn thì nhà thơ Trương Kế , một đại quan tiến sĩ Ngự Sử đài, chẳng kịp theo đoàn hộ giá vương tôn lánh nạn mà đành lưu lạc xuống tận miền Giang Nam trên chiếc thuyền phiêu bạt. Một đêm ghé bến Phong Kiều, động mối u hoài chất chứa, xúc cảm cùng ngoại cảnh thê lương, xuất thần viết nên bài thơ tuyệt diệu, vượt qua cả không gian và thời gian, lưu truyền hậu thế:


Phong Kiều Dạ Bạc (trong bài viết tắt là PKDB)
Trương Kế


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền


Tuy bài thơ rất hay, có cảnh, có vật, có âm thanh... nhưng rất nhiều người đã đặt 3 nghi vấn như sau:

Nghi vấn 1:

    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên: liệu có chim quạ kêu vào lúc trăng lặn không; hay Ô Đề là một địa danh? Thuyết này có nhiều người phản đối vì quạ kêu đêm vẫn có tuy là ít thấy.

Nghi vấn 2:


    Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên: Lại có nhà nghiên cứu cho rằng giang phong không phải là cây phong bên bờ sông mà là Giang thôn kiều và Phong kiều; sầu miên là núi Sầu Miên.


    Thuyết nầy cũng bị phản đối vì ở Tô Châu đất đai bằng phẳng không thể có núi Sầu Miên được (nhiều khách du lịch Việt Nam đã may mắn có dịp thăm chùa Hàn San ở Tô Châu và cả dân bản địa thì cũng có cùng một nhận xét như vậy, do đó nếu có bức tranh nào vẽ cảnh chùa Hàn San mà nằm bên sườn núi thì họa sĩ đã vẽ ... trật lất ). Ngoài ra, nếu xét về âm điệu của bài thơ thì chữ sầu miên có nghĩa là buồn không ngủ được thì đặc sắc hơn nhiều so với sầu miên là một địa danh.


    Ngoài ra để rông đường dư luận xin trích 7 vài thơ tiếng Anh dịch PKDB, chỉ trừ bài thứ 7 là của người Mỹ, còn lại 6 bài khác đều của các văn-thi-sĩ Trung Quốc, người bản xứ và chắc chắn là thông-hiểu ngọn ngành gốc tích ngôn ngữ của họ, giới thiệu bài thơ PKDB, nhưng không thấy có một bản dịch nào đã đề cập và giải thích "hai cây cầu Giang thôn kiều và Phong kiều " hoặc một ngọn núi có tên là "Sầu Miên"



BẢN DỊCH ANH NGỮ CỦA VĂN-THI-SĨ TRUNG HOA


1- NIGHT MOORING AT MAPLE BRIDGE
The moon descends, and crows cry in the frost-filled sky.
I gaze at the riverside maples and fisherman's light in melancholy sleeplessness,
Then, outside the town of Suzhou, the night bell of Han Shan
Temple, Reaches as far as my boat.
(http://www.apec2001fm.gov.cn/suzhou/e-suzhou/suzhou.htm)


2- ANCHORING AT NIGHT BY THE FENGQIAO BRIDGE
The moon sets and crows crow in a frosty sky,
the fisherman dozes off by his fishing light at the Feng Bridge;
the bell in Hanshan Temple on the outskirts of Suzhou chimes,
and arrives the passenger boat at midnight
(http://www.shanghai-rr.com/e-shrr/surround%20areas/main-3.htm)


3- A NIGHT'S MOORING AT THE MAPLE LEAF TREE
Moon sets, crows cry and frost fills all the sky;  
By maples and boat lights, I sleepless lie.  
Outside Suzhou Hanshan Temple is in sight;  
Its ringing bells reach my boat at midnight.
(http://www.chinapage.org/poet.html)


4- OVERNIGHT STAY AT FENG QIAO
The moon goes down and in frost-filled air rings crow's cry,
Sleepless, in the shadow of riverside maples, I stare at the fisherman's lantern.
Away from the town of Suzhou stands Han Shan Temple,
The chime of its mid-night bell reaches as far as my boat."  
(http://202.84.17.73/english/temple12.htm -Xinhua News Services)


5 MOORING FOR THE NIGHT AT FENGQIAO BRIDGE
The moon goes down, crows cry under a frosty sky,  
Dimly lit fishing boats' neath maples sadly lie.
Beyond the Suzhou walls the Temple of Cold Hill  
Rings bells, which reach my boat, breaking the midnight still.
(http://www.chinatour1.com/Jiangsu.htm -Jiangsu)


6- NIGHT-MOOR AT MAPLE BRIDGE  
Moon set, crows caw, frost fills the sky
River maples, fishing fires, drowsing in sorrow  
Outside Gusu City, the Cold Mountain Temple  
At the midnight bell, arrives the visitor's boat
(Zhang Ji)


7- A NIGHT-MOORING NEAR MAPLE BRIDGE  
While I watch the moon go down, a crow caws through the frost;
Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch;
And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,
Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.
(Witter Bynner)  


Nghi vấn 3:


Câu cuối cùng: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền: ngay cả nhà thơ Đỗ Phủ cũng chê câu nầy là không thực tế vì làm gì mà lại nghe được chuông chùa vào lúc nửa đêm.


Để giải thích điều này theo Trần Trọng San và nhiều người khác đã truyền tung giai thoại về bài thơ của sư đồ chùa Hàn San:


Giai thoại kể rằng, một hôm nhà thơ Trương Kế đi chơi thuyền trên sông. Đêm đã về khuya, nhà thơ cao hứng cất lên hai câu thơ tuyệt tác:


 Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên


    Đến đây nhà thơ của chúng ta có lẽ chưa cảm hứng làm tiếp hai câu sau. Cùng lúc đó tại chùa Hàn San sư cụ trụ trì cảm hứng nghĩ ra 2 câu thơ:


Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung


Đến đây thì sư cụ nghĩ mãi không hai câu tiếp. Bổng có tiếng gõ cửa; thì ra một chú tiểu cũng đang trằn trọc vì hai câu thơ mới nghĩ ra mà không làm tiếp được muốn xin thầy làm giúp, đấy là:


Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để bán phù không.

Nghe xong, sư cụ mừng quá vì quả thật 2 câu thơ của chú tiểu ăn khớp với 2 câu của sư cụ thành 1 bài tứ tuyệt mà Trần Trọng San đã dịch như sau:


Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời
Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước, nửa cài từng không


Để tạ ơn Thần Phật, phá lệ thường, sư cụ cho dóng lên một hồi chuông giữa đêm khuya thanh vắng. Phần nhà thơ Trương Kế, vẫn đang trằn trọc với hình ành “Nguyệt lạc ô đề” mà chưa ngủ được; bỗng đâu nghe tiếng chuông chùa vừa thực vừa hư gieo vào lòng ông thi hứng, thi nhân viết nốt 2 câu cuối, và cũng là 2 câu thơ để lại nhiều tranh cãi luận bàn cho hậu thế:


Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.


Theo thiển ý của người viết thì giai thoại trên có lẽ chỉ là một câu chuyện để thi vị hóa  thêm bài thơ PKDB của Trương Kế như thể thắp thêm một ngọn nến bên ánh đèn lưu ly. Bởi lẽ ngoài nhà thơ tài danh này mấy ai chứng minh được là ông chỉ làm được hai câu rồi cụt thi hứng phải chờ đến tiếchuông chủa nữa đêm mới hoàn tất bài thơ.


   Trong "Lục Nhất thi thoại" - cuốn sách mở đầu cho thể giai thoại về thơ trong lịch sử văn học Trung Quốc - của Âu Dương Tu (1007 - 1072) nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời Bắc Tống, câu thứ tư trong bài PKDB: "Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" trước đó chưa có ai phát biểu, Âu Dương Tu là người đầu tiên thắc mắc: "Các nhà thơ thường tham những câu hay mà lý thì có chỗ không thông.


"Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" … hay thì có hay, nhưng canh ba quả không phải lúc nhà chùa đánh chuông."


   Sau đó dấy lên một loạt tranh cãi của các "nhà" về câu thơ này. Diệp Mộng Đắc cũng đời Tống viết trong "Thạch Lâm thi thoại": "Có lẽ ông Âu Dương chưa từng đến Ngô Trung (chỉ Tô Châu) chứ chùa chiền đất Ngô Trung cho đến nay vẫn thỉnh chuông vào nửa đêm."


    Sách "Đường thi kỷ sự" thì nói: "Đất này có chuông nửa đêm gọi là "Vô Thường chung". Trương Kế ghi lại một điều có thực mà ông cho là lạ, còn ông Âu Dương Tu cho là "bệnh ngữ" thì không phải!"


   Hồ Tử cũng đời Tống trong cuốn "Điều Khê ngư ẩn tùng thoại" nói kỹ hơn: "Sách Nam Tử có chép bài thơ "Cảnh Dương lâu" của Từ Võ Đế, bài ấy có nói đến chuông canh ba, chuông canh năm. Khi Ngô Cảnh Trọng làm thái thú Ngô Hưng thì cấm chuông nửa đêm. Các nhà đời Đường, như Bạch Lạc Thiên, Ôn Đình Quân, nói nhiều đến chuông nửa đêm. Ông Âu Dương chắc không khảo cứu đến…"


    Lại nữa nhà thơ là người cảm được và chuyển tải được cái đẹp theo sự thăng hoa của mình mà không theo một lý luận cứng nhắc của khoa học, một không gian thời gian theo lý lẽ đời thường. Và phải chăng trong lúc đêm khuya đối mặt với cảnh thê lương, một mình trên thuyền sầu không ngủ được bổng chốc trong một sát na (*) nào đó tiếng chuông từ tâm thức vọng lại làm nhà thơ đốn ngộ, tâm và cảnh đã nhập làm một, mới viết nên một bài thơ tuyệt tác nhưng lại gây nhiều tranh cãi như vậy.



 (*) Danh từ sát na (Khana) được dùng để chỉ thời gian chớp nhoáng của mỗi biến đổi. Theo Abhidhamma Mahàvibhàsa (Đại Trí Luận) những sự biến đổi của hiện tượng giới được giải thích một cách rõ ràng như sau: "Vạn pháp luôn luôn biến đổi, không một vật gì có thể tồn tại trong hai sát na liên tiếp". Một ngày 24 giờ được tính bằng sáu ngàn bốn trăm tỷ, chín vạn, chín ngàn, chín trăm tám mươi sát na.



NT1 Nguyễn Đăng Hương
01693974314