Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 35 năm khóa 4 ra trường (22 - 4 - 1975 - 22 - 4 2010)

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

35 năm khóa 4 ra trường (22 - 4 - 1975 - 22 - 4 2010)

In PDF.

 



   Trong bối  cảnh đất nước đang hồi dầu sôi lửa bỏng, ngày 22 tháng 4 năm 1975, khóa 4 SVSQ/ĐH/CTCT/HD/ĐL ra trường để cung ứng chiến trường khi đang mang trên vai phù hiệu Sinh Viên Sĩ Quan năm thứ 3. Sánh vai cùng  các khóa 28 và 29 VBQG, khóa NT4 đáp lại lời thiêng sông núi khi tổ quốc lâm nguy. Trong khung cảnh đơn sơ ngày mãn khóa tại sân cờ tiểu đoàn 30 CTCT ở Hố Nai, Biên Hòa, 198 tân thiếu úy lên đường ra đơn vị giữa bao xót xa lệ dâng tràn mi của thân nhân, quý vị sĩ quan quân trường và đông đủ hai khóa đàn em NT5 và NT6 đang thụ huấn.


   Đoàn xe GMC của các đơn vị Nhảy Dù, Thủy quân Lục Chiến và Liên Đoàn 81 Biệt cách Nhảy Dù rời điểm xuất phát  tại TĐ 50 CTCT, xa dần rồi mất hẳn giữa đám khói bụi mịt mù, bỏ lại đằng sau những cánh tay vẫy tiển đưa  trong nổi nghẹn ngào trước cảnh bi hùng của người đi.


   Tuy vỏn vẹn chiến đấu trong 6 ngày thì gặp lúc quân đội anh hùng bị bức tử, nhưng các dũng sĩ khóa NT4 đã góp mặt khắp các chiến trường để bảo vệ thủ đô Sài Gòn yêu dấu, như Ngã tư Bảy Hiền, trại Hoàng hoa Thám, cầu xa lộ, cầu Tân cảng, vườn Tao Đàn, Long Thành, Long Bình, Quốc lộ 1, Thủ Đức, Biên Hòa trong các đơn vị tổng trừ bị đầy tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa.



Khóa 4 SVSQ/CTCT/HD chỉ buông súng khi có lệnh đầu hàng. Mộng chưa thỏa, chí lớn chưa tròn và nợ núi sông còn dang dở. Tâm tư nuối tiếc nghĩa tình trường Mẹ qua hai năm chín tháng dùi mài kinh sử chưa nguôi ngoai. Niềm kiêu hãnh còn mãi âm vang kỷ niệm hai mùa chiến dịch vùng 1 và vùng 4 khi sớm được thử thách, cho chân cứng đá mềm, nhất là khi được về thủ đô Sài Gòn tham dự  ngày Quân  Lực 19/6/73, để cùng tung nhịp bước quân hành với các đơn vị bạn trong một ngày hùng tráng của quân lực Việt Nam Cọng Hòa.


    Vỏn vẹn 6 ngày đeo lon thiếu úy, nhưng tập thể khóa 4 được tôi luyện như một tác phẩm dày công của vị chỉ huy trưởng, quý  sĩ quan cán bộ, quý giáo sư, huấn luyện viên và trở thành những viên ngọc quý với nhiều kỳ vọng ở tương lai cho đất nước như lời đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, vị chỉ huy trưởng từng ôm ấp:


- Khóa 4 năm 2005 nhớ làm kỷ niệm 30 năm ra trường. Tôi trân quý vì đã đào tạo công kỹ từ dầu đến cuối và đặt nhiều hoài vọng. Tôi dù già yếu nhưng sẽ tham dự.


    Đất nước ly tan, khóa 4 theo chân đàn anh và bao người vào trại tập trung cải tạo. Trung bình phải đổi một ngày lính hai ngày tù: đa số mỗi anh em đều hạ năm cuốn lịch và qua nhiều trại tù như: Cổng Trời, Thanh Hóa, Cồn Tiên, Tiên lãnh, A 30, suối máu, Long Giao, Vườn đào, Năm Căn, Long Khánh, Lam Sơn...


    Vào lúc mất nước, có bốn người nhanh chân di tản qua Mỹ, nay đa số đều thành danh hoặc thành công. Còn lại 195 anh em  lại gặp nhau dài lâu hơn trong tù từ Bắc tới Nam, lâu nhất là Nguyễn Tiến Đạt, Giang văn Thuật, Nguyễn Đức Trọng. Bị hành hạ dã man nhất nhưng anh dũng nhất có Phan Duyệt, Đào Vân.


    Khi có chương trình HO, chương  trình định cư nhân đạo cho nhân viên, sĩ quan quân đội VNCH bị tù tội, khóa 4 có tỷ lệ cao với khoảng 100 người, kể cả vượt biên vượt biển và định cư nhiều nhất là ở Hoa Kỳ, kế đến là Canada, Úc đại Lợi, Pháp, Anh quốc, Bỉ, Hòa Lan.


   Qua 35 năm nhìn lại, đa số cá anh em NT4 đã làm vẻ vang khóa mình bằng những cống hiến cho đất nước  Hoa kỳ và các nước với nhiều thành quả bằng cả kiến thức khoa bảng và nhiệt tình phục vụ như: Phạm Tú, Nguyễn Thanh Bình, Vũ Đức Thiện, Nguyễn Tố, Nguyễn Tâm, Đỗ Xuân Vượng, Nguyễn Báu, Phạm Đình Bằng, Dương Đức Tân, Trần Thanh Sơn, Phạm Gia Thái.


*
    Nhìn lại, anh em khóa 4 vẫn khắng khít với nhau trong tình thân ái, chia sẽ nhau trong mọi hoàn cảnh và tương trợ anh em đồng môn ở quê nhà mỗi khi gặp tai ương mệnh trời, hoặc tiếp sức cho nhau khi ngặt nghèo ốm đau và những hoàn cảnh vô vọng. Hầu như bất cứ lúc nào cũng tràn trề những ân tình mỗi khi có lời kêu gọi. Những tấm lòng vàng với phương châm không quên bè bạn, không chỉ riêng những đại gia có trái tim vàng như Nguyễn Gia Hưng, Tôn Tiến Khang, Nguyễn Tâm, Uông Tiến Thắng, Nguyễn Đức Lai, Phạm Tú, Dương Đức Tân mà luôn có những người bạn có tâm Bồ Tát luôn mở rộng trái tim như: Đứng đầu là  Nguyễn Quốc Chính, Trương Xuân Hùng, Phan Duyệt, Vũ đình Kiên, Trần văn Thanh, Trần Thanh Sơn, Nguyễn văn Thái, Nguyễn Chãnh, Lê Văn Minh, Lê Quốc Hùng, Nguyễn văn Lương, Phạm đình Bằng, Trần Ngọc Long, Vũ quang Hưng, Vũ Đức Thiện, Trần văn Thiện, Nguyễn văn Mỹ, Nguyễn tiến Đạt, Nguyễn Báu, Phạm thiện Căn, Nguyễn ngọc Sơn, Huỳnh Viết Song, Ng Văn Xuân, Lê Sơn, Lê đức Ái...và nhiều anh em khác.


     Khóa 4 hải ngoại nuôi dưỡng tinh thần hiếu học cho con em bạn bè mình ở Việt nam với chương tình khuyến học và bảo trợ thường xuyên. Ngoài những đóng góp đều đặn vào dịp cuối năm để giúp các cháu có thêm phương tiện học hành, các bạn như Vũ quang Hưng, Tôn tiến Khang, Phạm Gia Thái, Nguyễn quốc Chính, Nguyễn Tâm là những người có chương trình bảo trợ định kỳ để giúp vào trường hợp một vài cháu quá nghèo mà ham học trong hoàn cảnh cha mẹ bất lực tài chánh như  cháu Lê quốc Tuấn đang học y khoa năm thứ 4, con của NT4 Lê văn Hai ở miền Tây Việt Nam.


*
    Khóa 4 SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL hình thành khi có lệnh đôn quân 1972 với tinh hoa đất nước khắp mọi miền cùng tranh tuyển. Có 208 thí sinh trúng tuyển nhập học trên tổng số mười ngàn người từ 4 trung tâm của vùng 1,2,3,4. Sau 35 năm, có khoảng 20 người vĩnh viễn ra đi do bệnh tật, anh dũng hy sinh trên chiến trường, tù đày, vượt biển. Hiện còn khoảng tám mươi anh em còn ở quê nhà, trên mười (10)  người đã lên chức ông nội, ông ngoại. Người còn độc thân sắp lập gia đình là bạn Vũ Viết Lộc  ĐĐ/C. Vị đại đức Phật giáo muộn màn  tại Mỹ là Nguyễn cao Hiếu, thuộc toán quốc quân kỳ ngày xưa. Người nhiều con nhất là Nguyễn văn Thanh, có 8 đứa hiện ở Úc. Con cái thành đạt nhất là Phạm thiện Căn, hiện ở Santa Ana, Nam  Cali.


    Xuất hiện thành công trước cộng đồng với tài MC duyên dáng là Lê quốc Hùng, tài năng kể chuyện vui nhất nước Mỹ là Vĩnh Thạc, hội trưởng hội Yamaha có Vĩnh Tấn, thái thượng hoàng có Trần Thanh Sơn, quán quân du lịch ham vui có Dương đức Tân người Angle, mộc mỹ nghệ đa tài mà đẹp lão đa tài có Trương Xuân Hùng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn văn Mỹ, bốc sư tiếng tăm mọi miền có Lê quang Thông, trái tim ấp ủ tình người có Nguyễn văn Trung, “bi di nét” thành công vượt bực có Tôn tiến Khang, phùng thời lên cơ nghiệp có Uông tiến Thắng nhờ mua nhà trúng. Mặt khác, trâu chậm uồng nước trong có Trần Văn Thanh, nhất nghệ tinh nhất thân vinh thợ tiện là Trần Ngọc Long, thể dục dẻo dai có  Nguyễn thanh Bình, chef cook hoàn cầu món cá sống có Tạ Tử.. Long lân quy phụng có nhất Vượng, nhì Quy, tam Nguyên, Tứ Thọ, thơ văn uyên bác có Nguyễn Gia Hưng, văn võ song toàn có Vũ đình Kiên, trẻ mãi không già  có Lê văn Minh và Vũ đức Thiện, nói ít làm nhiều có Nguyễn tiến Đạt, tài danh hoa mỹ có Nguyễn Xuân Thu....


*
    Tháng 7 năm 2005 khóa 4 gặp gỡ lần đầu tại Cali sau 30 năm xa trường Mẹ. Những tay bắt mặt mừng cùng bao chuyện xưa cũ gợi nhớ được tìm về. Nhiều gương mặt, giọng nói quá đổi thay qua bao thăng trầm thế sự, nay nhìn không ra. Những tiếng la hét từ bao ức nén thương yêu như không đủ thỏa mãn lần gặp gỡ, kỳ ngộ nơi xứ người. Niềm hạnh phúc tình đồng khóa khó tả. Thời gian như đứng sững lại để cùng chiêm ngưỡng, thú vị khi anh em nhìn nhau lại sau bao năm tháng. Cái ngày ấy của năm 1975, trên những chiếc xe GMC ra đơn vị, khi  bịn rịn vẫy tay chào nhau không nói một lời, vì thừa biết chia tay nầy biết bao giờ gặp lại. Khoảng bảy mươi cựu sinh viên sĩ quan và gia đình từ Canada, Úc, Anh, Hòa Lan, Mỹ đoàn tụ như một giấc mơ thiên đường thành sự thật. Thân nhân gia đình nhìn cảnh "họ" ôm chầm lấy nhau, hét la, reo mừng, cũng phải thầm nghĩ cái ngày ấy phải như thế nào, để hôm nay có những phút giây hạnh ngộ đầy xúc động như thế nầy.


    Trong một lần nói chuyện với bạn Võ Văn Hùng từ Gia lai, anh ta nhắc lại phương châm ngày xưa: Một lý tưởng là quốc gia, một ý chí là chống Cộng và một con đường là Quân đội.   Cuối tháng 6/1975 anh ta bị bắt làm tù binh trong chiến dịch cải tiến và hiệu năng đơn vị tại Kiên Giang vùng 4 CT và được thả sau 1975. Anh tâm sự ngày vào quân trường hiện dịch, chấp nhận suốt đời phục vụ trong quân đội như một lý tưởng bằng một ý chí sắt đá. Con đường xây đắp thời sinh viên sĩ quan có ai ngờ anh lại đi qua con đường tù binh oan nghiệt đầy đắng cay và cơ cực với Nguyễn thanh Triều, Hứa danh Lưu...và bây giờ đông đảo các bạn theo con đường xuất ngoại, xa cách và ngăn cách..     Hằng năm, trong chương trình giúp đỡ hướng về bạn bè ở lại, anh em có những quan tâm cho nhau như một thông điệp luôn còn  yêu thương. Không biết bên ấy, khung trời Pleiku phố núi mờ sương nơi dăm phút đã về chốn cũ...bạn có vơi những nỗi buồn, nhất là nó đến bất chợt khi ngày tháng phôi pha với màu tóc đã phai màu trên vùng đất có mưa nhiều hơn nắng, nơi hoàng hôn vội đến đuổi ánh bình minh.



Hoa Biển NT4 Phạm Hữu Huê

Như mới ngày nào, ký-ức còn mồn một bao dư âm ngày tháng cũ. Khóa 4 có quá nhiều ấn tượng cho một đời người ngắn ngủi, khi vinh quang và cay đắng nối liền nhau. Hai chế độ tiếp nhau, lộ rõ đâu là nhân bản con người, đâu là tàn bạo phi nhân. Khi quỳ xuống Sinh viên sĩ quan và đứng dậy Tân Sĩ Quan là lúc đón nhận trách nhiệm thiêng liêng, đời trai cho sông núi, khóa 4 cảm nhận niềm vinh quang đi góp sức bảo vệ sơn hà để rồi mệnh nước tới, chỉ vài ngày sau lại làm thân tù tội, bị đọa đày, dằn vặt vì bị hạ bệ cùng cực nhân phẩm. Có 6 ngày làm quan, áo quần trận chưa kịp thay vì cuốn hút theo bao nỗi diêu linh chinh chiến, để có mãi nổi căm hờn của ngày tháng mênh mông nước sông công tù, vì chí trai chưa thỏa. Từ những đôi dép lốp mòn dần theo thời gian vô vọng trên vùng trường sơn rừng thiêng nước độc, cuộc sống sau ba mươi lăm năm bây giờ ngập tràn vật chất cao sang giữa một xã hội văn minh đầy nhân bản, tình thương và hy vọng. Quá khứ, hiện tại và tương lai khép kín trong một vòng cung hữu hạn của một đời người, với hành trang Trí Nhân Dũng Thành luôn định vị cho ta lẽ sống, để mỗi chúng ta không hổ thẹn với quá khứ và mãi mãi  ngẩn đầu thách đố với bạo lực, như con chim ưng bay ngược phía bình minh:
Hỡi những người được đào tạo!


Hãy  nuôi dưỡng và tiếp nối những kỳ vọng.



Hoa Biển
NT4 Phạm Hữu Huê