Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2010 TRƯỚC VÀ SAU GIỜ ‘GÃY SÚNG’

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

TRƯỚC VÀ SAU GIỜ ‘GÃY SÚNG’

In PDF.

 




Lời dẫn: Thể theo tinh thần chủ đề «Ba mươi lăm năm nhìn lại», tôi xin lược kể một cách trung thực một số sự kiện đã xảy ra cho đơn vị và bản thân tôi trước và sau giờ ‘gãy súng’. Tuy nhìn thoáng qua thì đây là những sự kiện nhỏ nhoi và có tính cách riêng tư, nhưng nếu «nhìn lại» thì nó lại mang tính cách «biểu trưng». Thật vậy, thời gian 35 năm tạm đủ để những người trong cuộc như chúng ta có thể thoát khỏi những tình cảm chủ quan để «nhìn lại» vấn đề một cách khách quan hơn. Đã từ lâu mỗi khi nhắc đến sự thảm bại của Việt Nam Cộng Hòa với sự kết thúc đau đớn và tủi nhục vào ngày 30/4/75. Chúng ta đều đồng ý với nhau rằng tại đồng minh Hoa kỳ bội ước «bán đứng miền Nam cho Việt cộng» để hoàn thành chiến lược toàn cầu của họ. Nhưng nếu ta đặt vấn đề chặt chẽ hơn: Tại sao miền Nam lại sụp đổ một cách quá mau chóng, sớm hơn cả sự dự định của  Bộ chính trị VC - kẻ đã hoạch định kế hoạch thôn tính miền Nam -  ít nhất là nửa năm  thì câu trả lời nêu trên chưa thỏa đáng. Nói một cách khác là nếu Hoa Kỳ âm mưu «bán đứng» miền Nam cho Hà Nội thì trước sau gì miền Nam cũng sẽ bị miền Bắc thôn tính (miền Nam không làm sao tự lực tự cường chiến đấu mà có thể đương cự lâu dài nổi miền Bắc khi chúng được sự viện trợ ồ ạt của cả khối Cộng sản).


Một cách rất chủ quan, tôi «nhìn lại» những gì xảy ra với đơn vị và bản thân tôi rồi suy diễn ra thì có thể tìm được một câu trả lời tương đối ổn thỏa hơn cho câu hỏi nêu trên: Chính sự triệt thoái khỏi Cao nguyên Trung phần một cách vội vã, thiếu chuẩn bị, thiếu điều nghiên tình hình và thực địa, thiếu cả biện pháp đối phó với địch nếu bị chúng chận đánh trên đường rút quân, mà chỉ dựa vào «yếu tố bất ngờ» rất không «bất ngờ» chút nào cả, đúng hơn là chỉ dựa trên yếu tố May Rủi, một canh bạc điên rồ và nguy hiểm . Hậu quả là lực lượng của cả một quân đoàn mà bị VC xé ra từng mảnh và đánh cho tan tác ! Sự thảm bại quá dễ dàng cộng với thảm cảnh quân dân ‘di tản’ bị VC thảm sát quá hãi hùng được các đài phát thanh ngoại quốc tường thuật lại đã gây chấn động cả nước và đặc biệt là đã làm suy sụp hoàn toàn tinh thần chiến đấu của quân dân  của vùng I và một phần  vùng II.  Cảnh tháo chạy lại tiếp diễn tại vùng I (trong đó có đơn vị của tôi) và mấy tỉnh còn lại của vùng II.  Thêm vào đó có một số ‘ông lớn’ vô trách nhiệm đã lo dẫn gia đình mình chạy trước đến những nơi an toàn, bỏ mặc thuộc cấp bơ vơ như rắn không đầu! Sự ích kỷ nầy khiến cho quân sĩ mất tin tưởng vào cấp chỉ huy nên đã tự động rời bỏ hàng ngũ, trốn về lo cho gia đình.  Tình trạng mạnh ai nấy chạy nầy càng thúc đẩy cho miền Nam chóng bị sụp đổ thêm. Rõ là đất nước đã đến hồi mạt vận! Xin mời qui vị cùng «nhìn lại» những gì xảy ra trong thời điểm đó…

**********


    Cuộc «di tản chiến thuật» vội vã với những tổn thất lớn lao khỏi Cao Nguyên Trung Phần vào trung tuần tháng 3 năm 1975 đã có những tác động tâm lý không mấy tốt đối với quân dân miền Trung, ngược lại Việt Cộng lợi dụng khai thác tối đa sự sai lầm nầy để nâng cao tinh thần cán binh của chúng, đồng thời chớp thời cơ phát động các cuộc tấn công trên cùng khắp các mặt trận, gây nên một áp lực nặng nề trên toàn lãnh thổ của vùng I chiến thuật.


    Vào hạ tuần tháng 3 năm 1975, mặt trận tại vùng I trở nên vô cùng sôi động. Trung Đoàn 6 bộ binh (TRĐ6BB) chịu trách nhiệm bảo vệ mặt tây và tây nam Quảng Ngãi, nhưng đang lâm vào tình trạng khó khăn vì sự chênh lệch quá lớn cả về quân số lẫn vũ khí chiến cụ giữa địch với ta. Trung Đoàn không đủ quân số để dàn trải làm một vòng đai phòng thủ vững chắc mặt tây nam quận Nghĩa hành trước áp lực của Cộng quân.


     Trung Đoàn 6 BB tuy từ lâu được di chuyển vào phía nam, hậu cứ đóng gần căn cứ Chu Lai, nhưng vẫn còn duy trì một cơ sở hậu cứ cũ tại Phước Tường phía nam Đà Nẵng.


    Do đó sáng ngày 24/3/75 tôi được lệnh đi Phước Tường để theo dõi tình hình và thu xếp mọi việc nếu tình thế bắt buộc, nhưng khi ra đến cầu Bà Bầu thì bị chận lại vì thị xã Tam Kỳ đang bị cộng quân tấn công mãnh liệt, tôi đành phải trở về. Tối hôm đó (24/3/75) chúng tôi được tin Tam Kỳ đã lọt vào tay Việt cộng.  Quốc lộ 1, con đường trọng yếu duy nhất để liên lạc giữa Bộ tư lệnh (BTL) Sư Đoàn 2 bộ binh và BTL Quân Đoàn I đã bị cắt đứt.


  Về phía nam, tại mặt trận Quảng Ngãi, lực lượng của VC gồm có Lữ đoàn 52 và 2 Tiểu đoàn đặc công được tăng cường xe tăng và xe thiết giáp của Trung đoàn 574 phối hợp với Trung đoàn 94 đang bao vây thị xã Quảng Ngãi. Trưa ngày 24/3/75, trước áp lực một gia tăng của cộng quân, Trung Đoàn 6 BB được lệnh triệt thoái dần về gần thị xã Quảng Ngãi để chờ lệnh. Sau đó, cũng như các đơn vị bạn gồm có Thiết Giáp, Biệt Động Quân, và các đơn vị địa phương của Tiểu khu Quảng Ngãi, Bộ chỉ huy hành quân của TRĐ lại được lệnh cho rút lui toàn bộ lực lượng về căn cứ Chu Lai. Từ lâu TRĐ 6 BB và các Tiểu Đoàn BĐQ hoạt động tại Quảng Ngãi để bảo vệ an ninh cho dân chúng và yểm trợ cho các đơn vị địa phương, đã là chỗ dựa vững chắc và tin tưởng của dân chúng, nay có lệnh  đột ngột triệt thoái toàn bộ lực lượng, bỏ ngõ Quảng Ngãi. Tin tức được tiết lộ ra ngoài khiến cho dân chúng hốt hoảng. Người người bảo nhau lo vơ vội một ít của cải, thực phẩm rồi ùn ùn kéo theo chân đoàn quân triệt thoái.  Họ dùng mọi phương tiện sẵn có như xe chở khách, xe vận tải, xe du lịch, xe honda, xe đạp thậm chí cả người gồng gánh đi bộ bám theo đoàn quân gây nên một cảnh hổn loạn rất bất tiện cho một cuộc rút quân!


    Vì quân xa phải chở quân trang, quân dụng, chiến cụ nên tất cả quân nhân đều phải di chuyển bằng đường bộ, ngoại trừ  một số sĩ quan chỉ huy được đi trên các xe thiết giáp chạy trước mở đường.  Phần sau đoàn quân  dân chúng và các xe cộ dân sự chạy xen lẫn trong đoàn quân khiến cho sự điều động trở nên vô cùng khó khăn và chậm chạp ! Yếu tố bất ngờ không còn nữa nên Việt cộng có đủ thì giờ để điều động thêm các đơn vị du kích tham gia vào việc tấn công vào đoàn quân dân di tản.


    Trời đã về chiều, đoàn quân dân tiếp tục hướng về phía bắc. Khi di chuyển đến Dốc Miếu (Dốc Trạm) thuộc xã Sơn Hương, cuối quận Sơn Tịnh -  Một nơi có địa thế hiểm yếu, con đường quốc lộ 1 vừa phải lên dốc lại chạy lọt vào giữa hai bờ đường cao có những bụi cây lúp xúp, rất thích hợp việc phục kích - thì bị VC chận đánh. Tuy lực lượng di tản đã có chuẩn bị đối phó nhưng vẫn bị lâm vào tình thế bất lợi vì VC nằm phục sẵn trên 2 bờ đường cao bắn xối xả xuống đoàn quân đang di chuyển phía dưới bằng đủ loại vũ khí lớn nhỏ. Các xe thiết giáp của ta liền khai hỏa phản kích mở đường tiếp tục chạy về phía trước. Sự phản kích tỏ ra hữu hiệu đã áp đảo được địch khiến cho hỏa lực của chúng bị giảm sút, nhờ đó nên số quân xa đi đầu chạy thoát ra khỏi vị trí hiểm yếu nầy. Nhưng không lâu sau đó VC lấy lại bình tỉnh, dùng B40, B41 bắn cháy vài chiếc quân xa và xe của dân khiến cho con đường bị tắc nghẽn. Xe cộ đủ loại bị dồn lại thành một dãy dài làm mục tiêu bất động cho VC thỏa sức bắn giết!


   Cũng giống như tại «Đại lộ kinh hoàng» vào  Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 tại Quảng Trị, và có lẽ cũng không khác mấy với thảm trạng trên liên tỉnh lộ 7B vào trung tuần tháng 3 vừa qua, Việt cộng đã dùng đủ loại súng bắn xả vào đoàn người và xe cộ bị dồn đống lại với chủ đích tàn sát được càng nhiều càng tốt, bất kể là dân hay lính.  Trong khi đó phần  còn lại của lực lượng di tản lâm vào tình cảnh hổn loạn, mọi người đều lo chạy thoát thân không còn ai chỉ huy ai được nên gần như tê liệt, không có một sự phản kích nào đáng kể, để mặc cho Cộng quân tự do bắn giết. Thảm cảnh tàn sát lại tái diễn, xác quân, dân đầy máu me hay bị cháy cong queo nằm la liệt trên mặt đường, những người bị thương nặng rên la kêu gào thảm thiết nằm chờ chết, những người bị thương nhẹ hơn còn di chuyển được vẫn cố gắng tìm cách chạy về phía bắc…     Quân dân mạnh ai nấy chạy, tất cả đều rời quốc lộ tỏa ra hai bên đường, một số quân nhân còn vũ khí vừa bắn trả vừa nhắm hướng bắc mà chạy thục mạng mặc cho VC tiếp tục truy sát sau lưng! Một số khác băng đồng hướng về phía biển rồi tìm đường chạy về Chu Lai. Khốn khổ thay, lúc nầy các lực lượng du kích cũng đã được huy động truy sát đoàn người đang tháo chạy tứ tán. Màng đêm buông xuống, nhưng tiếng súng của VC vẫn còn nổ vang dọc theo đường quốc lộ 1! Chúng đang tiếp tục tàn sát số dân chúng  còn bị kẹt lại trên đường. Tuy nhờ đêm tối che chở nên một số lớn quân nhân  đã luồn lách chạy về được đến Chu Lai, nhưng không ít quân nhân và dân chúng bị bọn du kích địa phương bắn chết trong lúc chạy bộ tìm đường thoát thân nầy, trong số đó có một người anh họ của tôi là một Thiếu Úy thuộc Liên Đoàn 12 BĐQ đóng tại  Bình Liên. Tuy anh đã cẩn thận thay bộ đồ dân sự trước khi chạy nhưng vẫn không thoát khỏi họng súng tàn bạo của VC.


    Đoàn thiết giáp và quân xa thoát khỏi trận phục kích tại Sơn Hương tiếp tục mở đường chạy về phía bắc, nhưng khi đến Nước Mặn, cách Chu Lai khoảng 8 cây số về phía nam thì bị khựng lại vì du kích đã giật sập cây cầu nầy. Đoàn quân phải băng đồng chạy về Chu Lai.  Mãi đến tối hôm đó TOC Trung Đoàn mới bắt lại được liên lạc và nhận được tin Trung Tá Trung Đoàn Trưởng cùng một số sĩ quan, binh sĩ thuộc Bộ chỉ Huy hành quân về tới Dốc Sỏi, phía nam căn cứ Chu Lai, ranh giới giữa hai tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi, BCH/TRĐ vội đưa xe vào đón. Sau khi đã chỉ thị cho ban 3 lập một toán « tuần kiểm » để đón tiếp, thanh lọc và thu nhận quân nhân các đơn vị chạy về đưa vào tạm trú tại căn cứ Kiếm Bạc -  Một doanh trại cũ của Lữ Đoàn 198 Hoa Kỳ nằm trong khu vực kế cận căn cứ Chu Lai -  Trung Tá Trung Đoàn Trưởng mới lên xe về BCH/TRĐ…. Ngày hôm đó là một ngày kinh hoàng của TRĐ 6 BB !


    Cũng chiều đó lại có tin đồn là đêm nay VC sẽ tấn công quận Lý Tín. Tôi lo ngại là chúng sẽ phá sập cầu An Tân để cắt đứt sự tiếp viện của SĐ 2 BB, nên tôi đã vội vã lái chiếc xe Jeep về nhà chở cha và các em vào đơn vị. Khi chở vào đến nơi tôi mới phân vân không biết nên để gia đình ở đâu? Nếu để ở Bộ chỉ huy TRĐ thì lỡ đêm nay VC tấn công hay pháo kích vào thì rất nguy hiểm, còn nếu để ở trại gia binh thì không bảo đảm được an ninh, cuối  cùng tôi đành gởi gia đình vào tạm trú tại trường tiểu học Lê Trung Đình của Sư Đoàn nằm  trong căn cứ Chu Lai, nơi mà gia đình của các quân nhân đang phục vụ tại căn cứ nầy được phép tạm trú. Đến khoảng 9 giờ đêm thì tôi được điện thoại do chú em trai kế của tôi gọi từ căn cứ Chu Lai qua cho biết Sư Đoàn sẽ cho tàu thủy chở gia đình quân nhân đi Đà Nẵng ngay trong đêm, chờ sự quyết định của tôi. Trong lúc tình hình hết sức rối rắm: Tin tức về cuộc rút lui của Trung Đoàn bị gián đoạn chỉ còn những tin đồn không thể kiểm chứng được, vả lại theo lệ thường vào giờ đó cổng vào căn cứ Chu Lai cũng đã khóa và đặt chướng ngại vật không có thể ra vào được nữa, nên tôi đành phải quyết định giao cho chú em trách nhiệm đưa gia đình đi Đà Nẵng theo lệnh của Sư Đoàn. Kể từ giờ phút đó tôi không còn liên lạc được với gia đình nữa và cũng không có chút tin tức nào về cha và các em tôi.


    Cả tin tức của vợ và gia đình bên vợ của tôi cũng không có, tôi chỉ biết là gia đình bên vợ tôi đã di chuyển ra Đà Nẵng vào trung tuần tháng 3/75, khi thấy tình hình tại Tam Kỳ quá bất ổn, nhưng không biết hiện đang tạm trú ở đâu ? Hình ảnh người vợ đang mang thai đứa con đầu lòng được khoảng 5 tháng, nay phải chạy loạn, lưu lạc nơi đâu không biết, làm cho tôi xót xa vô cùng, nhưng đành bất lực!... Bây giờ tôi chỉ còn trơ trọi một thân một mình !


        Sáng hôm sau, qua kiểm kê sơ khởi thì đơn vị đã bị thiệt hại khá nhiều. Chỉ riêng Bộ chỉ huy hành quân thôi đã có một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ  không bao giờ trở về lại đơn vị! Thân nhân của quân nhân các cấp tại trại gia binh TRĐ và vùng lân cận tấp nập chạy vào hậu cứ để hỏi thăm tin tức cha, chồng của mình. Một bầu không khí căng thẳng, lo lắng, rối ren… đang bao trùm đơn vị. Trưa ngày 25/3 được tin ĐU M, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 3 bị thương nhẹ, đãvề đến Chu Lai, TrU V phụ tá ban 1, em vợ cựu Đại Tá TRĐ Trưởng chưa có tin tức gì, TS I Kỳ thuộc ban 3 - một người rất có khả năng và được 3 đời Trung Đoàn Trưởng tin cẩn, đi đâu cũng đem theo - hôm triệt thoái được TRĐ Trưởng giao cho làm trưởng xa chiếc xe chỉ huy của TrTá, nghe tin xe đã bị VC bắn cháy tại Bình Liên, những người trên xe đều không thấy ai trở về !!!…  Mãi đến chiều tối cùng ngày mà đơn vị vẫn không nắm chắc được tình trạng thiệt hại về nhân mạng trong cuộc di tản, vì có rất nhiều quân nhân quê tại địa phương đã chạy thẳng về nhà chứ không vào trình diện đơn vị.


    Ngay đêm hôm đó lại có một tin làm cho anh em chúng tôi xao xuyến: Trung Đoàn sẽ di chuyển ngay trong đêm nay! Tuy chưa có lệnh chính thức và chưa biết sẽ đi đâu, nhưng anh em sĩ quan trong BCH/TRĐ đã lo thu xếp những thứ cần mang theo, những thứ nên bỏ lại…Đến khoảng 9 giờ tối Trung Tá Trung Đoàn Trưởng cho gọi các trưởng ban, đại đội trưởng công vụ và các chỉ huy hậu cứ Tiểu Đoàn cùng các phần hành có liên quan lên gặp Trung Tá để nhận chỉ thị : Trung Đoàn sẽ triệt thoái sang căn cứ Chu Lai khi có lệnh, sau đó sẽ có tàu của Hải Quân đón đi (chưa biết đi đến đâu !). Quân nhân các cấp phải thu dọn hành trang cá nhân gọn nhẹ trong một chiếc ba-lô. Đại đội công vụ lập một toán ‘đặc nhiệm’ lo dọn sạch mìn và cắt kẻm gai hàng rào phòng thủ mở một lối đi cho đơn vị di tản, đồng thời cũng sang căn cứ Chu Lai , đến địa điểm được ấn định cắt sẵn kẽm gai  mở một lối đi, xong ngụy trang lại như cũ, chờ khi có lệnh sẽ hướng dẫn BCH/ TRĐ vào căn cứ. Ban 1 cho thu dọn những hồ sơ quan trọng, phân chia cho những người có trách nhiệm mang theo.  Ban 4  cho đặt chất nổ tại kho xăng ;  Kho gạo và kho quân trang, quân dụng cần đặt thêm chất dẫn hỏa, đợi khi có lệnh thì cho kích nổ phá hủy. Ban 3 và ban truyền tin giữ liên lạc với BTL/SĐ để chờ nhận lệnh. Các hậu cứ các Tiểu đoàn liên lạc với ban 4 để được phân chia công tác. Tất cả mọi công tác phải hoàn thành trước 12 giờ đêm. Tình trạng canh gác vẫn tiến hành bình thường như trước.


     Đến 10 giờ đêm TOC nhận được lệnh cho các Tiểu đoàn và Đại đội Trinh sát di chuyển gấp đến cổng căn cứ Chu Lai sẽ có người hướng dẫn vào căn cứ, còn BCH/TRĐ chờ lệnh của Sư Đoàn…


     Chúng tôi đã nhanh chóng hoàn thành công tác. Về tư trang cá nhân tôi chỉ đem theo những giấy tờ quang trọng, thư từ, hình ảnh kỷ niệm, một chiếc võng nylon, một chiếc mùng, tấm đắp, tấm áo mưa và cái radio của Khối CTCT để theo dõi tin tức, ngoài ra còn mang một dây 3 chạc, một khẩu colt 45 và đội nón sắt như khi đi hành quân. Còn những thứ khác tôi cho vào một thùng đựng đầu nổ TOT rồi lấy một quả lựu đạn M26 tháo chốt chèn dưới nắp thùng. Đâu vào đó chúng tôi – những sĩ quan ‘độc thân tại chỗ’ -  tập trung vào một phòng ngồi đấu hót và chờ đợi…


   Mãi đến 2 giờ sáng vẫn không nghe lệnh lạc gì, rồi 3 giờ sáng vẫn im lặng. Trung Tá Trung Đoàn Trưởng ra lệnh liên lạc với TOC Sư Đoàn nhiều lần nhưng vẫn không ai trả lời. Đến khoảng 3giờ 30 phút ông ra lệnh cho toán quân nhân đang canh gác lối vào căn cứ Chu Lai lấy xe chạy xuống chỗ BTL/SĐ để xem thực hư thế nào mà không liên lạc được. Độ 15 phút sau được tin báo về là BTL/SD vắng ngắt… ( Lúc đó chỉ có TOC và TrTá TRĐ Trưởng biết các đơn vị trong căn cứ Chu Lai đã rút, kể cả BTL/SĐ. Sau nầy chúng tôi mới biết là trong lúc vội vàng rút quân, TOC/SĐ đã quên chuyển lệnh cho BCH/TRĐ chúng tôi  cùng rút). Đến 4 giờ sáng ngày 26/3/75, Trung Tá Trung Đoàn Trưởng ra lệnh cho toán ‘đặc nhiệm’ mở lối đi và hướng dẫn đoàn quân theo thứ tự di chuyển ra khỏi căn cứ BCH/TRĐ. Hôm đó là đêm 13/ 2 âm lịch, trăng sáng vằng vặc nên mặc dầu lối rút chỉ rộng vừa đủ cho một người đi chậm chậm, chúng tôi đã rút đi một cách  im lìm và nhanh chóng. Khi chúng tôi đã vào trong căn cứ Chu Lai toán đi đầu của chúng tôi có 8 người : Tôi, TrU L, phụ tá ban 4 và mấy HSQ, BS ban 4, ban 1 ; Nhờ có trăng sáng nên chúng tôi cắt đường tắt, lầm lũi đi nhanh về hướng BTL/SĐ, khi đến một ngã tư dừng lại chờ thì không thấy ai đi sau mình cả. Chúng tôi cho người quay trở lại tìm đơn vị thì vẫn không thấy ai, toán chúng tôi bị lạc  bèn bàn nhau nhắm hướng BTL/SĐ thẳng tiến. Đến nơi thấy không khí im lặng, chạy quanh các phòng ban, kể cả TOC/SĐ vẫn không thấy bóng người. Đồ đạt vất lung tung, vài chiếc xe Jeep bỏ lại bên vệ đường, có chiếc còn đang nổ máy. Bọn tôi lấy một chiếc chạy thẳng xuống bến tàu…bỏ xe bên lề đường rồi cùng nhau lội bộ xuống bãi cát. Một cảnh hỗn loạn diễn ra trước mắt chúng tôi : Nhiều gói hành trang vất ngổn ngang trên bãi cát, dân chúng ở đâu mà đông quá xá, chúng tôi ngỡ rằng đơn vị di chuyển « bí mật » như vậy ắc là không có người dân nào hay, ai dè…Để khỏi bị lạc nhau, bọn tôi xếp thành một hàng dọc, đứa sau nắm ba-lô đứa trước, xông vào đám đông để hỏi thăm tin tức. Lạ một điều là khi chúng tôi đi đến đâu dân chúng dạt ra tránh đến đó…. lúc đầu bọn tôi tưởng là dân họ nhường lối cho lính đi, sau đó dò hỏi mới biết khi chuyến tàu ủi bãi vào lúc 2 giờ sáng, vì số người chờ đợi quá đông, mạnh ai nấy chen lấn lên tàu,  cảnh xô xát  xảy ra rồi súng nổ. Tàu sợ nguy hiểm nên vội lui ra xa, có lẽ chờ tình hình được ổn định sẽ chạy vào lại. Nhưng trong lúc bị kích động, một toán quân nhân gốc chiêu hồi do ThS  Giá dẫn đầu tưởng bị bỏ rơi, quá tuyệt vọng bèn đứng quây quần nhau thành vòng tròn rồi thả lựu đạn tự sát, làm cho những người đứng gần đó bị chết và bị thương lây ! Chính vì thế mà bây giờ dân thấy lính thì hoảng sợ phải tránh ra xa !...


    (Nhân đây tôi xin mượn vài dòng để nói về ThS Giá. Anh là một Thiếu Úy thuộc toán vận chuyển của VC, quê anh ở Quảng Ngãi nên anh rất rành về địa thế trong vùng,  anh được đơn vị giao cho nhiệm vụ chuyển và cất dấu một số vũ khí khá lớn tại một địa điểm thuộc quận Trà Bồng, Quảng Ngãi. Vì không còn tin tưởng vào VC nữa nên anh quyết định ra hồi chánh với một đơn vị của Sư Đoàn 2BB, sau đó anh hướng dẫn Đại đội Trinh Sát 2 hành quân khui hầm vũ khí, tịch thu hơn cả trăm súng đủ loại  và đạn dược. Anh xin chuyển sang phục vụ trong quân đội, được đưa vào Trung tâm huấn luyện  SĐ2 học tập để trở thành một tân binh. Ra trường anh được phân phối về TrĐ 6BB. Vì có chủ ý nên anh xin gặp đơn vị trưởng để trình bày về nguyện vọng của anh : Xin lập một toán những binh sĩ gốc chiêu hồi do anh chỉ huy để đột kích vào các đơn vị địch… Nguyện vọng của anh được thỏa mãn.  BCH/TRĐ giao cho ban 2 lập một toán « thám kích » gồm toàn những quân nhân chiêu hồi, cho bận quân phục và trang bị vũ khí của VC, ban đầu chỉ có 5 người. Sau khi lấy đầy đủ tin tức về một đơn vị VC nào cần đột kích, ban 2 sẽ cung cấp tin tức và kế hoạch giúp cho anh Giá thi hành nhiệm vụ. Nhờ nắm vững cách thức hoạt động và thói quen của VC nên toán « thám kích » của anh luôn luôn hoàn thành công tác rất xuất sắc. Sau những công tác đặc biệt, tôi thường được lệnh tiếp xúc với anh để nghe anh kể lại về diễn tiến và kết quả của trận đột kích để viết bài tường thuật. Một trong những công tác xuất sắc của anh là lần đột kích vào một  « chỉ huy sở »  của VC đang họp tại Núi Lách, phía tây nam Núi Tròn ; Trong trận nầy anh đã tung lựu đạn tiêu diệt toàn bộ nhân sự dự họp, tịch thu một số tài liệu quan trong và rút lui an toàn. Anh được đền đáp xứng đáng với công trạng xuất sắc của anh : Chỉ trong vòng hơn 2 năm anh được nhiều lần thăng cấp đặc cách từ cấp binh nhì lên đến thượng sĩ và đã được chọn làm chiến sĩ xuất sắc của TRĐ để về Sài Gòn dự lễ Ngày Quân Lực 19/6.)


     Toán của chúng tôi đi lên đi xuống nhiều lần tại vùng bến tàu mà vẫn không thấy tàu đâu cả, mãi đến khi trời rạng sáng mới thấy một chiến hạm của hải quân đậu cách bờ khoảng 50 mét tại một nơi cách khá xa bến tàu . Đoàn người lội nước ngập quá vai, bu đông đặc quanh bửng tàu cố bám bất cứ cái gì có thể bám được để leo lên. Bọn tôi cố lấn ra đến cạnh bửng tàu, TrU L và vài người to cao đã leo lên được tàu còn tôi vì nhỏ con, lại mang cái ba lô sau lưng, bị những người khác dùng làm cái thang để leo lên tàu nên tôi không sao rướn người để trèo lên tàu được. Ban đầu tôi vất cái radio để rảnh tay bấu víu bửng tàu nhưng vẫn không kết quả, cuối cùng tôi phải lặn ra bên ngoài, tháo bỏ chiếc ba lô rồi lấn trở vào để cố tìm cách leo lên. Sau hơn nữa giờ bị ngâm dưới nước lạnh, bị sóng dồi, lại bị đông người dồn ép khiến tôi mệt nhoài.


    Nhiều lần các bạn trên tàu nắm tay tôi kéo lên cứ bị bên dưới ra sức kéo xuống, đến một lúc tôi không còn sức nữa, muốn xuôi tay ra sao thì ra, may mắn là trên người tôi vẫn còn dây ba chạc, nên được một anh bạn nhanh trí nắm vội dây ba chạc kéo tôi lên, bên dưới mấy người lại cố kéo xuống để lấy đà leo lên…sau một lúc dằng co, tôi được kéo bổng lên rồi lật vào phía trong sàng tàu. Tôi phải nằm tại đó vài phút mới lấy lại sức đứng dậy đi vào trong. Quần áo ướt nhẹp, tôi lạnh run lên, mò lấy bao thuốc Bastos quân tiếp vụ thì cũng đã ướt từ bao giờ ! Nghe loan báo là tất cả quân nhân có mang theo vũ khí phải nộp cho bộ phận an ninh để cất vào kho, khi nào có lệnh sẽ được trả lại, tôi xin một mảnh giấy ghi tên mình rồi nộp cả dây ba chạc lẫn dây nịt US có khẩu Colt 45 cho phần hành trách nhiệm rồi vội gở bộ lon Đại úy bỏ vào túi, đi xuống tầng hầm tìm đến bên cạnh bếp lò đang nấu ăn đứng sưởi cho đỡ lạnh. Độ 15 phút sau nghe loa phóng thanh gọi tên tôi, bảo lên phòng ngủ sĩ quan, tôi gắn lon lên lại và nhờ anh lính hải quân đưa tôi đến đó, thì ra TrU L tìm mãi không thấy tôi đâu nên nhờ loa phóng thanh loan báo dùm. Đến nơi tôi được TrU L đưa cho một phần ăn, mấy điếu thuốc và chỉ cho tôi một cái gường của một sĩ quan hải quân đang lên ca trực bảo tôi nằm nghỉ. Ăn xong, hút điếu thuốc rồi lên giường nằm nghỉ ngơi …Tàu vẫn  bập bềnh chạy…không biết  đi đến đâu, rất có thể là đi ra Đà Nẵng…Nếu đúng vậy sẽ có cơ hội để dò tìm tin tức gia đình vợ và gia đình mình…Tôi thiếp đi một lúc, khi giật mình tỉnh dậy nhìn đồng hồ thấy đã hơn 9 giờ sáng. nhẹ nhàng ngồi dậy, cẩn thận bước xuống khỏi giường không làm kinh động các sĩ quan hải quân đang yên giấc sau ca trực, tôi ra khỏi phòng ngủ tìm người dò hỏi  xem tàu đang đi về đâu ? Thì ra tàu không đi Đà Nẵng như tôi mong đợi, mà đi hướng ngược lại. Tàu sẽ đến cù lao Ré, tức đảo Lý Sơn thuộc quận Bình Sơn, Quảng Ngãi. Quân nhân trên tàu thuộc nhiều binh chủng, có cả dân chúng nữa nên khá lộn xộn. Gần trưa tàu ủi bãi vào Lý Sơn. Chúng  tôi được lệnh đổ bộ… Trên đảo đã có lính đóng rãi rác khắp nơi…khi đến gần mới nhận ra là lính của Trung Đoàn 5BB. Tất cả quân nhân từ trên tàu vừa đổ bộ xuống được lệnh tập họp theo từng đơn vị. Số quân nhân thuộc Trung Đoàn 6BB được hướng dẫn đi về phía đông của đảo. Đến vị trí Trung đoàn  tôi vào trình diện Trung Tá Trung Đoàn Trưởng, xong  đến cột võng bên cạnh mấy anh em thuộc BCH/TRĐ để nghỉ ngơi… Không có việc gì làm nên tôi đi dạo xem cảnh trí của đảo, sinh hoạt của dân địa phương và để hỏi thăm tin tức. Đất trên đảo Lý Sơn không trắng mịn như đất cát ở bãi biển trong đất liền mà hạt to hơn và ngã màu vàng vàng như màu đường cát Quảng Ngãi. Loại đất nầy rất hợp đối với các loại hoa màu phụ như khoai lang, sắn (khoai mì), bắp, đậu, nhất là hành, tỏi. Tỏi Lý Sơn nổi tiếng thơm cay và có năng suất cao nên được dân ở đây trồng rất nhiều. Nhà của dân đa số là những nhà lợp lá dừa nho nhỏ, thỉnh thoảng mới có vài ngôi nhà gạch, hợp thành từng cụm nhỏ 5, 7 cái nấp dưới bóng dừa mát rượi. Cư dân hầu hết đều vừa làm nghề đánh cá, vừa canh tác hoa màu phụ. Gần bến ghe có một cái chợ nho nhỏ, quanh đó có vài quán hàng bán tạp hóa và thực phẩm. Mấy hôm nay mới mọc thêm vài quán cà phê ‘dã chiến’ để bán cho mấy chàng lính vô công rỗi nghề. Dân địa phương nói giọng Quảng Ngãi nhưng có âm sắc khá cao, khi họ nói nhanh nghe líu lo nhưng tiếng chim hót rất vui tai…Tôi ghi nhận được tin tức là những người dân « quá giang » theo tàu lên đây đã có người thuê ghe (thuyền) để đi Đà nẵng, cũng có cả một số quân nhân lén thuê tàu đi như vậy. Ngày hôm sau (27/3) tôi nảy ra ý định dò hỏi xem việc thuê tàu đi Đà Nẵng như thế nào, giá cả bao nhiêu ? Nếu được sẽ xin đơn vị trưởng cho phép tôi đi Đà Nẵng, tìm đến nhưng trung tâm tiếp cư, liên lạc với thân nhân của những quân nhân thuộc TRĐ, thông báo cho họ biết là đơn vị đã được di chuyển an toàn ra đảo Lý Sơn đồng thời sẽ dò tìm tin tức hai gia đình của tôi. Nhưng dự định của tôi bất thành vì sau khi may mắn tiếp xúc được với chủ của một chiếc ghe (thuyền) vừa từ Đà Nẵng trở về, ông ta cho hay việc thuê ghe đi như vậy không an toàn vì có nhiều ghe bị VC móc nối nên thay vì chở người đi Đà Nẵng, họ lại tấp vào những bãi vắng để cho du kích bắt giữ, nhất là trên ghe có quân nhân, công chức ! Những ghe khác  khi chạy gần bờ thường bị du kích uy hiếp bắt phải dừng lại để chúng kiểm soát, bắt giữ quân nhân. Mặc dầu có thường xuyên theo dõi tin tức về tình hình Đà Nẵng qua đài BBC Luân Đôn, nghe nói Đà Nẵng đang lâm vào hoàn cảnh rất khó khăn, nhưng chúng tôi không mấy tin đài nầy vì lúc đó họ chỉ loan những tin tức xấu nhất hay bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Chiều 28/3 tôi nghe tin Trung Đoàn 5 BB sẽ được lệnh đi Đà Nẵng nên tôi trình với Trung Tá Trung Đoàn Trưởng cho tôi tháp tùng theo TRĐ5 đi Đà Nẵng công tác và tìm kiếm gia đình. Trung Tá cho biết TRĐ sẽ không ra thẳng Đà Nẵng mà sẽ đổ bộ xuống Bình Dương, Thăng Bình, từ đó sẽ đánh ra Đà Nẵng, nếu tôi muốn đi Trung tá sẽ cấp sự vụ lệnh, đến trình diện TRĐ 5 để xin đi. Tôi đồng ý và xin cấp SVL, về thu xếp hành trang rồi đến gặp TrTá/TRĐ Phó TRĐ 5 trình bày sự việc, lúc đó khoảng 9 giờ tối, TrTá chấp thuận, cấp cho tôi một giấy lên tàu và chỉ chỗ cho tôi ngủ chờ đến 2 giờ sáng sẽ khởi hành. Đến khoảng 12 giờ khuya, tôi được TRTá TRĐ Phó cho biết là lệnh đã bị hủy bỏ. Đợi đến sáng hôm sau tôi về lại đơn vị.


     Tình hình Đà Nẵng trở nên vô cùng nghiêm trọng, VC sử dụng pháo binh và chiến xa yểm trợ cho các đại đơn vị áp sát vùng ngoại vi thành phố. SĐ 325 tấn công mặt bắc, SĐ 304 tấn công mặt tây bắc và tây nam, SĐ 2 và TRĐ biệt lập 36 tấn công mặt nam và đông nam. Sáng ngày 29/3 chúng đã chọc thủng phòng tuyến cuối cùng tại nhiều điểm và tiến thẳng vào trung tâm thành phố Đà Nẵng, đến 12 giờ 30 phút ngày 29/3/75 thành phố Đà Nẵng hoàn toàn thất thủ. Chúng tôi vẫn tiếp tục đóng trên đảo Lý Sơn để chờ lệnh, lòng buồn vô hạn. Bao nhiêu hy vọng sẽ đi Đà Nẵng tiêu tan theo mây khói. Tin Đà Nẵng bị thất thủ làm  cho tình hình đảo Lý Sơn trở nên bất ổn do đó chúng tôi được lệnh không được rời khỏi chỗ đơn vị đóng quân.


    Sáng ngày 31/3 các lực lượng trực thuộc và thống thuộc SĐ 2BB được lệnh rút khỏi đảo Lý Sơn. Trước khi lên tàu có một vài vụ lộn xộn nhỏ trên đảo, nhưng đã được thu xếp ổn thỏa. Khoảng 11 giờ sáng chúng tôi được lệnh lên tàu. Có lẽ tàu xuôi nam nhưng không biết sẽ đổ bộ tại đâu. Nhưng dù có đổ bộ nơi nào thì cũng khó có điều kiện để trở về nhìn lại quê hương, gặp lại gia đình và vợ con!  Trời nắng ấm, bầu trời trong xanh, thỉnh thoảng có vài cụm mây trắng lững lờ trôi về nơi vô tận như đồng cảm với cái tâm trạng ly hương đang lớn dần trong tôi !  Gió im, sóng lặng, nhìn những đàn cá vô tư nhảy tung tăng quanh mạn tàu rồi nhìn những nét mặt căng thẳng, lo âu, đăm chiêu của những người trên những chiếc tàu, thuyền đang cố sức tăng tốc xuôi nam… một sự tương phản dễ làm cho có những ý nghĩ mông lung ! Tự dưng tôi có một dự cảm về một tương lai bấp bênh đang chờ ở đâu đó…Trời vẫn nắng chói chang, gió nhẹ mang hơi nước biển mằn mặn phả vào mặt như giúp cho đầu óc giản ra, nhìn những ghe thuyền chạy xa xa khi ẩn khi hiện trong những làn sóng nhỏ tựa những chiếc lá tre lững lờ trôi trong hồ nước, mới thấy sự mong manh nhỏ bé của con người trước thiên nhiên bao la vô tận…


     Đến quá trưa tàu vào đến vùng duyên hải Qui Nhơn. Có lẽ tàu muốn ghé vào đây, nhưng sau đó lại hướng ra khơi vì Qui Nhơn đang trong tình trạng rối loạn. Khi đến Nha Trang, tình hình cũng không mấy tốt đẹp nên tàu được lệnh chạy vào Cam Ranh. Lúc nầy trời đã về chiều, mặt trời xuống khá thấp nên khi tàu tiến vào bến, người trên tàu nhìn vào bờ bị chói mắt không thể nhìn thấy rõ được những gì ở xa. Tàu cập bến, một tấm ván được bắt từ boong tàu xuống bến ; Chúng tôi được lệnh rời tàu để đi mua sắm những món cần thiết mà khi ở Lý Sơn không có, nhưng ngay lúc đó thì có một đoàn người khá đông đang hối hả chạy về hướng bến tàu. Thì ra quân, dân tại đây tưởng có tàu đến chở đồng bào di tản nên vội vã chạy đến để hy vọng  mình sẽ là những người may mắn lên được trên tàu. Nhận thấy tình hình bất ổn nên có lệnh tất cả quân nhân  phải ở nguyên trên tàu! Đoàn người tiếp tục tiến đến chỗ tàu đậu, vài người nhanh chân đã đặt chân lên tấm ván nối liền bờ và boong tàu. Thấy tình trạng có thể trở nên hổn loạn vì đoàn người quá đông đang muốn tràn lên tàu nếu không kịp thời ngăn cản, Trung Úy G cận vệ của Chuẩn Tướng Tư Lệnh, mình mặc bộ đồ hoa, tay cầm khẩu súng M18 nhanh chóng xuất hiện, đứng chặn ngay đầu tấm ván bắt từ bờ ra tàu, lên đạn, chỉ thẳng vào đoàn người đang hăm hở sắp tràn lên tàu và ra lệnh : « Tất cả dừng laị, không ai được bước lên tàu, nếu không tôi sẽ bắn… ». Đoàn người bị dội lại dồn đống, mọi người đều ngước nhìn lên tàu vừa như van xin vừa lộ nét sợ hãi… thì bỗng thấy một Thiếu Úy Biệt Động Quân rẽ đám đông tiến thẳng đến cạnh tấm ván bắt lên tàu, Tr/U G lại ra lệnh «đứng lại, đứng lại … » mấy tiếng nhưng anh Th/U BĐQ dường như không nghe thấy, cứ ngang nhiên tiến lên… Chúng tôi bị chứng kiến một cảnh mà không bao giờ ngờ có thể xảy ra và không bao giờ có thể quên được… Một loạt đạn nổ, anh Th/U BĐQ bị bắn trúng chân, không thể đứng vững bị rơi tỏm xuống biển, máu ra lênh láng!!! Đoàn người đứng trên bến chứng kiến cảnh khủng khiếp nầy nên vội vã xô nhau chạy thối lui…Chúng tôi trên boong tàu cạnh nơi diễn ra thảm cảnh cũng bàng hoàng, sửng sốt nhìn chằm chặp vào Tr/U G, thấy ông ta ghìm khẩu súng hướng về phía bến tàu, mặt đằng đằng sát khí, như một hung thần trấn cửa địa ngục! Cho đến bây giờ hồi tưởng lại tôi cũng không thể nào hiểu nổi tại sao Tr/U G lại có thể dễ dàng nổ súng vào một chiến hữu của mình như vậy?!  Sợ hậu quả khó lường vì hành động thiếu suy nghĩ của Tr/U G nên tàu được lệnh nhổ neo ra khơi gấp, tiếp tục xuôi nam.


     Đến gần khuya thì tàu vào địa phận quận Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy. Vì ban đêm cập bến bất tiện nên tàu phải neo lại ngoài khơi chờ trời sáng. Đêm đó có cơn bão nhẹ kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ, tàu bị sóng dồi làm cho chúng tôi bị say sóng mệt nhoài, vài người không chịu nổi đã nôn thốc nôn tháo tất cả những có gì trong bụng.  Sáng hôm sau, 01/4/75 tàu ủi bãi, chúng tôi mang tư trang lội vào bờ. Sau khi đã liên lạc nhận lệnh, TRĐ 6BB được chỉ định đóng quân tại quận lỵ Hàm Tân, BCH/TRĐ đóng tại Chi khu còn các Tiểu đoàn được bung ra các vùng chung quanh … Thời gian nầy là những ngày buồn chán nhất của tôi, BCH/TRĐ chỉ còn lại vỏn vẹn có 8 sĩ quan, nên mọi người đều phải thay phiên nhau trực BCH không kể là thuộc ban khối nào. (riêng Khối CTCT chỉ có tôi, 1 Trung sĩ và 1 binh I, những nhân viên khác quê ở Thừa Thiên, Quảng Trị thì đã được phép đi tìm gia đình từ giữa tháng 3, tiếp đó là những người ở Tam Kỳ cũng xin về thu xếp gia đình rồi không ai trở lại  đơn vị được nữa). Tôi và Tr/U Kh ban tài chánh, một người bạn của tôi từ thời học Trung học TCV Tam Kỳ, lại có cùng hoàn cảnh  vì  2 người vợ đều mang thai  đứa con đầu lòng, nay lưu lạc ở đâu không biết, cả gia đình cũng không biết hiện nay ở đâu, còn mất thế nào ? Ban ngày hai chúng tôi, ngoài những lúc trực Bộ Chỉ Huy, thời gian còn lại chỉ biết theo dõi tình hình qua tin tức của các đài phát thanh, thỉnh thoảng cũng tìm được tờ báo hay quyển sách cũ đọc để giết thì giờ và cũng để khỏi phải nghĩ ngợi … Đêm về hai đứa trải poncho trên hiên một phòng nào đó (trong khu vực trách nhiệm) hai đứa nằm kể chuyện xưa thời đi học cùng trường, thời còn độc thân vui chơi lêu lỗng và ‘tâm sự vụn’, đề tài  thường xoay quanh hai người vợ trẻ, bụng mang dạ chửa không biết nay lưu lạc nơi nào!  Những ngày Đà Nẵng hổn loạn không biết có gì không may xảy ra không ? Càng suy nghĩ, nhắc nhở đến lòng dạ càng quặn đau … nhưng chỉ biết  thở ra, đôi lúc tự ví mình là kẻ « đệ nhất bạc tình » giống như Bất Giới Hòa Thượng trong Tiếu Ngạo Giang Hồ cho vơi bớt nỗi niềm….


     Đến ngày 08/4/75 tôi được TRTá TRĐTrưởng gọi lên giao cho hai nhiệm vụ: Đi Sài Gòn để khắc con dấu cho TRĐ (Vì con dấu bị thất lạc trong khi di tản) và xin phương tiện đi đến các trung tâm tiếp cư  trong vùng Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu để thông báo cho thân nhân của quân nhân các cấp thuộc TRĐ được biết đơn vị đã di tản vào Bình Tuy để bà con được an tâm, đồng thời hướng dẫn và giúp đỡ cho những quân nhân bị thất tán trở về lại đơn vị. Sau khi được Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn cấp cho một giấy chứng nhận đặc biệt để khắc con dấu cho TRĐ và Sự vụ lệnh công tác do TRĐ cấp, tôi được đưa ra sân bay Hàm Tân lên trực thăng để đi Biên Hòa. Chiều ngày hôm đó tôi đến Biên Hòa, sau khi trình SVL tôi được tạm trú trong khu vãng lai của Sĩ quan.  Cũng chính buổi chiều hôm đó tôi nghe tin Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III bị chết vì tai nạn (súng cướp cò !!!!).
    Khi đến được Biên Hòa, tôi rất nôn nao đi Sài Gòn vì hy vọng sẽ tìm gặp được gia đình bên vợ và vợ tôi. Vì tôi nghĩ gia đình bên vợ tôi đã đi Đà Nẵng vào khoảng giữa tháng 3 DL cùng với đại gia đình bà Mợ, một gia đình có thành tích chống Cộng nổi tiếng của Tiểu khu Quảng Tín, đã từng được Đại Tá HĐT, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng TK Quảng Tín đưa TT Nguyễn Văn Thiệu đến viếng thăm khi TT về thăm Quảng Tín. Các cậu con của mợ tuy là vai em nhưng lớn tuổi hơn vợ của tôi nhiều. Có cậu Tư L.  - Thường được thuộc cấp gọi thân mật là anh Tư - là chỉ huy trưởng lực lượng Biệt Lập, một lực lượng có công giải tỏa áp lực của Việt Cộng và bình định các xã thuộc miền đông hai quận Tam Kỳ và Thăng Bình. Đơn vị nầy đã lập được rất nhiều chiến công hiển hách khiến Việt cộng trong vùng rất nể mặt và căm thù. Còn  cậu Hai, người anh cả, trước đó từng làm Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn, nay đang làm tại Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Quốc Gia tại Vũng Tàu,  nghe tin tức miền Trung bị lộn xộn nên bay về thu xếp gia đình rồi bị ‘dính chân’ ở lại  với gia đình luôn. Cậu ấy lại là một người rất hoạt bác, quen biết nhiều lại khá tháo vác.  Với hoàn cảnh như vậy mà nếu để gia đình  bị lọt vào tay Việt cộng thì chắc chắn sẽ bị trả thù khủng khiếp, do đó tôi hy vọng là cậu Hai sẽ tìm được phương tiện để đưa gia đình vào Sài Gòn trước ngày tình hình Đà Nẵng trở nên quá hổn độn. Vợ tôi lại có một người chú ruột đang ở sài Gòn nên suy luận của tôi càng có nhiều hy vọng…


   Tuy rất nóng lòng muốn tìm thân nhân, nhưng đối với tôi công vụ là ưu tiên một nên công việc đầu tiên của tôi là lo đi khắc con dấu cho TRĐ, sau đó mới nhân tiện đi tìm thân nhân. Tôi vào trình diện Khối CTCT Quân Đòan trình bày lý do và xin SVL  để đi Sài Gòn công tác (thời gian nầy việc vào Sài Gòn đã bị kiểm soát kỷ. Những người mặc quân phục mà không có giấy tờ hợp lệ sẽ bị giữ lại để đưa về Quân vụ Thị trấn ‘thanh lọc’).  Sau khi đã khắc xong con dấu cho đơn vị tôi mới quyết định đi tìm nhà ông chú vợ để hỏi thăm xem gia đình vợ tôi có vào Sài Gòn không. Lúc đó tôi mới  sực nhớ lại là bao nhiêu giấy tờ quan trọng, thư từ của tôi đều nằm trong chiếc balô mà tôi cởi bỏ lại dưới sông tại bến tàu Chu Lai. Từ ngày đám cưới đến lúc đó chỉ mới có 6 tháng, tôi cũng chưa có dịp đi Sài Gòn nên không biết nhà ông chú vợ ở vùng nào ! Tôi vừa buồn vừa bực vì sự vô ý của mình nên cứ đi lang thang khu chợ Bến Thành mà không biết giải quyết bằng cách nào ? May mắn thay, tôi thấy một cặp vợ chồng đi mé bên kia đường ngược chiền với tôi trông có vẻ quen quen. Tôi vội chạy đến thì đúng là người quen, đó là vợ chồng cô dượng họ của vợ tôi ở quê mới vào Sài Gòn được vài ba tuần. Tôi trình bày với cô dượng là mới vào Sài Gòn để công tác và xin cô dượng cho tôi địa chỉ nhà chú T. để tôi đến hỏi thăm tin tức về gia đình vợ. Nhà chú ở mãi tận trong một hẻm sâu trên đường Phan Văn Trị, quận Bình Thạnh ; Tôi liền đón xe lam đi đến chợ Bà Chiểu, sau đó thuê xe thồ đi tìm nhà. Nhưng chúng tôi phải chạy qua lại hai ba vòng mà vẫn không tìm được con hẻm  dẫn vào nhà vì số nhà ở khu vực nầy rất lộn xộn, nhà được đánh số không theo môït trình tự nào cả. Tôi đành phải đi bộ để dò hỏi cho tiện. Lúc đó mới được cư dân ở đây cho biết số nhà đã được thay đổi 3 lần rồi, nhưng có nhiều người vẫn giữ số cũ, chỉ có nhân viên phát thư đã làm việc lâu năm ở đây mới biết rõ số nhà, chứ chính họ cũng không còn nhớ những số cũ đó. Cuối cùng tôi  dò hỏi bà con ở đây có biết một gia đình nào người Quảng ở gần một chùa Sư nữ không ? Phải gần một tiếng đồng hồ sau tôi mới tìm được nhà chú. Đáng tiếc là chú cho biết gia đình nhà vợ tôi có đánh điện báo là sẽ vào nhưng đến nay vẫn không thấy ! Tôi hoàn toàn thất vọng và đau buồn nên vội vã xin phép chú để trở về Biên Hòa cho kịp trong ngày. Thế là gia đình vợ tôi bị kẹt lại ở Đà Nẵng, không biết bây giờ đang lưu lạc nơi đâu ?  Em bụng mang dạ chửa đứa con đầu lòng màphải lâm vào  cảnh loạn lạc, lại không có chồng bên cạnh để an ủi đỡ đần chắc em buồn tủi lắm ! Biết có còn  dịp nào để gặp lại em hay không, càng nghĩ tôi càng thấy đau buốt trong lòng !.... 
     Mấy hôm sau tôi được cấp xe dodge hoặc GMC và hệ thống loa phóng thanh để đi công tác tại các trại tạm cư Long Thành, Tam Hiệp, TTHL Lam Sơn, TTHL/CSQG  Rạch Dừa và chuyến cuối cùng tại TTHL Cán Bộ XDNT Vũng Tàu.  Trong những chuyến công tác đó tôi ghi nhận thấy có rất ít gia đình của quân nhân chạy loạn từ miền Trung vào sống trong các trại tạm cư, có lẽ họ đã đến tạm trú tại nhà của thân nhân hay bạn bè. Số quân nhân chạy theo với gia đình cũng không có bao nhiêu.  Thứ Bảy 12/4 tôi lại đi Sài Gòn để thăm gia đình người Cậu họ ở đường An Tôn đồng thời hỏi thăm tin tức người em trai của tôi đang học năm cuối cùng ngành kỹ sư cầu đường tại Phú Thọ, lúc trước có trọ tại đây. Khi đến nơi tôi thấy có vài người cùng quê chạy vào Sài Gòn và nhân tiện ghé thăm cậu tôi. Tôi và hai người anh con ông cậu hỏi thăm về tình hình và tin tức bà con ngoài quê. Có một thiếm tuy ở cùng quê, có nghe tên tôi nhưng đã lâu không gặp mặt tôi, lúc đó tôi lại mặc đồ dân sự nên bà nhìn không ra. Khi kể chuyện về cảnh  nổ lựu đạn gây chết chóc thê thảm tại bến Chu Lai, bà cho biết quê mình có rất nhiều người chết, trong đó có cả Đ/U Khôi, con ông giáo H ! Hai người anh của tôi cứ nhìn vào mặt tôi mà cười hoài, làm bà ngạc nhiên quay sang nhìn tôi rồi hỏi  hai người anh : « Tại sao 2 chú lại cười hoài vậy ? Tôi đâu có nói gì bậy đâu ? ».  Một anh bèn trả lời : « Đ/U Khôi con ông H ngồi đây chớ chết ở bến tàu Chu Lai hồi nào ? ». Bà ngở ngàng quay sang xin lỗi tôi và nói rằng nghe người ta đồn như vậy, chớ bà đâu có thấy tận mắt.  Thì ra, khi tôi cởi bỏ cái balô trong đó có đựng những giấy tờ quan trọng và hình ảnh gia đình tôi xuống sông, bị sóng đánh trôi dạt qua bờ bên kia. Những người đi lượm của ‘hôi’ nhặt được chiếc ba lô đó, khi mở ra thấy giấy tờ có tên và hình ảnh của tôi bèn báo cho Dì tôi ở gần đó hay.


    Dì tôi lai sai các anh đi lật xác tìm tôi và báo cho mấy người anh con bà Cô của tôi đến bờ sông phía Chu Lai tiếp tục tìm  xác tôi nhưng không có kết quả, dù vậy tin nầy vẫn được loan đi…  Tôi từ giả gia đình cậu, đến thăm em trai tôi bây giờ đã chuyển sang ở tại đường Tô Hiến Thành. Anh em gặp nhau mừng rỡ vô cùng. Tôi định tóm tắc cho chú ấy biết về hoàn cảnh của cha và các em, thì chú đột nhiên hỏi : « Anh đã gặp cha chưa ? ». Tôi ngạc nhiên : «  Cha ở đâu mà gặp ?»,  chú nói :  « Cha, vợ chồng anh Bốn và 2 em đang ở tại TTHL Cán bộ XDNT Vũng Tàu,  hai tuần trước anh Bốn có lên Sài Gòn thăm em và em cũng có xuống thăm cha và gia đình hôm Chủ Nhật vừa rồi ».  Tôi vừa mừng vừa ngạc nhiên : « Sao tuần vừa rồi  anh có đi công tác tại đó mà không gặp gia đình ». Thì  ra TTHL nầy quá rộng, có đến những 9 ‘tổng đàn’, gia đình tôi ở tổng đàn 7, còn tôi chỉ đi được từ tổng đàn 1 đến tổng đàn 4 thì trời đã chiều, phải trở về lại Biên hòa… Sáng Chủ nhật 13/4 tôi xuống TTHL/CB/XDNT để thăm gia đình. Từ cổng đến tổng đàn 7 phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ đi bộ  trên một con đường cát nóng ! Đến nơi, nhìn thấy cha tôi đã già yếu lại phải sống trong một căn láng trại cất theo kiểu nhà sàn, không có cửa, chung quanh không cây cối, vừa nắng nóng lại vừa bụi bặm, người ông khô đét trông thật là thương tâm . Cả gia đình gồn cha tôi, vợ chồng chú em cùng hai đứa con nhỏ và hai đứa em gái  được cấp một khoảng láng cở 2,5 x 2,5 mét làm nơi sinh hoạt ăn ngủ. Thực phẩm và thức ăn được cấp hằng ngày, gia đình tự túc nấu thức ăn. Bất tiện nhất vấn đề nước non để ăn uống và tắm rửa vì đi lấy nước xa lại không có đủ dụng cụ để chứa. Đi chợ cũng là một vấn đề khó khăn vì đường quá xa, chỉ có thể đi chợ nếu được quá giang xe của  trung tâm chớ không thể đi tự túc được. Nhìn thấy cảnh cha già, em còn nhỏ dại phải bỏ hết cả cơ ngơi vào sống trong một nơi thiếu thốn đủ bề, tôi đau lòng lắm nhưng không còn cách nào khác, đành phải nén nỗi đau, cố gắng an ủi cha và các em chịu đựng, để rồi… ?! Ở với gia đình được mấy tiếng đồng hồ, tôi phải từ giả để về lại Biên Hòa. Dù cha và các em tôi sống rất cực khổ, nhưng may mắn là còn sống và tôi được gặp mặt, hơn là gia đình vợ tôi bây giờ không biết còn mất ra sao ?!


     Tuần lễ sau đó tôi được đưa về phòng vãng lai của Trung tâm Xã Hội Quân Đội  để giúp đỡ các quân nhân thuộc QĐ1 do các trạm quân cảnh ngoại thành chuyển về hay tự đến trình diện. Nhiệm vụ của tôi là giúp lập danh sách, hướng dẫn đi nhận quân trang, quân dụng… sắp xếp nơi ăn chốn ở theo từng đơn vị mới rồi giao lại cho phần hành trách nhiệm chờ khi có phương tiện để đưa các anh bổ sung cho các đơn vị. Thời gian nầy hầu hết các anh được đưa ra bổ sung cho mặt trận Phan Rang. Lúc bấy giờ mặt trận Phan Rang vô cùng sôi động,   VC sử dụng 3 sư đoàn chủ lực được tăng cường xe tăng, thiết giáp và pháo binh tấn công ráo riết, chọc thủng tuyến phòng thủ ở nhiều nơi… Trung Đoàn 6BB là một trong những đơn vị được điều động ra để tăng cường cho mặt trận Phan Rang. Sáng 17/4 Tiểu Đoàn 1/6 chạm địch mạnh tại sân bay Thành Sơn (Phan Rang), bị VC bao vây và tràn ngập . Thiếu Tá B, TĐT bị bắt tại mặt trận. Mặt trận Phan Rang xem như kết thúc vào khoảng 10 giờ sáng cùng ngày. BCH/TĐ và các đơn vị trực thuộc còn lại vội phân tán mỏng, chạy về hướng biển tự túc tìm ghe thuyền để đi vào Vũng Tàu. Đến ngày 18/4 tôi hỏi thăm tin tức, biết TRĐ đã về nghĩ quân tại Biệt khu Vũng Tàu nên xin phép trở về lại đơn vị… Đến nơi, sau khi trình  diện Trung Tá TRĐT báo cáo công tác, tôi tìm đến thăm những bạn bè và nghe kể lại thực trạng về chiến cuộc Phan Rang và những  khó khăn, nguy hiểm  khi các anh phải vừa lẫn trốn VC vừa tận dụng mọi cơ hội để có được một chiếc ghe nhỏ chạy thoát ra khơi vào Vũng Tàu. Những ngày sau đó số quân nhân bị thất tán lần lược tìm về, nhưng quân số lúc nầy quá thấp. Để bổ sung quân số, TRĐ được lệnh tiếp nhận các anh em Nghĩa Quân và Địa Phương Quân gốc Quảng Ngãi và Quảng Tín đã đưa gia đình  vào các trại tạm cư tại Vũng Tàu.  Nhân dịp nầy tôi xin cho chú em kế của tôi (nguyên là một NQ) được về đại đội công vụ để tiện lui tới chăm sóc gia đình. Trung tá TRĐ Trưởng cũng chỉ thị cho ban Tài chánh phát lương tháng 3 và 4 cho tất cả binh sĩ, kể cả các quân nhân mới gia nhập.


     Thời gian lặng lẽ trôi qua… tôi sắp xếp cho chú em tôi ban đêm về với gia đình, ban ngày sang đơn vị, còn tôi vài ba hôm mới chạy về thăm cha và các em một lần. Tình hình mỗi ngày một căn thẳng, 20/4 mất Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng bảo vệ Sài Gòn về hướng Bắc không còn nữa. Các đơn vị thiện chiến nhất của VNCH đã bị thiệt hại nhiều, không còn quân số để bổ sung , tinh thần quân sĩ cũng dao động mạnh… Tại Vũng Tàu số quân nhân mỗi ngày một đông, hình như đây là  « cái túi » chứa các quân nhân bị thất tán đơn vị, do đo đã có những dấu hiệu bất ổn trên đường phố…  Vào lúc 19 giờ ngày 21/4/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức làm cho tình hình càng bi thảm hơn. Kể từ đó chúng tôi không còn muốn nghe đài phát thanh ngoại quốc để theo dõi tình hình nữa, nhất là đài BBC Luân Đôn. Một bầu không khí nặng nề đang đè xuống chúng tôi. Ngoài phố bắt đầu lộn xộn, lực lượng an ninh của Đặc khu Vũng Tàu không đủ sức vãng hồi an ninh trật tự. Tiếng là TRĐ, nhưng đơn vị chúng tôi gom lại không hơn một tiểu đoàn, BCH/TRĐ được Đại đội Trinh sát 6 phòng thủ bảo vệ với quân số không quá 30 người. Đã có vài sĩ quan vì nóng lòng muốn tìm kiếm gia đình hay vì thấy tình trạng vô vọng nên đã rời khỏi đơn vị trốn về Sài Gòn, riêng chúng tôi vẫn bám sát đơn vị. Khi vào đóng tại Đặc khu Vũng Tàu, các sĩ quan đều ăn  cơm chung với TRTá/TRĐ Trưởng cho nên mỗi bữa cơm TRTá đều thấy vắng người thêm, nhưng ông không nói gì. Đến ngày 25/3 tôi bảo chú em tôi về TTHL/CBXDNT để chăm sóc gia đình. Tình hình vẫn mỗi ngày một xấu thêm, chúng tôi chỉ loanh quanh trong khu vực đóng quân, không ra phố nên cũng ít biết những gì đang diễn ra bên ngoài, mà chỉ nghe lại qua lời kể của mấy chú lính trẻ hoặc lang thang ra phố, hoặc tìm đường về Sài Gòn, nhưng không đi được. Sáng ngày 29/4, Th/U ĐĐ trưởng TS6 rủ chúng tôi xuống Cần Giờ để kiếm tàu về Sài Gòn, nhưng chúng tôi từ chối vì nghĩ lúc nầy mà xuống Cần Giờ thuê tàu đi Sài Gòn rất nguy hiểm, có thể bị cướp, mà dù có về tới được SG thì cũng chả ích gì, Th/U D đi một mình, từ đó mãi đến nay chúng tôi không được tin gì của anh. Ngày 28/4, trước sức ép của nhiều phía, Tổng Thống Trần Văn Hương phải bàn giao chính quyền cho Đại Tướng Dương Văn Minh. Tin Tướng Minh lên làm Tổng Thống càng làm cho anh em quân nhân tỏ ra bi quan hơn, tình hình Vũng Tàu cũng bị ảnh hưởng lớn.


    Tối 29/4 chúng tôi nghe súng nổ dữ dội tại khu vực cầu Cỏ May chắc là có giao tranh lớn. Cũng vào đêm đó chúng tôi ghi nhận có rất nhiều máy bay, kể cả trực thăng bay từ biển vào đất liền và hướng ngược lại, nhưng chúng tôi không biết lý do gì. Sau nầy mới biết là Hoa Kỳ đã dùng phi cơ để di tản một số cán bộ quan trọng đã cộng tác với họ, kể cả các vị tướng lãnh VNCH. Sáng ngày 30/4/75, VC pháo kích vào Đặc khu Vũng Tàu, tôi và Đ/U Y, cựu ĐĐTr/ĐĐTS6 chạy ra phòng tuyến của ĐĐ/TS6 để núp và đôn dốc anh em binh sĩ tiếp tục đào thêm hay tu bổ hố cá nhân cho thật vững vàng. Chờ đợi khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ sau không nghe pháo kích nữa, chúng tôi cho anh em gác, số còn lại trở vào doanh trại nghỉ ngơi. Khoảng gần 10 giờ sáng thấy TrTá Đặc khu trưởng( TRT/ĐKT) ĐK Vũng Tàu đến gặp đơn vị trưởng của chúng tôi để phàn nàn về việâc lính phá cửa kho hàng Quân Tiếp vụ để lấy thực phẩm. Sau khi tìm hiểu thì được biết VC vừa pháo kích đợt đầu tiên là Đặc khu Trưởng đã vội lái chiếc xe Jeep chạy đi, mấy anh lính thấy nhà vắng chủ nên phá cửa kho vào lấy gạo, mì gói và thuốc lá… đem ra chia chác cho nhau, khi yên tỉnh, Đặc khu Trưởng trở về thấy hàng hóa vung vải ngoài cửa nên đến khiếu nại. Khoảng 10:30 VC lại pháo kích vào Đặc khu, lần nầy chúng bắn nhiều và lâu hơn lần trước, tất  nhiên lần nầy TRT/ĐKT cũng xách xe chạy đi, phó mặc ĐK  cho chúng tôi bảo vệ, gần đến trưa vẫn không thấy ông trở về.   Vì mấy hôm nay tôi không buồn theo dõi tin tức trên Radio, nên không nghe lời tướng DVM đọc lệnh đầu hàng…


      Đến gần trưa tôi và Đ/U Y vẫn còn ở tại phòng tuyến của ĐĐTS6 thì được lệnh gọi các sĩ quan vào gặp TrTá TRĐ Trưởng. Anh em chúng tôi rời phòng tuyến đi đến phòng TrTá. Thấy chúng tôi vào TrTá đứng dậy, chúng tôi đứng thành vòng cung trước mặt ông. Nhìn thấy Trung Tá nét mặt vẫn bình thản, thái độ ung dung như không có vấn đề gì quan trọng. Trung Tá nhìn quay như để điểm danh rồi từ từ nói :  «Tướng Minh đã ra lệnh đầu hàng, nhưng các anh đừng đi đâu cả, hãy ở lại đây rồi đi với tôi…mạng tôi lớn lắm không có chuyện gì đâu» rồi ông cười vui vẻ như để trấn an tất cả mọi người. Anh em chúng tôi chuẩn bị rời khỏi phòng Trung Tá thì ngay lúc đó người âm thoại viên đến trình « Thưa Trung Tá, Tướng Tư Lệnh muốn  nói chuyện với Trung tá». Đáng lẽ chúng tôi ra khỏi phòng nhưng nghe Tướng Tư Lệnh nói chuyện với Trung Tá TRĐ Trưởng nên chúng tôi dừng lại nghe. Ông bảo người âm thoại viên: «Đem máy lại đây» rồi cầm ống liên hợp nói «Thưa Mặt trời, tôi nghe đây» bên kia đầu có tiếng nói vang lên : «Tôi giao cho anh quyền chỉ huy Sư Đoàn, anh hướng dẫn đơn vị ra tiền cảng sẽ có tàu đến đón». Ông hỏi tiếp : «Mặt trời đang ở đâu ?», bên kia đầu dây nghe có giọng trả lời : «Tôi đang ở ngoài chiến hạm của Mỹ… ». Nghe đến đây tự nhiên tôi thấy có một cảm giác chua xót  trong lòng, tôi thầm nghĩ «Ồ, té ra là vậy ! Giờ nầy Tướng Tư Lệnh đã an toàn trên chiến hạm của Mỹ rồi, nhưng vẫn còn lo xa, sợ bị mang tiếng là bỏ rơi đơn vị nên ‘gán’ trách nhiệm cho Trung Tá TrĐ Trưởng chúng tôi ». Tuy nghĩ vậy nhưng vẫn giữ vẻ bình thản, quay sang rủ Đ/U Y «Mình ra lại phòng tuyến bảo anh em thu dọn vật dụng cá nhân, chắc sẽ di chuyển». Ra đến nơi thì thấy anh em Trinh Sát kẻ chạy tới, người chạy lui…trông có vẻ bận rộn và vui vẻ lắm… Đ/U Y hỏi « Mấy anh làm gì vậy ? ». Một người trả lời «Mấy đứa nó lấy hàng Quân Tiếp Vụ trong kho của Đặc khu về chia nhau đó Đại Bàng». Tôi nghĩ nhanh ‘nếu mình di chuyển thì Đặc khu bỏ ngõ, kho hàng QTV nầy  cũng sẽ bị người ta vào lấy, chi bằng mình bảo anh em vào lấy mỗi người một ít mì gói và thuốc lá, phòng khi cần thì có mà dùng… », liền đến nói nhỏ với Đ/U Y « Mầy bảo anh em lại kho QTV lấy mỗi người một ít mì gói và thuốc lá, còn mấy thứ khác đừng có đụng tới »...  Đ/U Y vừa nói xong thì anh em kéo nhau đến kho hàng QTV lấy mì gói và thuốc lá mang ra chia cho nhau thỏa thích. Tôi cũng  đi theo vào kho tìm được một cái giỏ xách tay đan bằng sợ nylon, lấy một ít mì gói và thuốc lá bỏ vào xách mang theo. Sau đó hối anh em thu dọn vật dụng cá nhân rồi đến tập họp trước phòng Trung Tá đợi lệnh. Độ 15 phút sau có mấy chiếc GMC đến chở chúng tôi. Tôi và Đ/U Y leo lên đứng trong thùng xe cùng với một toán TS6 , xe chạy về hướng Tiền cảng. Khi sắp đến tiền cảng thì thấy có rất nhiều xe chở lính đang chờ ở đó, có cả xe thiếp giáp. Đến gần mới nhận ra là lính của Sư Đoàn 3BB. Thì ra tất cả các đơn vị trú quân tại Vũng Tàu cũng đều được lệnh ra Tiền cảng để chờ tàu! Có lẽ thấy ở Tiền cảng quá đông, lại nhớ đến cảnh hổn loạn tại bến tàu Chu Lai trước đó nên có lệnh quay đầu xe chạy về Bãi trước, hy vọng sẽ  tìm được tàu…Nhưng khi hỏi ra mới biết Đại Tá L ‘rủ’ chạy đến nhà ông ở gần sân vận động «tử thủ» !  Thật là buồn cười, tình hình đã đến nỗi nầy mà có người vẫn còn nuôi ảo tưởng! Tuy tiếng gọi là Trung đoàn, nhưng quân số hiện hữu chưa tới một trăm người, đa số là lính văn phòng thì « tử thủ » được bao lâu ? Tôi đang nghĩ vớ vẩn như thế thì  thấy một đoàn xe ùn ùn chạy tới, mấy chiếc xe thiết giáp chạy đầu lấn đường, đoàn xe chở chúng tôi bắt buộc phải ép vào lề đường dừng lại chờ cho đoàn xe «qua mặt». Thừa cơ hội xe ngừng, tôi bảo Đ/U Y « nhảy xuống xe mầy, tình hình nầy mà tử thủ cái nỗi gì! Mầy hỏi mấy anh lính TS có ai muốn đi theo thì nhảy xuống xe». Có 4 lính TS nhảy xuống xe nhập bọn với chúng tôi.  Chúng tôi rẽ vào một ngõ hẻm dẫn đến một xóm nhà, đi được một đoạn tôi dừng lại bàn với anh em :  «Việc đầu tiên là mình nên thay đồ civil, những việc khác sẽ tính sau ». Chúng tôi vừa đi vừa quan sát xem có nhà nào có thể xin đồ civil được không. Khi đến một ngôi nhà có vẻ khang trang chúng tôi rẽ vào sân thấy có một cánh cửa sổ còn mở hé, tôi tiến  vào mở cửa sổ quan sát. Nhà vắng tanh, chủ nhà đã bỏ chạy, đồ đạc còn vung vải lung tung trên sàn nhà. Chúng tôi đến mở cửa chính, nhưng cửa đã khóa.  Tôi nhìn xuyên qua phòng thấy cái cửa sổ mặt sau nhà có 2 cánh chỉ được khóa bằng một cái móc đơn giản. Tôi tìm một cái que nhỏ đưa vào khe giữa 2 cánh cửa đẩy từ từ cho cái móc rời khỏi cái khoen, sau một hồi loay hoay cái móc bung lên và 2 cánh cửa mở ra. Chúng tôi trèo cửa sổ vào nhà, đến ngay cái tủ đứng hy vọng sẽ có quần áo đàng ông treo trong đó. Đúng như dự đoán, trong tủ có treo rất nhiều đồ civil, có cả mấy bộ đồ Xây Dựng Nông Thôn nữa. Chúng tôi lấy mỗi người một bộ thay vào, còn đồ trận xếp cuốn nhỏ lại đem nhét vào một bụi rậm. Xong đâu vào đó chúng tôi mới đi tìm nhà để xin tá túc, vì giữa lúc đang lộn xộn nầy mà đi lang thang ngoài đường rất nguy hiểm… Gõ cửa bốn, năm căn nhà mà không có ai chịu tiếp, đến căn nhà thứ sáu mới có người chịu mở hé cửa ra nhìn, đó là một chị trung niên mau mắn. Chị hỏi « mấy chú cần gì ? », Tôi vội trả lời «Anh em chúng tôi ở tận ngoài Trung chạy loạn vào đây, xin chị vui lòng cho anh em tôi tạm trú khi nào yên ổn chúng tôi sẽ đi, chớ bây giờ đi lang thang ngoài đường nguy hiểm quá». Nghe tôi trình bày như vậy, chị mau mắn bảo chúng tôi vào nhà rồi chỉ ván cho chúng tôi nằm nghĩ. Nhưng chúng tôi từ chối ở nhà trên vì sợ rủi có ai thấy sẽ phiền cho chị về sau.  Chúng tôi xin xuống nhà dưới lấy poncho trãi trên sàn nhà cùng nằm nghỉ với nhau. Một lát sau chị kệ nệ bưng xuống mấy ly cà phê và nói «Mấy chú uống cà phê đi, hồi sáng tôi pha cho ổng nhưng ổng có việc phải đi sớm không kịp uống». Chúng tôi dò hỏi mới biết chồng chị là cảnh sát, có lẽ bữa nay ngoài đường phố lộn xộn quá nên ảnh không về ăn trưa được.  Chúng tôi thấy đói bụng, hỏi mượn chị một cái soong để nấu nước sôi chế mì gói, nhưng chị không chịu, chị bảo để chị dọn cơm cho bọn tôi ăn. Tuy chị không hỏi han gì nhưng chị cũng đoán biết chúng tôi là dân nhà binh nên chị dành cho nhiều ưu ái. Chị có một đứa con trai khoảng 11, 12 tuổi khá lanh lợi.


     Nhờ nó thường chạy ra đường nghe ngóng tin tức rồi về kể lại cho mẹ nghe nên chúng tôi cũng biết chút ít diễn biến bên ngoài. Có lần nó chạy về vừa thở vừa kể « Mấy ổng vô rồi. Có một ông lính mặc đồ rằn ri  phá cửa tiệm vàng định lấy đồ bị ‘mấy ổng’ bắn bị thương 2 cái chân nằm trước hiên tiệm vàng rêu la quá trời mà ‘ổng’ không cho ai vào băng bó gì hết, chắc ông lính chết quá !


   Đến khoảng gần 4 giờ chiều cháu chạy về báo : «Mấy ổng gọi loa biểu quân nhân đi đến trường Thiếu Sinh Quân (TSQ) trình diện… ».




    Tôi nháy Đ/U Y  đem 2 khẩu Colt 45 ra sau hè đào đất chôn rồi vào thu xếp để đi trình diện. Tính tôi vốn cẩn trọng cho nên dặn anh em cứ từ từ, không nên đi sớm đôi khi gặp sự không may. Gần 5 giờ chiều chúng tôi đến trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu để trình diện. Khi chúng tôi đến  vào ra cổng tự do, không thấy ai hỏi han gì cả. Chúng tôi vào trong sân đứng chờ  thì thấy mấy em TSQ lớn có, nhỏ có ; Có chú khoảng 16, 17 tuổi, nhiều em tuổi khoảng 11,12. Em nào cũng quân phục chỉnh tề giống như đi dự lễ.  Tôi thấy lạ mắt nên ngoắc vài em  tuổi khoảng 11, 12 đến hỏi : Mấy em làm gì ở đây, sao không về nhà đi » Có em trả lời : «Tôi cũng là lính, tôi chờ chút nữa trình diện». Tôi bảo « Chú cùng mấy anh lớn kia thì ở lại trình dịên, còn mấy em chút xúi mà trình  diện  cái gì mau đi về đi. Bây giờ cổng còn mở không lo đi đi, để chút nữa họ đóng cổng lại rồi làm sao ra ? », nhưng mấy em không chịu đi về cứ nằng nặc đòi ở lại chờ trình diện ! Tôi cảm thấy hơi bực mình nhưng cũng thầm phục tinh thần kỷ luật của các em. Tôi nghĩ chắc mấy chú nhóc nầy sẽ nghe lời huynh trưởng. Tôi gọi mấy em TSQ lớn tuổi, bảo các em hãy giải thích cho các em nhỏ tuổi đi về ngay, đừng chần chờ nữa… Một lúc sau mới có một số em TSQ nhỏ tuổi chịu rời trường đi  ra khỏi cổng…


    Khoảng hơn 5 giờ chiều có mấy tên du kích ra đứng gác cổng, chỉ cho người đi vào, không cho người đi ra. Vài phút sau có lệnh tập họp : Sĩ quan đứng riêng một khu, hạ sĩ quan, binh sĩ đứng riêng một khu.  Khi đã ổn định đâu vào đó rồi chúng ra lệnh cho toán sĩ quan di chuyển theo hàng một, có mấy tên du kích mang súng đi kèm. Chúng tôi là người ngoài Trung không thuộc đường sá địa phương nên cứ im lặng đi theo sự hướng dẫn của chúng. Lúc đó tuy mặt trời đã xuống thấp nhưng vẫn còn nắng, một thứ ánh nắng vàng võ, u buồn… Trời vừa sập tối thì chúng dẫn chúng tôi đến địa điểm tập trung, tôi đọc thấy 3 chữ « Đình Thắng Nhất». Ở đây đã có một số người đến trước, nhưng tôi không biết có những ai vì trong đình tối thui. Tôi nghe chúng hỏi trổng « có biết tên Đại Tá L không ? Tên nầy đã bị bắt hồi chiều. Tôi bấm nhẹ tay của Đ/U Y như ngầm hỏi không biết Đại Tá L có bị bắt thật chưa, hay chúng chỉ phao tin thất thiệt để hù dọa chúng tôi. Sau đó có một gả ‘cán bộ’ gọi chúng tôi đến khai báo để chúng lập danh sách; Danh sách khá đơn giản, chỉ có 4 cột: Họ và tên, Cấp bậc, Đơn vị và Quê quán. Khi tới phiên anh Y. chúng hỏi anh cấp bậc gì, anh khai là Đại úy, chúng có vẻ ngờ vực nên hỏi đi hỏi lại đôi ba lần mà vẫn chưa tin! Tôi đứng bên cạnh anh Y nên vọt miệng nói xen vào « ảnh là Đại úy thật đó, tôi ở cùng đơn vị với ảnh mà… » Gả ‘cán bộ’ nhìn tôi một chặp rồi mới chịu ghi cấp bậc vào giấy, rồi hỏi người tiếp theo.  Khi lập xong danh sách, y dặn : « Các anh ở tạm tại đây một đêm, sáng mai  sẽ đi Bà Rịa để xin ‘ Giấy đi đường’ về trình diện địa phương. Đêm nay các anh không được đi đâu lộn xộn, khi cần đi tiểu phải hô lớn : «Cho tôi xin phép đi tiểu», nếu không hô mà đi ra ngoài rào có thể bị bắn chết ! Tôi và Đ/U Y tìm một cái góc, vào đó ngồi dựa lưng với nhau thức … cho qua đêm !


    Sáng hôm sau 01/5/1975 chúng tôi dậy thật sớm, làm vệ sinh cá nhân qua loa rồi ngồi đợi.  Gả ‘cán bộ’ cầm tờ danh sách trên tay và gọi tên  tôi, tôi không biết mình có làm gì sơ sót không mà bị y gọi đích danh đây! Khi tôi đến trước mặt y, y hỏi «Anh là TKK hả», tôi trả lời «Vâng tôi là TKK» . Y đưa cho tôi tờ danh sách và bảo:  «Anh làm trưởng toán dẫn anh em ra Bà Rịa trình diện để xin giấy đi đường về quê… ». Thì ra tên tôi ở đầu danh sách nên bị giao cho cái chức vụ ‘trưởng toán’. Tôi nhận tờ danh sách rồi thông báo với anh em là chúng mình đi Bà Rịa xin giấy đi đường  để về quê. Chúng tôi cùng nhau đi bộ ra đường lộ tìm xe đi Bà Rịa, đâu ngờ là cầu Cỏ May bị giật sập nên xe từ Bà Rịa không đến Vũng Tàu được, vã lại VC mới chiếm Vũng Tàu nên ai nấy còn đang bàng hoàng, lo lắng, chưa dám mạnh dạn làm ăn như hồi trước. Chúng tôi tiếp tục cuốc bộ, nhưng có người đi không nổi nên tôi bàn với anh em rằng mỗi người tự tìm phương tiện để đi, ai tới Bà Rịa trước thì chờ tại đó, khi cả toán đều đến đông đủ tôi sẽ đem danh sách nầy đưa cho họ và xin giấy đi đường. Chúng tôi thấy bất cứ người nào chạy xe về hướng Bà Rịa kể cả xe đạp cũng làm dấu xin quá giang, gặp những ngưới tốt bụng thì ngừng lại chở. Đến nửa buổi chúng tôi tới cầu Cỏ May, cầu bị quân ta giật sập để chận đứng bước tiến của VC đang xua quân về phía Vũng Tàu. Khi đi xuống mé bờ sông  chúng tôi nhìn thấy một cảnh thương tâm mà không bao giờ có thể quên được ! Đó lá xác mấy anh lính Dù bị tử thương trong trận đánh ngăn chận giặt đêm qua. Các anh đã anh dũng hy sinh vào giờ thứ 25 của cuộc chiến.  Bây giờ các anh nằm đó hết sức cô đơn, không thân nhân, không đồng đội không một người nào lo chuyện mai táng cho các anh. Đò cập bến, chúng tôi ngậm ngùi bước lên đò để qua sông. Tôi ngoáy đầu lại thầm  khấn : «Vĩnh biệt các anh, những vị anh hùng mà từ lâu tôi hằng ngưỡng mộ. Hôm nay các anh nằm đây cô đơn, lạnh lẽo không người lo việc hậu sự cho các anh. Chúng tôi cũng không dám đến viếng các anh, thật là đau lòng và hỗ thẹn…Các anh sống khôn, thác thiêng…thông cảm cho chúng tôi… »
    Sang được bờ bên kia chúng tôi vội vã tìm xe đi Bà Rịa. Đoạn đường nầy có nhiều xe cộ hơn nên đón xe được ngay. Trên đường đi có nhiều hành khách đoán được là chúng tôi đi ‘trình diện’ xin gấy đi đường nên đã bàn rằng ‘hôm nay là 01/5, ngày Quốc Tế Lao Động, ai làm việc mà đi cho mất công’. Tuy nghe nói cũng có lý, nhưng chúng tôi vẫn đi… Gần trưa chúng tôi đến nơi, thấy khá đông người đang đứng chen chúc ngoài cửa sổ để chờ đến phiên mình. Giữ lời hứa tôi đi tìm các anh trong toán nhưng chỉ gặp được vài ba anh, còn những người khác đã xin được giấy đi đường nên lo tìm phương tiện về quê. Tôi nhận thấy cái danh sách nầy không  cần thiết nữa, nếu đem đưa cho « Ban quân quản » biết đâu họ gặn hỏi những người có tên trong danh sách mà không có mặt thì rắc rối thêm nên tôi hủy cái danh sách, vào trình diện cá nhân như những người khác. Chen lấn độ nửa tiếng đồng hồ thì lấy được cái giấy đi đường. Việc đầu tiên của tôi sau khi có được ‘lá bùa hộ mạng’ làvào «rừng Chí Linh» (TTHLCB/XDNT) để tìm gia đình. Chiếc xe lam vừa dừng lại, tôi vội vã chạy vào cổngTrung tâm thì thấy vắng hoe, tại tổng đàn 1 nhiều gia đình đã dọn đi đâu mất rồi, tôi  tất bật  chạy vào tổng đàn 7 nơi mà cha và các em tôi tạm trú thì thấy căn láng bỏ trống, tôi điếng hồn không biết gia đình đã đi đâu hay có gì bất trắc xảy ra ? Vào lục lạo căn láng may ra cha hay em tôi có để lại lời nhắn gì không ? May quá em tôi có gài trên tấm vách một mảnh giấy cho biết gia đình đã dọn vào Tổng đàn 2 , chứ ở ngoài đó xa cổng quá, lại hay bị pháo kích… Tôi yên tâm tìm đến Tổng đài 2 thì gặp được gia đình. Do đã có kinh nghiệm chạy tản cư hồi Việt Minh  nên cha tôi đã chia phần những đồ đạt cần thiết cho các em tôi trách nhiệm mang theo khi di chuyển. Sau khi ăn qua loa vài miếng cơm trưa, tôi vội đưa gia đình ra ngã ba Bà Rịa - Vũng Tàu để tìm xe về Sài Gòn…


     Đến Sài Gòn trời đã sụp tối, tôi đưa gia đình về nhà người cậu họ tạm trú và chờ xe đi về Trung. Cậu tôi có một chiếc xe ‘ca’ thường chạy đường Sài Gòn - Đà Nẳng, xe vừa đi ra Trung trước đó một ngày nên phải đợi xe về lại Sài Gòn. Trong thời gian chờ đợi xe tôi chạy tìm mấy mgười  quen, có xe hay chạy tuyến đường Sài Gòn - Đà Nẳng, nhưng  không có chủ xe nào dám chạy vì họ sợ những bất trắc do tình hình chưa được ổn định lắm, thế là tôi phải về nhà Cậu nằm chèo queo chờ xe.  Tuy rất nóng ruột muốn về Trung càng sớm càng tốt nhưng không còn cách nào khác đành phải chờ…      


    Ngày 04/5 nghe tin xe đã về Sài Gòn, nhưng chưa chạy vội được vì cần giở hàng xuống, chất hàng mới  và tu bổ trước khi chạy tiếp chuyến khác. Sáng sớm ngày 7/5 xe bắt đầu chạy, tôi thở phào nhẹ nhỏm, hy vọng nội nhật ngày mai sẽ đến Tam Kỳ. Xe chạy đến Rừng Lá thì bị kẹt vì chiếc cầu nhỏ bắt ngang qua suối bị sập, xe phải chạy vòng băng qua suối, đường lầy lội vì xe qua lại quá nhiều. Cuối cùng phải mời hành khách xuống đi bộ may ra xe mới chạy qua đoạn đường nầy được ! Khi xuống đi bộ, có một anh bạn cùng quê đi cùng xe đến nói nhỏ với tôi « Anh K, mình trở  vào Sài Gòn đi, ở Sài Gòn không ai biết ai, dễ trốn tránh hơn, chứ về quê tụi nó biết rõ gốc gác của mình, chắc khó sống nỗi ». Tôi nghe cũng có lý nhưng tôi không thể không về được. Về để gặp lại vợ rồi ra sao thì ra. Tôi đã từng sống dưới thời Việt Minh, đã biết thế nào là Cộng sản, và cũng biết chúng sẽ trả thù một cách không nương tay đối với những người đã từng chống lại chúng… Tôi vội trả lời anh bạn «T nói cũng có lý, nhưng mình phải về, T nên trở lại Sài Gòn đi , thôi mình đi, tạm biệt ( ?) nghe».


     Trên đoạn đường từ Sài Gòn về đến địa đầu tỉnh Quảng Ngãi có khá nhiều trạm kiểm soát của du kích địa phương. Biết vậy nên tôi xin với cậu cho tôi đóng vai gả phụ xe. Khi xe đến trạm đều phải dừng lại để chúng kiểm soát, nhưng may một điều là những trạm nầy đều khá dễ dãi, các chú du kích chỉ ‘ra lệnh’ «ai là lính thì xuống xe», rồi  vào trong xe quan sát một vòng, xong bước xuống cho xe chạy. Những người nào nhẹ dạ, cả tin xuống xe sẽ bị tập trung tại một chỗ, rồi đưa đi « học tập cải tạo » ngay. Tôi dặn chú em tôi cứ ngồi im trên xe, khi nào chúng hỏi đến hãy trả lời là thường dân đi làm ăn trong Nam, nghe nói ngoài Trung vừa rồi bị lộn xộn nên về để hỏi thăm tin tức gia đình. Nhưng từ đèo Bình Đê (địa đầu tỉnh Quảng Ngãi) trở ra thì sự kểm soát  gắt gao hơn! Đến trạm nào cũng vậy, xe phải đậu lại chờ, mấy gả du kích từ trong trạm bước ra, có vài gả cầm súng trong thế chờ, còn một gả đi không, ra lệnh : «Tất cả xuống xe, ai là lính đứng qua một bên » rồi leo lên xe kiểm soát xem có ai trốn lại trên đó không, xong mới xuống rọi pin lướt qua mặt mọi người xem có ai là lính không ! May là nhờ bóng đêm và nhờ chúng chỉ ‘ra oai’ hơn là cố ý bắt người nên anh em tôi vẫn ‘lọt sổ’ được.  Khi xe đến Bình Liên - Nơi mà người con của Cậu bị VC bắn chết và chôn ở đây - bà con trên xe muốn Cậu dừng xe lại để họ viếng mộ, thắp hương cho anh.  Vì đa số là bà con cùng quê nên đoàn người đi viếng mộ khá đông. Lúc đó đã gần khuya, cảnh đoàn người đi viếng mộ, thắp hương đông đảo làm cho bọn du kích chú ý.  Khi trở lại xe thì thấy có một toán du kích đứng sẵn đó, đòi gặp chủ xe. Cậu tôi đến gặp thì bị bọn chúng nạt nộ ‘tại sao giờ nầy mà đậu xe tại đây không xin phép’ ( ?). Cậu tôi (chủ xe) mềm mõng trình bày rằng bà con đồng hương từ Sài Gòn về đến đây xin dừng lại để thắp hương cho con trai ông chôn tại đây, xin các anh thông cảm cho, nhưng chúng không chịu đòi giam xe lại và giữ hành khách lại đây để chờ ‘xử lý’ ! Nghe chúng nói như thế tôi thật  tình lo sợ. Nếu chúng bắêt  đi ‘học tập’ thì không còn hy vọng gặp lại vợ và gia  đình ! May sao cậu tôi là một người lịch duyệt và tháo vác nên ông đã trở lại xe lấy một xấp giấy chứng nhận xe bị trưng dụng để chở quân nhiều lần, ý ông muốn chứng tỏ với bọn du kích là ông cũng ‘có công trong chiến dịch HCM’ và năn nỉ chúng cho xe chạy để bà con về nhà sớm. Hai bên cò kè mãi, cuối cùng chúng bảo chờ chúng trình lên ‘thủ trưởng’ giải quyết. Một lúc sau viên ‘thủ trưởng’ đến ‘lên lớp’ một hồi rồi ra lệnh cho hành khách lên xe và cho xe chạy. Tôi thở phào nhẹ nhỏm vì chỉ còn khoảng 40 cây số nữa là tôi gặp được vợ tôi. Khi xe đến cầu An Tân xe lại bị chận lại. Cậu lại xuống xe đến trình bày rằng nhà cậu nằm bên kia cầu, xin cho xe qua đó đậu lại để bà con vào nhà nghỉ ngơi, chớ trên xe chật chội quá, để bà con ngồi chờ đến sáng tội nghiệp, sáng hôm sau mới chạy tiếp. Nhưng chúng nhất định không cho. Sau một hồi ‘mặc cả’ chúng đồng ý phải để xe tại đây, nhưng cho hành khách đi bộ qua nhà ông để nghỉ ngơi. Đêm đó tôi rất hồi hộp, không ngủ được vì chỉ còn hơn 4 cây số nữa là đến nhà tôi. Tôi quyết định là sẽ không xuống xe mà đi thẳng Tam Kỳ, vì tôi biết nếu xuống xe về nhà thì chỉ một giờ sau là du kích sẽ đến bắt tôi đi ngay, không còn hy vọng gặp vợ được nữa.  Sáng ra tôi thưa với cha tôi cho phép tôi đi Tam Kỳ ít ngày để biết tin tức vợ và gia đình thế nào, rồi sẽ về . Đến nhà cha và các em cứ xuống xe, ai hỏi nói con sẽ về sau. Đúng theo kế hoạch, khi xe dừng lại ngay trước nhà tôi, bà con thấy các em tôi xuống xe thì ùa xa mừng rỡ, tôi phải nằm dưới sàn xe để không ai trông thấy… ! Ra đến gần cầu Tam Kỳ, tôi nói với cậu  cho tôi xuống xe ở đây, giả dạng dân địa phương đi bộ qua cầu để khỏi bị kiểm soát. Từ đó tôi đi bộ về nhà vợ tôi hơn nửa tiếng đồng hồ. 


   Sự xuất  hiện đột ngột của tôi làm cả nhà đều bị bất ngờ và mừng rỡ. Riêng phần tôi, thấy cả gia đình đều bình an, nhất là vợ tôi vẫn bình thường là tôi mãn nguyện rồi. Tôi quyết định ở lại một tuần lễ. Vì nghe VC tuyên truyền rằng các sĩ quan của chế độ cũ - VC gọi là ngụy quân - đều phải đi học tập, cho nên trước khi tôi về nhà vợ tôi đã sắm cho tôi mấy tập vở và một cây viết bi để ghi chép!


     Sáng ngày 14/5 tôi từ giả gia đình bên vợ để về nhà cha mẹ tôi.  Tôi về đến nơi , bước vào nhà thì thấy ngỡ ngàng, một cảnh tượng hoang phế hiện ra trước mắt : Căn nhà trống trơn, các vật dụng thường ngày biến đi đâu cả,  tủ sách của tôi bị lục tung, sách vở bị xé rách nằm vung vải đầy nền nhà… Tôi đang ngẩn ngơ đứng nhìn thì cô P, người em họ của tôi xuất hiện bảo tôi sang nhà thiếm V ở tạm,  vì nhà chưa xin lại được. Tôi lặng lẽ quay ra, đến nhà thiếm V để tạm trú….Buổi chiều hôm đó tôi ra trình diện Uûy ban Nhân dân huyện nam Tam Kỳ, ở đây bảo tôi về trình diện địa phương. Tôi đến trình diện Ủy ban Nhân dân xã Tam Hiệp. Trong khi ngồi chờ đến phiên mình thì tôi thấy cha tôi cũng ra xã nộp đơn để xin lại căn nhà (Vì gia đình tôi chạy vào nam nên căn nhà bị tịch thu, hiện dùng làm cơ quan y tế, cha tôi làm đơn xin lại căn nhà nhiều lần mà không được chúng giải quyết, nại lý do là tôi chưa về…),  Theo đúng thủ tục hành chánh, tôi thấy cha tôi đến một cái bàn có một người phụ nữ ngồi - Tôi không nhận biết người nầy là ai, làm gì trong chính quyền địa phương - Cha tôi đưa cái đơn ra và nói gì đó thì nghe người phụ nữ đó quát tháo : «Tôi đã bảo ông rồi, không có chứng nhận gì cả ! Bảo thằng đại úy Khôi về đây tôi mới chứng.. » Tôi liền đứng dậy bước lại trước bàn nói :  «Tôi là đại úy Khôi đây, tôi đã về và đã trình diện cơ quan huyện rồi, bây giờ tôi về trình diện xã đây». Bà ta nhìn sững tôi vì bà ta và tôi chưa gặp nhau bao giờ! Sau đó tôi lại trình diện bên Uûy ban xã, nghe những lời dặn dò và ‘lên lớp’ rồi ra về nhà thiếm V chuẩn bị hành trang đi « học tập ». Bốn giờ sáng tôi đã lo dậy may cái mùng võng (bắt chước theo kiểu VC) để chống mũi, nhưng tôi mới đạp được một đường thì thấy chú du kích bước vào hỏi tôi : «Anh có phải là Đ/U Khôi không? », tôi trả lời «Vâng, tôi đây», chú DK nói :  «Anh có lệnh đi học tập, chuẩn bị 3 ngày ăn và vật dụng cá nhân», Tôi đề nghị : «Chờ tôi một chút tôi may xong cái mùng võng đã». Thấy tôi may quá chậm nên cô P may giúp tôi, xong tôi bỏ những vật dụng cần thiết vào cái ba lô, đeo lên vai và đi theo chú DK. Khi ra đến gần chợ Dốc thì thấy một đoàn người khá đông đang đi phía trước, 2 chúng tôi phải chạy nhanh cho kịp đoàn người. Đây là những người thuộc quân đội,  hành chánh và đảng phái ở 2 xã Kỳ Khương và Kỳ Liên bị tập trung đi cải tạo đợt nầy.  Chúng tôi đi gần hết hai  ngày đường , đến chiều ngày thứ hai  thì đến một con sông, sau nầy tôi mới biết đó là Sông Tranh. Chúng tôi dừng lại bên sông để chờ các trại ra nhận tù. Tôi bị chia về trại 5 sông Tranh…Từ đây tôi là một tên tù của VC, loại tù không có án…Và những gì sẽ xảy ra thì tất cả chúng ta đều đã trải qua rồi tôi không cần ghi lại nữa , vã lại nó cũng nằm ngoài đề tài… Tôi xin chấm dứt tại đây. Cám ơn các bạn đã bỏ kha khá thì giờ để đọc.


  Bữa nay là Mồng Ba tết. Mặc dù bài nầy đến tay các bạn thì hương vị tết đã không còn gì nữa nhưng tôi cũng mượn hơi Tết để chúc các bạn và gia đình năm Canh Dần được Vạn Sự Kiết Tường.


NT1 Trần Kim Khôi