Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai LỐI RA CUỘC CHIẾN

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

LỐI RA CUỘC CHIẾN

In PDF.


Bước vào cuộc Thăng Trầm
 
A/ Khởi sự


Thượng tuần tháng 8/1974, tôi được điều động ra khỏi chiến trường Chương Thiện về làm trưởng B.5 Chi Khu Bình Minh/Vĩnh Long (CKBM/VL.) Về tới đây chưa kịp đặt mông trên chiếc ghế trưởng Ban thì ông Chi Khu Trưởng, Thiếu tá Trần Hoành S, lệnh cho tôi đại diện CKBM về Sài Gòn học khóa “Kế Hoạch Hậu Chiến,” rồi tiếp đến khóa “Điều Hành Tham Mưu” ở Cần Thơ
 
Chấm dứt khóa học sau, trở về BM lại trúng vào thời điểm tình hình chiến sự leo thang, không những ở các Vùng Chiến Thuật phía Bắc, mà ngay cả Vùng IV và trong lãnh thổ CKBM cũng vậy, nổi bật là VC cả gan mở một cuộc tấn công vào đầu não BCH/CK cách đó không lâu, do đó mà ông CKT thấy tôi về ông tỏ vẻ mừng gọi tôi vào phòng ông ngay và nói, “P, đáng lý em hoàn tất hai khóa học, anh nên để em phụ trách B.5 như Sự Vụ Lệnh (SVL) đưa em về đây, nhưng…” rồi ngừng đôi phút, như thể ông cũng rất ngại ngùng cho tôi biết một sự thật phũ phàng ông sắp nói.
 
Lợi dụng thời gian này tôi vội xen vào và hỏi ông, “Có nghĩa là Thiếu tá sẽ sắp đặt cho tôi đảm nhận một chức vụ khác, thay vì làm Trưởng B.CTCT?”
 
Ông ngước mắt nhìn tôi, thở dài như vừa trút bỏ một gánh nặng. Ông nói, “Vâng, đúng đó.”
 
Tôi lại hỏi ông, “Vậy ai sẽ đảm trách Ban 5 thay tôi?”
“Ông Đại úy Lê Văn T. Tiểu khu vừa mới đưa về.” Ông đáp.
 
“Phải Đại úy Lê Văn T. ở Đại đội CTCT/VL? Lý do gì ông rời bỏ chức vụ ông đang nắm? Và lý do gì TK bổ nhiệm ông về thay thế tôi?” Tôi đặt câu hỏi cho ông.
 
Ông nói, “Anh xin trả lời từng phần: Đúng ông T. ĐĐT/ĐĐ/CTCT/VL; lý do ông rời chức vụ này anh không rõ lắm; TK không đưa ông về đây để thay thế em, mà chính anh để ông nắm B.5! Sở dĩ anh làm việc này là vì anh biết, ông cầm chức vụ ĐĐT đại đội CTCT đã lâu, hẳn nhiên ông cũng có ít nhiều kinh nghiệm về CTCT. Vả lại, công tác này không mấy quan trọng trong cái thời điểm cần có sức mạnh ‘Quân Sự’ hơn là ‘Lời Nói’. Nói như thế không có nghĩa là em thua sút ông ta trong lãnh vực CTCT. Em hơn ông ta nhiều anh biết: bỡi em xuất thân từ trường đào tạo SQ/CTCT nồng cốt, với lại, mới đây, em đỗ ‘Thủ khoa’ khóa “Kế Hoạch Hậu Chiến” ở SG, đã nói lên tất cả. Ngoài cái kiến thức CTCT em sẵn có, anh còn thấy em có khá nhiều ‘kinh nghiệm tác chiến’ qua những năm lăn lộn trong chiến trường, một thứ kinh nghiệm mà anh thực sự cần dùng cho công tác ‘An ninh Phòng thủ’ hiện nay. Đó là lý do anh không để em đảm trách B.CTCT.”
 
Ông nhắc đến những việc như: tôi xuất thân từ trường Đại học CTCT/Đà Lạt, tôi đỗ ‘Thủ khoa’ khóa “Kế Hoạch Hậu Chiến/Sài Gòn làm tôi cảm thấy bàng hoàng xúc động và trộn lẫn trong cái cảm giác đó là chút xót xa hổ thẹn bỡi lẽ: Là SQ/CTCT Đà Lạt, tôi đã làm gì để xứng đáng cho danh hiệu đó? Là Thủ Khoa, tôi đã làm gì để thực thi lời phát biểu của tôi trong buổi mãn khóa (… “Một con én không làm nên mùa Xuân,” là hàm chứa một tư tưởng thụ động. Tôi hy vọng quý vị khi trở về đơn vị sẽ là một con én đơn độc trong khoảng trời mênh mông, hay một viên gạch nền móng trầm lặng nằm dưới một tòa nhà đồ sộ…!) Tôi gục đầu ngẫm nghĩ và than thầm: “Mẹ ơi! Mẹ đã dạy con trong những hai năm, rồi trao cho con quyển Cẩm Nang vào đời để xử dụng, nhưng trong cuốn cẩm nang này con đã không tìm thấy trang nào viết về nghệ thuật thuyết phục cấp chỉ huy của con, để họ có thể cho phép con làm những điều mẹ đã từng kỳ vọng! Con đang lạc lõng giữa chợ đời không người cộng tác giúp đỡ. Đã hai lần, con đưa bảo vật Mẹ để làm tin mà không ai thèm nhìn ngó và tôn trọng. Mẹ ơi con rất đau lòng và không nhìn thấy hướng tương lai!”
 
Ông thấy tôi ngồi im lặng quá lâu không nói, nên ông cất tiếng hỏi, “Em thấy thế nào? Có vui lòng giúp anh không?”
 
Nghe ông luôn dùng tiếng ‘Anh/Em” trong lúc nói chuyện, lòng tôi cũng cảm thấy chút nhẹ nhõm, bởi những kỷ niệm xưa sống dậy trong tôi, kỷ niệm của cái thời ông và tôi còn trong chiến trận (Tiểu đoàn ông và Tiểu đoàn tôi chung cùng một Liên Đoàn,) nên tôi nhẹ giọng đáp lời ông, “Anh là Chỉ Huy Trưởng, anh muốn sắp xếp sao cũng được!”
 
Ông nhìn tôi với vẻ hài lòng và cười nói, “Tốt lắm, thôi em về nghỉ, ngày mai họp tham mưu sẽ phân định rõ nhiệm vụ cho em.”
 
Tôi chào ông rồi về dãy nhà, phía sau dinh CKT, dành cho SQ cơ hữu ở. Tắm rửa xong ngã lưng ra ghế bố đánh một giấc và không biết thời gian trôi qua là bao lâu thì có một người lính vào đánh thức tôi dậy và bảo ông CKT cần gặp tôi gấp.
Tôi vội khoát quân phục, mang giày đến gặp ông tại Văn phòng.
 
Ông vào đề ngay, “Ba cây số về phía Đông Nam cầu Mù –U (nằm trên Quốc Lộ 4,) sáu tên trong băng đảng Năm Giao, có vũ trang đang hoành hành, cướp bóc của cải tiền bạc của dân chúng. Anh nhờ em chạy xe đến gặp Trung sĩ Thạch S, rồi hai người phối hợp tóm chúng.”
 
Tôi nhìn ông rồi cười nói, “Bắt sống chắc không ổn đâu, vì bọn này có súng. Anh cho phép tụi em tiêu diệt thì em mới dám đảm nhận?!”
Ông đồng ý nhưng căn dặn tôi thêm, “Bắt sống hay tiêu diệt gì cũng được, nhưng cố gắng tránh gây tổn hại về tính mạng dân chúng. Thôi em đi ngay đi, Trung sĩ S. đang chờ em dưới chân cầu Mù U đó. Chúc em may mắn!”
Tôi vừa bước ra khỏi phòng, sực nhớ ông muốn bắt sống nên xin ông bảo B.5 cho tôi mượn cái loa đồng thời nói B.4 cung cấp cho tôi một cây M.16 thì ông bảo mọi thứ tôi cần đã có sẵn trong chiếc xe Jeep đang đậu chờ tôi bên ngoài.
 
Đúng như lời ông CKT nói, tôi gặp Trung sĩ Thạch S. ngay chân cầu. Hai chúng tôi lập kế hoạch tiến đánh. Chúng tôi chia quân làm hai cánh bao vây bọn cướp, bắt loa gọi chúng đầu hàng. Tiếng loa vừa phát ra thì được bọn cướp trả lời bằng những tràn đạn, bắn “dữ dội” về phía chúng tôi, làm một người trong chúng tôi bị thương, tôi nhận thấy không thể nào khuyên chúng đầu hàng do đó ra lệnh binh sĩ tiến công tiêu diệt.
 
Giao tranh khoảng chừng hai mươi phút: 4 tên chết tại chỗ, một tên bị thương bị chúng tôi bắt sống, còn một tên chạy thoát, tịch thu 4 súng M.16 và 1 súng AK.47. Tôi lại được huy chương, một thứ “Super Glue” gắn chặc đời tôi với chiến trận.
 
Sau chiến thắng, ông CKT tin tưởng vào khả năng điều quân của tôi, nên ông phái tôi đến tăng phái cho đại đội phòng thủ khu vực Bến Bắc Cần Thơ. Dù là tăng phái, nhưng vì cấp bậc tôi cao, cộng với thành tích dày dạn tác chiến nên được sự vị nể của Thiếu úy Đ, đang xử lý chức vụ ĐĐT cùng anh em binh sĩ trong Đại Đội, hầu hết mọi người đều vui vẻ làm theo các đề nghị của tôi. Những ngày ở đây, thật là nhàn hạ và sung sướng, ăn uống nhậu nhẹt dường như không phải móc tiền túi mà do các chú lính hảo tâm bao trả vì hằng ngày các chú ấy đều nhận được chút tiền “Lì-Xì” từ các “Bác-Tài” và “Chủ-Buôn” qua lại nơi đây. Tôi thấy đời tôi bắt đầu lên hương có ý nghĩa nào là: ngày ngày có nhiều dịp gặp được những giới chức quan trọng, được chiêm ngưỡng vô số ‘Nam thanh & Nữ tú’, được gần Trung tâm Văn hóa Miền Tây, gần trường Đại học Cần thơ, cho tôi nhiều cơ hội để thăng tiến, để đạt được những ước mơ…, nhưng tôi đâu biết rằng đó là cái tia “bộc sáng cuối cùng” của cây đèn dầu sắp hết nhiên liệu!
 
B/ Vào Cuộc Tang Thương
 

Sáng sớm hôm ấy…, sau khi phân phối nhiệm vụ cho mỗi trung đội trong Đại đội bảo vệ yếu khu cầu Bắc Cần Thơ, Thiếu úy Đ và tôi dạo quanh khu vực bến Bắc một vòng để xem xét tình hình rồi sau đó vào quán nhấp vài ngụm café để điểm tâm. Thực sự tôi không mấy thích vào những quán đông người ồn ào, nghẹt thở vì tràn đầy khói thuốc, nhưng chìu bạn tôi vẫn phải bước vào.
 
Bên tách Café bốc khói, tâm trí tôi bị thu hút bỡi cảnh sinh hoạt bên ngoài: người, tàu, xe qua lại tấp nập trên đường lộ cũng như trên những nhánh  sông Hậu giang, thì chợt nghe tiếng la “Trời...!” phát ra từ một người nào đó ở trong quán.
 
Tôi quay mặt lại hỏi, “Ai la vậy? Có chuyện gì xảy ra mà la trời nghe ghê quá vậy?”
“Trung úy không nghe ông DVM tuyên bố những gì qua làn sóng truyền thanh hay sao?” Người ngồi bên cạnh tôi, với gương mặt mất bình tĩnh, đáp.
“Ông tuyên bố những gì anh có thể thuật lại cho tôi nghe không?” Tôi yêu cầu.
 “Thế nào cũng phát lại, ngồi chờ mà nghe,” người ấy đáp.
Đúng như lời người ấy nói, chỉ vài phút sau lệnh đầu hàng của TT/DVM lại được phát lại. Tôi và Thiếu úy Đ. tức tốc đứng dậy rời quán về doanh trại đơn vị.
Bước chân tôi vừa đến vị trí đồn trú thì các binh lính ở đó nhao nhao lên hỏi, “Mình phải làm gì bây giờ Trung úy?”
Tôi nói, “Còn quá sớm để quyết định! Hãy chờ xem các đơn vị xung quanh ta ứng phó thế nào rồi sẽ tính, nhất là phải chờ để nhận lệnh cấp chỉ huy trực tiếp của chúng ta. Thôi, việc gì đến nó sẽ đến, cứ bình tĩnh. Kể từ giây phút này các anh em canh gác cẩn mật hơn,” tôi nói, rồi ra lệnh ai về vị trí đó, đồng thời gọi máy đến các trung đội phòng thủ các khu vực kế cận cũng làm như vậy.
Tôi và Thiếu úy Đ. đến ngồi một chỗ mà có thể quan sát toàn cảnh bến Bắc, tuy nhiên chúng tôi không một ai nói gì hay bình luận gì việc TT/DVM vừa ban lệnh cho toàn quân dân trong cả Nước. Riêng tôi cảm nhận có đám mây mù che khuất lối tôi đi và trong tôi một âm vang xa thẳm vọng lại:
 
Dang tay ôm lấy phím tơ trời,
Gảy khúc đàn tâm vọng đến Người,
Nhưng bỗng không gian đầy ánh sáng
Vũ trụ tan tành ta chơi vơi…!!!

 
Tôi đang ngồi trầm ngâm suy nghĩ thì nghe nhiều tiếng ầm ầm vang lại từ đàng xa, như thể có một đoàn xe lớn đang tiến về bến Bắc, đưa mắt nhìn kỹ thì thấy có đoàn quân xa chở đầy lính và quân dụng, từ hướng Vĩnh Long đổ về, lính tôi đang điều động các xe dân sự tạt qua một bên để dành ưu tiên cho đoàn xe Quân sự xuống Bắc, tuy vậy vì lượng xe dân sự quá đông nên đoàn xe này vẫn phải đậu lại chờ sự sắp xếp.
 
Tôi đứng dậy tiến đến đoàn quân xa thì nhận ra đoàn xe này là đoàn xe BCH/ Tiền phương của Đại tá B. (Trung Đoàn trưởng Tr.Đ33/SĐ.21/BB.) Tôi rất đỗi ngạc nhiên vì BCH của ông đang đóng tại Chi khu Bình Minh, cách cầu Bắc không xa, để điều động Trung đoàn của ông đánh giải tỏa áp lực của Cộng quân ở phía bắc Chi khu này, sao lại bỗng dưng cuốn cờ nhổ neo mà không hề thông báo gì cả? Tôi không dám tới hỏi ông, nên tiến đến ông phó của ông, Trung tá P. hỏi,
 
“BCH dời đi đâu vậy Trung tá?”
 
“Chạy trốn chứ có dời đi đâu! Bộ anh không nghe ông DVM ra lệnh buông súng đầu hàng hay sao?” Ông trả lời tôi với giọng ‘nhát gừng’!
 
“Vậy còn các Tiểu đoàn đang trong vùng hành quân thì sao, thưa Trung tá?” Tôi hỏi ông.
 
Tôi không hiểu câu hỏi này có làm gì cho ông xúc động hay tức giận, mà ông nhảy ra khỏi xe và hét lớn, “Trời ơi, ngày nào sống chết có nhau mà giờ này chỉ biết lo cho thân mình còn thuộc cấp chết sống ai mặc kệ. Hèn, hèn lắm!”
 
Ông ngừng một chút, rồi cầm ống liên hợp gọi các Tiểu đoàn đang truy lùng địch quân và nói, “Thần Ưng 1,2,3,4 nghe đây, Đại bàng đã vỗ cánh bay xa không còn ở đây nữa, nên anh em chúng ta giờ phải lo liệu cho chính mình. Các em hãy tìm đường an toàn kéo ra trục lộ giao thông rồi từ đó các em muốn làm gì thì làm, miễn có lợi cho bản thân và gia đình các em là được, không có ai quy trách gì đâu. Chúc sự bình an đến với các em, phần anh giờ này anh cũng lo cho bản thân anh vậy!”
 
Ông nói xong, bật khóc nức nở. Tôi thấy rất đau lòng, lững thững bỏ đi. Và vào tới vị trí chỉ huy tôi bốc máy gọi trực tiếp CKT xin lệnh, thì ông ra lệnh cho chúng tôi áng binh bất động tại chỗ, đợi đến ngày mai xem có gì thay đổi. Tôi gọi các ban tham mưu, B.5, B.3… để biết thêm tình hình CK hiện tại thì không ai bốc máy trả lời. Tôi tự hỏi: Chẳng lẽ mọi người đã tháo chạy, không còn ai ở đấy cả? Tuy buâng khuâng như vậy nhưng tôi không thể rời đơn vị ngay lúc đó, nên lặng lẽ chịu đựng để thời gian lặng lờ trôi qua…!
 
Tối đến, cảnh sinh hoạt của bến Bắc vẫn bình thường, tuy lượng xe cộ và tàu thuyền qua lại dường như có giảm đi đôi chút, chỉ có những mảng lục bình, không cảm xúc, vẫn bềnh bồng trôi. Đặc biệt từ phía Cần thơ súng thi nhau nổ rộ, làn đạn đan nhau bay lên không trung thắp sáng cả một góc trời, chẳng khác nào cảnh pháo bông ngày lễ. Tôi không biết súng bắn từ tay ai đêm đó: CS bắn để mừng chiến thắng hay anh em lính phe tôi bắn vài phát để rồi giã từ vĩnh viễn cây súng thân yêu?! Nhưng dù cho ai, cho phe nào bắn, tiếng súng giờ này đối với tôi là một sự mỉa mai diễu cợt, tôi mong tiếng súng im đi và bóng đêm mau tan biến.
 
Sáng ngày hôm sau (01/5), tôi nhận lệnh từ CKT cho phép chúng tôi tan hàng và tôi truyền lệnh đó tới các binh sĩ. Các lính của tôi, có người vẫn để bộ đồ trận trên người, có người cởi ra vứt bỏ bên đường, quay gót ra đi. Nhìn những quần áo, nón sắt lóc lăn trên đường lộ, tôi chợt thấy đau lòng cho những vật vô tri! Ngày nào chính những thứ đó cho họ niềm tự hào hãnh diện, thế nhưng giờ này vứt bỏ chẳng tiếc thương.
 
Tôi được một anh lính quen có chiếc Honda đưa tôi về CK. Bước vào cổng thấy vắng toe, ngay cả không có người lính đứng gác. Tôi bước qua dãy phòng của các ban ngành cũng không còn có một ai ở đó, ngoại trừ ở văn phòng ban 3, còn có Đại úy D.(Trưởng B.3,) ông đang cầm máy liên lạc với ai đó tôi không rõ, chỉ nghe được đoạn cuối: “…các anh vào mau đi, chậm trể người ta ‘hôi’ hết tài sản của cải CK bây giờ…!”

Tôi, tằng hắng một tiếng thay cho cái gõ cửa, bước vào thì tên Đại úy này lớn tiếng quát, “Giờ này mà anh còn mang súng ống và vào đây để làm gì? Ra khỏi nơi này ngay đi có được không?”
 
Lối ăn nói hách dịch của hắn làm máu nóng trong người tôi bốc lên, tuy tôi cố nén nó xuống rồi từ tốn đáp: “Thưa Đại úy, trước khi tôi trả lời câu hỏi, tôi cũng muốn hỏi Đại úy một câu tương tự là cho đến giờ phút này mà Đại úy nghĩ còn có uy quyền đối với tôi sao?” Và này là câu trả lời của tôi đây…”
Tôi rút khẩu súng Colt 45 bên người bước tới, tên Đại úy “trở cờ” thấy vậy xanh mặt!
Hắn la lên, “Đừng bắn, đừng bắn tôi có làm gì nên tội đâu?”
 
Tôi gằn giọng nói, “Tội phản trắc, ăn cơm QG thờ ma CS!”
 
Hắn lại, lần nữa, van xin tôi đừng bắn hắn bằng cách đưa hình ảnh người vợ đáng thương của hắn, người bạn chí thân của vợ tôi, để hòng lung lạc tôi: “…nếu anh không thương tôi thì cũng xin anh nghĩ đến người bạn chí thân của vợ anh, phải sống cảnh côi cút trong những ngày sau cuộc chiến!”
 
Hắn thật lợi hại, quả lời nói của hắn đã làm cơn thịnh nộ của tôi hạ xuống, tôi hạ tay súng xuống lững thững bước ra khỏi phòng và rồi tiến đến văn phòng CKT.
 
Cánh cửa mở hờ, tôi gõ ba tiếng thì ông bảo tôi vào. Câu hỏi đầu tiên của tôi là ông có biết giờ phút này còn ai tại sở và có biết những gì Đại úy D. đang làm?
Ông vẫn gục đầu không nói, một lát sau ông ngẩn đầu lên nhìn tôi với đôi mắt không còn thần khí. Ông nói, “Em có thể rời nhiệm sở ngay bây giờ và muốn đi đâu tùy ý. Anh chưa thể đi được vì còn chờ bên kia vào để bàn giao.”
Tôi hỏi ông, “Sau khi hoàn tất công việc bàn giao, anh sẽ làm gì và sẽ về đâu?”
Ông thở dài và trả lời, “Cho đến giờ phút này anh cũng không biết phải về đâu, nhưng có lẽ anh phải về để gặp vợ con anh trước đã. Thôi em đi đi kẻo trễ!”
 
Ngày đầu nhận SVL về trình diện đơn vị, ông Thiếu tá trưởng khối CTCT/VL cũng giục tôi “đi đi kẻo trễ,” và giờ đây tôi sắp rời bỏ đơn vị thì ông Thiếu tá CKT/BM cũng đã cho tôi lời khuyên ấy! Ngày xưa điểm đến của tôi là Tích Thiện, còn giờ này nơi đâu là điểm đến của tôi?
Mỹ chăng? Không, Tôi không thể chạy theo một tên phản bạn, hắn đã bỏ anh em chúng tôi cô độc giữa bầy lang sói đang thèm khát thịt da người!
“Về đâu bây giờ?” tôi tự hỏi tôi, nhưng không có câu trả lời! Đầu óc tôi đang trong cơn hỗn loạn… Cuối cùng tôi cũng làm theo cái cách mà ông xếp của tôi là tìm về với vợ con.
 
Vừa bước vào nhà thì bà chị vợ tôi la lên, “Giờ này mà dượng vẫn còn mặc bộ đồ lính và đeo lon lá làm gì nữa? Không mau cởi ra và đem vứt một nơi nào đó đi kẻo mà mây ổng vào thấy thì bất lợi không những cho dượng mà cho cả chị em chúng tôi nữa đó.”
 
Vợ tôi lại xen vào, “Chị tư nói phải đó anh, cởi ra đi rồi đưa em đi liệng cho.”
 
Tôi cảm thấy chua xót, ngày nào không những tôi mà cả vợ tôi, chị vợ tôi rất trân qúy những thứ tôi mang trên người này, thì giờ đây họ xem nó là như là những thứ đem đến tai họa cho họ!
Tôi nhìn họ và mỉm cười chua xót nói, “Giờ này tôi có cởi bỏ tất cả, để trần truồng họ vẫn biết tôi là Sĩ quan trong quân đội mà họ gọi là Ngụy. Trước sau gì họ cũng bắt tôi nhốt vào tù hoặc đem xử bắn thì có gì phải hoảng hốt lo sợ. Tôi sẽ rời khỏi nơi đây để các người khỏi phải liên lụy, đừng có lo.”
 
Vợ tôi hoảng hốt chạy đến níu lấy cánh tay tôi và nói, “Anh đi đâu bây giờ? Có đi đâu cũng cho mẹ con em theo với, đừng bỏ mẹ con em tội nghiệp!”
Tôi nói, “Đất miền Tây này, nhất là Vĩnh long quá biết về anh, nên anh nghĩ không mấy thuận lợi cho anh ở lại nơi đây, có lẽ anh sẽ về Sài gòn trình diện. Em an tâm, ở đó có chị anh lo cho anh, em khỏi phải lo.”
 
Tối hôm đó, vợ tôi khóc thật nhiều và có lẽ quá nhiều nước mắt nên, chẳng bao lâu sau, đã làm nhạt nhòa “lời yêu” từng viết trong tim! Còn tôi đêm ấy không tài nào nhắm mắt được, đầu óc mãi ám ảnh cảnh thê lương những ngày sắp tới và ám ảnh cảnh vợ con côi cút giữa chợ đời. Tôi muốn nói với vợ tôi đôi điều nhưng nàng đã chìm trong giấc ngủ:
 
Giây phút nữa,
anh rời xa phố thị
chôn cuộc đời trong ngục tối thâm u !
Nói gì đây?
lời từ biệt của người tù,
tù nhưng không biết vì sao mình có tội!
 
Thôi em nhé,
từ đây đời hai lối
hai lối đời, chia cách chúng ta.
Nuốt lệ đi em!
Hãy cố nén những xót xa,
Đừng để phút giây này trôi theo giòng nước mắt….



C/ Vào tù



Sáng ngày hôm sau (02/5) tôi về Sài gòn rồi dọt thẳng về Trung. Gặp mẹ, mẹ tôi rất mừng nhưng khuyên tôi trở lại miềm Nam trình diện, vì bọn CS ở đó tàn ác lắm, nó muốn bắn ai thì bắn, còn những ai được sống sót thì bị đày ải làm việc rất cực nhọc. Em tôi Trung uý A. đã bị liệt đôi chân không còn đi được nữa! Nghe lời mẹ, tôi trở về Sài gòn nhập với những bạn bè cũ đi trình diện. Giấy chứng nhận trình diện, cho phép tôi ở nhà cho tới 25/6/75 mới vào học tập, thời gian học tập là một tháng. Tôi an tâm đi tìm thăm các bạn thân của tôi thời trung học. Và một hôm một hôm tôi gặp Cầu và Tâm chung mái trường Nguyễn Trãi, hai người bạn này rủ tôi về Rạch Giá để vượt biên vì họ bảo họ có người bà con ở Kinh 2/Cái Sắn đang chuẩn bị ra khơi.
 

Đồng ý, ngày 19/6/75 chúng tôi lên đường về Rạch Giá, ngày 19/6 chính là ngày Quân Lực của QĐ/VNCH mà lúc đó chúng tôi không còn tâm trí để nhớ, nên CS tăng cường lực lượng an ninh: canh gác và chận xét giấy tờ các người qua lại tại những cứ điểm trọng yếu.
 
Vừa bước chân lên khỏi phà Mỹ Thuận thì bị cán binh CS chận hỏi giấy tờ, tôi quá thật thà đưa giấy trình diện ở SG cho chúng xem thì chúng bảo tôi cố tình chạy trốn vì ở Vĩnh Long không còn một ai thuộc thành phần như tôi mà giờ này còn ở bên ngoài, do đó chúng bắt tôi và đưa vào khám VL (nơi đây tôi đã gặp được NT2 Nguyễn Ngọc Hồng mà tôi đã có dịp tường thuật cùng các bạn trong bài viết “Cho một thoáng suy tư” đã đăng trên Đặc san Ức Trai,) lúc đó tôi tự hỏi phải chăng sợi dây oan nghiệt đã lôi kéo tôi về đây?!
 
Trong những tháng ngày sống trong khám Vĩnh long, tôi cố gắng tìm kiếm những bạn bè ở chung đơn vị nhưng tôi không gặp được một ai, khiến đầu óc tôi vươn lên chút lo sợ và sự lo sợ này thật sự nẩy nở, lớn mạnh khi hay tin CS đã đưa Thiếu tá Dần (cựu TĐT/TĐ.463), ông Tổng Thêm (Xã trưởng Cầu Dĩ) ra xử bắn, và gần nhất là việc chúng đã treo cổ Thiếu tá Quế ngay trong khám (do việc ông tin lời chúng chỉ chỗ cất dấu vũ khí.)
Tôi hoảng hốt tìm đủ mọi cách để trốn thoát, nên tháng 3/76 lợi dụng lúc lao động tại Hiếu Tín thuộc xã Hựu thành/Trà ôn tôi trốn thoát, nhưng xui cho tôi chạy không khỏi dù rằng tôi đã cao bay xa chạy gần 10 cây số. Tôi bị đưa về trung tâm thẩm vấn Vĩnh Long và chịu làm thân phận cái bao cát để cho các cán binh của Hồ ly tinh luyện võ.
Và sau đó, tôi không còn nhớ rõ ngày tháng, tôi bị đưa về nhốt trong khám Vĩnh Bình. Ở đó một thời gian họ lại đưa tôi ra đào mương đắp đập ở Cồn cù/Láng Cháo/Vĩnh Bình.
 
Nhớ buổi chiều tàu đổ chúng tôi xuống Cồn Cù thật thảm thương, phần lạnh cóng vì trời mưa, phần bị nhóm thanh niên quá khích ném đá, phần bị dân chúng vùng này xua đuổi không cho chúng tôi vào nhà trú ngụ qua đêm. Tôi cảm thấy thật chua xót cho số phận những người anh em chúng tôi lúc đó, nhưng nhớ lại hình ảnh Chúa Jesus Christ trên cây Thập Tự ở đồi Sọ ngày nào, tôi không trách những người dân Cồn Cù cho lắm vì họ có biết gì đâu những việc họ đang làm!
 
Làm công tác lao động ở Cồn Cù/Láng Cháo độ một tháng, thì BCH quản lý công trường gọi tôi lên làm việc, họ thông báo cho tôi biết là tôi được Đảng và Nhà Nước khoan hồng cho ra về. Họ bảo tôi thu quén đồ đạt về Bào sen/Long Toàn để nhận giấy phóng thích. Tôi không mấy tin, nhưng vẫn phải làm theo lệnh. Về tới Bào Sen, tôi nhập chung với một số anh em khác cũng được đưa về đây. Các bạn còn ở lại đến chúc mừng chúng tôi và xin những vật dụng chúng tôi đang cầm giữ.
 
Tôi đang làm công việc phân phát đồ dùng của mình, thì đột nhiên Thiếu úy T, (trưởng B.4 của TĐ tôi trước đây) xuất hiện, T. mắng tôi là thằng ngu, nghe lời CS nói đối, T. phân tích cho tôi thấy: nào là SQ/CTCT nồng cốt, nào là ĐĐT/TC đã có thành tích đẫm máu, nào là đã từng trốn trại… cho nên vấn đề thả tôi về quá sớm như thế này là không có thật, cái có thật là CS muốn chuyển tôi đến một chỗ nào đó để nhốt cho an toàn hơn, ngõ hầu có thể khai thác thêm những gì tôi chưa khai hết. Tôi chợt tỉnh, muốn lấy lại những thứ mà tôi đã cho, nhưng đã quá muộn. Tôi cất tiếng thở dài, T. hiểu ý nên T. đã đưa cho tôi tấm nylon của T.
 
Chúng tôi bị đưa trở về khám Vĩnh Bình ngay sau đó. Và những ngày ở đây là những ngày căng thẳng: nào là bị gọi lên văn phòng làm việc riêng từng người, bị uy hiếp, nộ nạt tra hỏi, làm lại tờ tự khai…!
 
Độ một tuần kể từ ngày bị đưa về đây, tôi được một vệ binh thông báo là có người ở ngoài cổng muốn gặp. Ra tới cổng, thấy vợ tôi và mẹ của nàng đứng ở đó. Tôi hỏi tại sao biết tôi ở đây mà đến thăm thì vợ tôi bảo ông Cậu Ba cho biết!
Tôi trố mắt sửng sốt hỏi, “Ông Cậu Ba nào mà anh chưa từng nghe nói? Ông là ai, có liên hệ gì với mẹ hay em?”
Nàng trả lời rằng ông Cậu Ba, chính là Đại úy Ba Cần, Thủ trưởng Trại Nhà Đài, người đưa tôi ra Hiếu Tín để lao động. Và cũng nói thêm cho tôi biết, vì có mối liên hệ với mẹ nàng, nên ông đã xin cho tôi miễn bị xử bắn khi tôi bị bắt trên đường tẩu thoát.
Nghe nàng nói, một luồng khí lạnh chạy dài theo cột xương sống của tôi. Tôi mơ hồ thấy một bức tường vô hình mọc lên, chia cắt mỗi đứa chúng tôi thành hai bên đối nghịch. Tuy vậy, tôi cũng cám ơn nàng, cũng nhờ nàng có chút dính líu với tôi mà tôi không bị lôi ra xử bắn! Tôi thở dài và nhẹ giọng hỏi rằng trước đây nàng có biết mình có một ông cậu theo phe CS hay không thì nàng lắc đầu im lặng!
 
Tôi quay gót trở vào khám khi thời gian cho phép nói chuyện chấm dứt, bao câu hỏi dồn dập nổi dậy trong trí tôi: Tôi phải có thái độ nào cho những ngang trái đang diễn ra? Liệu rằng mối liên hệ giữa tôi với gia đình vợ tôi, nhất là với vợ tôi còn tốt đẹp và mối liên hệ đó có còn vững chắc với chuỗi dài của thời gian trước mắt?!
Tôi chưa tìm ra được câu giải đáp thì một buổi sáng tinh sương chúng tôi bị lùa lên một chiếc GMC, đôi cánh tay chúng tôi bị cột chặt vào thành xe (vì muốn có sự an toàn, theo lời giải thích của cán bộ CS dẫn độ.) Và đưa chúng tôi về Trung tâm huấn luyện Chi Lăng ở dưới chân núi Cấm/Thất sơn/Châu đốc.
 
Bảy giờ chiều ngày hôm đó đoàn xe đưa chúng tôi vào khu Liên đoàn B/Chi lăng, vừa nhảy xuống xe đã thấy các NT2: Đào Trung Chính, Huỳnh Công Phát, Ngô Minh Thảo,Võ Thiện Hiếu, và Lương Muôi Chải đứng ở đó. Thấy tôi, các bạn mừng đến bắt tay thăm hỏi và kế theo các bạn tổ chức một cuộc họp mặt, một nồi chè đậu xanh và vài điếu thuốc lá thay cho những gì các bạn muốn nói với tôi.
 
Tôi cảm thấy thật ấm lòng và thầm cám ơn trường Mẹ đã dạy cho anh em chúng tôi “biết yêu thương, đùm bọc nhau” trong lúc hoạn nạn và bỗng dưng quên đi cái cảnh tù đày khốn khổ trong hiện tại, nhưng cái cảm nghĩ đó không kéo dài được lâu bỡi lẽ tôi “bị hay được?” đưa vào tổ 2/Đội 4 dưới sự quản lý kềm kẹp của tên Tổ trưởng Phan Công Kh. (cựu trung úy. ANQĐ, quê ở MT) và tên Tổ phó Lê Văn N. (cựu trung úy Pilot Trực thăng, quê ở BT) là hai tay làm việc cho CS rất đắc lực, chúng liên tiếp báo cáo lên cấp trên tôi là tên biếng nhác lao động (không lập luống rau cá nhân,) thụ động trong học tập (không đóng góp, phát biểu ý kiến…) Sở dĩ chúng ghét tôi là vì mỗi khi bảo tôi phát biểu ý kiến thì tôi nói, “Những gì Đảng và Nhà nước đưa ra đều đúng 100%, nên không cần phải phân tích, bàn thảo gì cả. Càng phân tích bàn thảo là càng chứng tỏ thiếu sự tin tưởng vào đường lối của Đảng.” Và mỗi khi bảo tôi lập luống rau cá nhân để cải hoạt thì tôi lại nói, “hãy để Nhà Nước lo!” Và lại nói thêm: “Quyền tư hữu không được chấp nhận trong một nước theo chủ nghĩa CS! Tôi không muốn chống lại CS nên tôi nhất quyết không làm.” khiến hai tên này cảm thấy quê với tập thể anh em.
 
Thế nhưng “đời có ông ác thì cũng có ông thiện” sống trong tổ này cũng có hai người mến tôi, luôn cho tôi nhiều sự giúp đỡ, đó là Đại úy/Bác sĩ Lê Thức Lãng/SĐ và anh Trần Văn M. (cựu trung úy CTCT/GC.) Bác sĩ Lãng nằm cạnh tôi, ông luôn khuyên tôi học chữ NHẪN (Bách hạnh NHẪN vi chi thượng,) Và đồng thời khuyên tôi vận dụng sự hiểu biết của mình để vạch cho mình một hướng đi, mà hướng đi đó không làm tổn thương những người bên cạnh (NGỘ chấp nê BẤT NGỘ.) Còn anh M. tuy không bênh vực gì cho tôi, nhưng anh thường dành ánh mắt đồng tình với những gì tôi làm, tôi nói.
 
Một hôm gặp tôi ở chỗ vắng người, anh bảo Ba Minh (tên Chính ủy) muốn gặp tôi làm tôi xanh mặt. Tôi lo lắng hỏi anh vậy anh có biết Ba Minh gặp tôi để làm gì thì anh nở một nụ cười rồi nói, “Mọi chuyện sẽ tốt lành đừng có lo!”
Lời nói của anh cho tôi chút an tâm, tuy vậy khi bước vào Văn phòng của tên Chính ủy tôi cũng thấy lo lo sao ấy!
 
“Anh là LNP có phải?” tên Chính ủy hỏi tôi.
Tôi chưa kịp trả lời thì hắn kéo ghế mời tôi ngồi và vào đề ngay: “Anh M. cho tôi biết, anh viết chữ đẹp nên tôi mời anh đến đây để xem thử anh viết chữ đẹp đến độ nào, nếu được tôi sẽ nhờ anh, hằng tháng, đến đây viết giấy khen cho Cán bộ và Quản Huấn Viên có thành tích học tập và lao động tốt.”
 
Kết quả, hắn chấp nhận nét bút của tôi và từ đó tôi có dịp được biết những bộ mặt ghê tởm trong hàng ngũ Cải Tạo, cùng được thấy cảnh anh Quách Dược Thanh (NT.1) và Thiếu tá Lý Đức Xích, cựu Tỉnh Trưởng Gia Định, vào làm việc với tên Chính ủy này. Những gì tên Chính ủy trao đổi với hai anh, Thanh và Xích, tôi không biết hết; tuy mỗi người đã để lại cho tôi lời nói ghi tâm.
 
“Ngày xưa chúng tôi được dạy rằng Chủ nghĩa CS không thể nào tồn tại trên bán đảo Đông Dương vì người dân ở đây theo thuyết hữu thần còn Chủ nghĩa CS thì ngược lại. Nhưng, nhưng... điều đó hoàn toàn sai, vì hiện thực thì đảng CS ta đã toàn thắng!” (Quách Dược Thanh)
 
“Nước là một nhu cầu cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con người, do đó “NƯỚC” rất có ý nghĩa đối với chúng ta. Tuy vậy, nước cũng có hai loại chúng ta cần nhận chân cho rõ: nước nào sẽ nuôi sống ta, nước nào sẽ giết chết ta chẳng hạn như thứ nước lũ đang vây khốn đời ta hiện tại...” (bài viết về cơn nước lũ năm 1978 của Nguyễn Đức Xích)
 
Cái “khéo tay” của tôi được các Cán bộ và Vệ binh/CS phụ trách các đội Quản huấn biết đến, nên đã nhờ tôi khắc vẽ “KẸP, LƯỢC” cho chúng. Lợi dụng dịp này tôi xin báo, các tạp chí của Liên Sô để đọc.
 
Chúng hỏi tôi, “Thế anh biết tiếng Nga?”
Tôi đáp, “Tuy không biết tiếng Nga, nhưng sách báo Liên sô in ra nhiều thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Anh, tôi muốn xin ấn bản tiếng Anh vì tôi biết ngôn ngữ này. ”
 
Một mặt muốn làm tôi hài lòng để giúp chúng, một mặt nhận thấy những tác phẩm của tôi chứa đầy tâm huyết của một người nghệ sĩ vì tôi luôn hỏi chúng về người chúng muốn dâng tặng kỷ vật như: tên họ, tuổi tác, trình độ học vấn, nghề nghiệp, gia cảnh v.v.., nên chúng không ngần ngại cung cấp những thứ tôi cần. Và nhờ đó mà những tháng năm ở trong tù tôi vẫn có dịp trau dồi học hỏi thêm về nghệ thuật khắc vẽ qua các bạn bè có năng khiếu hơn tôi, có sách báo ôn luyện tiếng Anh. Và nhờ còn có chút vốn liếng đó, nên sau khi ra tù tôi đã dùng nó như là phương kế sinh nhai phụ như: vẽ bảng hiệu cho các tiệm buôn, trang trí đám cưới, mở lớp dạy kèm tiếng Anh (cho những học sinh có nhu cầu Anh ngữ.) Và khi đặt chân đến nước Mỹ, tôi đã có thể hội nhập với nếp sống của người dân ở Thành phố Fort Collins, Tiểu bang Colorado, nơi mà tiếng Anh là miếng cơm manh áo.
 
Cuộc đời Cải tạo của tôi trải qua hai nhà tù và năm trại lao động. Nơi nào cũng có rất nhiều điều đau lòng diễn ra mà điều đau lòng lớn nhất cho tôi có lẽ là mảnh giấy với hàng chữ: “Anh P, ngày anh về không biết có hay không nhưng tuổi xuân em không dừng lại! Hiện tại nơi quê nhà có người thương em, muốn tiến đến hôn nhân anh nghĩ sao? – Em, Bích T.” của vợ tôi, trao cho tôi trong kỳ thăm nuôi sau đợt nước lũ năm 1978 tại trại Vườn Đào/Cai Lậy.
 
Hai ngày tôi bỏ ăn, suy nghĩ lung tung và cuối cùng tôi cũng hồi đáp để cho nàng khỏi phải đợi chờ:
 “Cám ơn em đã cho anh biết một sự thật! Và theo cái triết lý “yêu” của anh là sẽ cố gắng làm bất cứ cái gì để đem đến hạnh phúc cho người mình yêu, nhưng hiện tại anh chẳng thể làm gì cả! Vậy em cứ tiến theo con đường mà em nghĩ rằng nó sẽ mang lại hạnh phúc cho em. Thân chào em – LNP.”
 
Thế rồi, từ đó vợ tôi không còn liên lạc viếng thăm gì nữa, tôi trở thành con Bà Phước trong trại tù, ngày ngày tự an ủi tôi qua những câu Kinh Thánh và những lời khuyên vàng ngọc của các tiền nhân: “Bạn sẽ gặt những gì bạn đã gieo” làm cho tôi không buông lời oán hận;  “Bạn không muốn nó thay đổi, nhưng bạn không thể ngăn chặn để nó đừng thay đổi thì hãy thay đổi Thái độ của bạn.” giúp tôi chấp nhận nghịch cảnh, tạo sự thanh thản tâm hồn.
 
D/ Ra tù



Một buổi sáng cuối tháng giêng/1981, tôi bàng hoàng nhận thông báo sắp được “Phóng Thích!” Trên đường tới Văn phòng khai báo địa chỉ ra về, đầu óc tôi trong cơn bấn loạn, “Về đâu? Khi vợ con, nhà cửa không còn!”
Tôi suy nghĩ lung tung rồi hạ bút ghi địa chỉ về trú ngụ là Phường Cầu Bông/Gia Định. Trên đường trở về doanh trại, chợt nhớ tôi không còn ai ở đó vì chị tôi đã dọn về quê chồng chị ở Nha Trang, tôi muốn quay lại xin sửa đổi nhưng lại nghe một âm vang nào trong xa thẳm “kệ nó, hãy để cho định mạng cuốn trôi!”
 
Về tới Cầu Bông, người tôi đến thăm đầu tiên là Thám, người anh của Loan (tôi đã có đề cập trong chuyện “Bộ Ba Của Tôi”, đã đăng trong Đặc San Ức Trai năm 2004), người con gái đầu đời tôi thương mến. Gặp tôi Thám mừng lắm ôm chầm lấy tôi, như thể tôi là đứa em của anh từ lâu không gặp, anh hỏi tôi về ở đâu? Tôi thú thật cùng anh hoàn cảnh tôi hiện tại!
“Không sao đâu, đã lỡ ghi về địa chỉ nhà anh chị Nguyên thì hãy đến nói với anh chi thông cảm, chấp nhận trên giấy tờ cho P. Còn việc thực sự ăn ở thì đừng lo, tôi sẽ giúp P, ngày ngày hai đứa mình thay phiên chạy xích lô kiếm sống, tối về nhà này mà ngủ!” anh nói.
Nghe anh nói, thật tình mắt tôi muốn rơi lệ, ngồi im không cất được nên lời. Thám thấy thế tiếp lời an ủi tôi, “P. đừng ngại, dẫu P và em tôi không có duyên số với nhau, nhưng tôi vẫn xem P như là đứa em rể của tôi.”
Anh nhắc đến Loan làm tôi chợt tỉnh, nên hỏi anh về Loan thì anh gục đầu, thở dài đáp, “Nó theo chồng vượt biên cách đây ba năm, nhưng cho đến nay vẫn chưa hề nghe tin tức!”
 
Tôi hiểu được tâm trạng hiện tại của anh nên khéo léo nói lời từ giã ra về. Anh hỏi tôi định đi đâu? Tôi bảo đến thăm anh chị Nguyên đồng thời hỏi ý kiến anh chị về trường hợp của tôi hiện tại thử anh chị có cách nào để giúp tôi thì anh bảo tôi chờ anh mặc áo rồi cùng đi với tôi.
Gặp tôi anh chị Nguyên cũng tỏ vẻ hân hoan, anh Nguyên cười nói, “Chà nằm ấp lâu, trông người dày dạn gió sương!” Rồi anh hỏi tôi câu hỏi mà anh Thám đã hỏi và tôi cũng trả lời như tôi đã trả lời anh Thám.
“Ô tưởng chuyện gì chứ chuyện đó nhỏ rứt, miễn ông không bắt vợ chồng tôi thay vai trò quản ngục nuôi ông thì được!” anh Nguyên cười nói.
Anh Thám lại xem vào, “Thời buổi này, ai lại có khả năng nuôi ai. Tôi sẽ bắt ổng chạy xích lô với tôi kiếm sống, anh chị đừng lo. Anh chị giúp ổng trên mặt giấy tờ, còn vấn đề ăn ở để tôi.”
Mọi người vui cười, cùng kéo nhau vào bàn ăn uống. Ăn xong, anh Nguyên và anh Thám dẫn tôi đến Phường trình diện. Và trình diện xong, tôi xin phép hai anh cho tôi đi thăm vài người bạn. Hai anh nhìn tôi với vẻ hài lòng.
 
Tôi tìm đến nhà hai người bạn đã cùng tôi trên đường về Rạch Gía để chạy trốn năm nào. Tôi hy vọng nhận được tin vui và từ đó có thể nối liên lạc với nhau, nhưng thật bàng hoàng khi người nhà cho tôi biết hai bạn tôi đã mất tích, không có tin tức gì kể từ ngày ấy!
 
Tôi quay gót ra về trong tâm trạng não nề và tự hỏi: nếu ngày đó tôi không bị bắt lại thì giờ này tôi có cùng chung số phận với hai bạn ấy hay không? Phải chăng lời khẳng định của“Thu-Cúc” (cô gái cùng tôi quá giang thuyền về Tích Thiện) cho rằng “con người có số mạng” là đúng?!
 
Thế rồi cuộc đời tôi gắn bó với chiếc xích lô, ngày ngày ngược xuôi các đường phố Sài Gòn, Gia Định…Hầu hết những con đường tôi chạy xe qua đều là những con đường tôi đã đi lại nhiều lần và rất quen thuộc trong những ngày còn mang chiếc áo thư sinh, nhưng hôm nay tôi thấy nó rất xa lạ. Không biết chính do lòng tôi thay đổi, hoặc bỡi cảm nghĩ lá “Cờ Máu” kia đang đùa giỡn chế diễu tấm lưng đầy mồ hôi dính áo cúa tôi?! Mỗi lần nhấn chân sâu xuống bàn đạp là mỗi lần cảm thấy tim tôi đau nhói và đau nhói đến tột cùng khi tôi bắt gặp một người khách, mà người khách này lại là anh tôi ở Tuy Hoà. Anh sững sờ, miệng há hốc miệng không thốt nên lời, và tôi cũng cùng chung tâm trạng! Tôi ngồi im trên yên chiếc xích lô như thể bị buột bị ràng, anh thấy vậy hỏi tôi ra tù hồi nào? Sao không thông báo cho gia đình biết? Tại sao lại ở đây (SG)? Làm gì để sống?
Nước mắt tôi tự dưng trào ra, tôi lấy tay lau khô và cố mỉm cười nói,
 
“Anh hỏi em đang làm gì để sống? Chẳng lẽ anh không thấy em đang làm việc gì hay sao? Em ra tù gần tháng, nhưng em không thông báo cho ai biết vì em ngại làm khổ những người thân. Vả lại em cố bám víu ở đây vì em có nhiều bạn bè tốt, cùng chung chí hướng với em, em hy vọng họ sẽ giúp em vượt thoát khỏi Đất Nước này. Em đang sống tạm với gia đình anh Thám và ngày ngày cùng anh ấy chạy xe xích lô kiếm sống…”
 
Anh tôi ngắt lời, không cho tôi nói nữa, “Không được, em phải về với má và anh, mọi người đang mong ngóng em về. Hãy nghĩ, em về má sẽ vui và từ đó má có thể sống thêm vài tuổi!”
Tôi nói, “Em chẳng có nghề ngỗng gì, về đó làm sao sống, lại báo má và anh khổ lây!”
 
Anh trấn an tôi bằng cách nói với tôi về anh sẽ đưa tôi vào HTX/Dệt để thế chân cho vợ anh ra ngoài buôn bán kiếm sống, anh có thể làm việc đó vì anh có hai cổ phần trong tổ hợp Dệt, đồng thời là trưởng ca sản xuất. Điều đáng nói là anh dự tính, khi tôi về, anh tạo điều kiện để tôi dẫn ba thằng con trai ảnh vượt biên. Với những dự tính đó, anh khuyên tôi nên về sống với anh là tốt hơn.
 
Nghe tiếng vượt biên làm mắt tôi sáng lên nhưng vẫn không nêu ý kiến gì, chỉ cám ơn anh đã cho tôi biết ý định của anh. Và hứa sẽ thu xếp và sẽ về Tuy Hoà trong nay mai.
 
Dường như sau cuộc gặp gỡ anh tôi, làm tôi cảm thấy sự mỏi mệt về cuộc sống tạm bợ bấp bênh, làm ra đồng nào thì tiêu hết đồng đó, có khi còn thiếu hụt, nên một ngày nọ tôi nói với anh Thám và anh Nguyên dự tính của tôi rời bỏ Sài Gòn để về Tuy Hoà, để sống với anh tôi.
Anh Nguyên nói, “Cậu tính sao cũng được, nhưng trước khi đi phải ra Phường trình báo để họ Cắt Khẩu cậu.”
 
  “Anh nói cái gì mà ‘cắt khẩu tôi’ nghe ghê quá vậy? không hiểu gì cả!” Tôi hỏi.
 
Anh cười trả lời, “Đó là ngôn ngữ của nhóm Đỉnh Cao Trí Tuệ! Nếu cậu không thích nghe thì hãy bỏ ngoài tai cho khoẻ trí!”
 

Về Tuy hòa, anh tôi dẫn tôi trình diện Công an Phường Nhất. Tại Phường, anh cho chúng biết: tôi là em ruột của anh, còn độc thân, có kiến thức về máy móc nên anh xin chúng cho tôi được nhập vào hộ anh để anh đưa tôi vào làm việc cho HTX Dệt vì Tổ Hợp đang cần người có năng khiếu này, để có thể sửa chữa những trục trặc của các chiếc máy dệt đã quá lỗi thời mà HTX Dệt đang dùng.
 
Mấy tên CA nghe anh tôi nói muốn giúp Tổ Hợp Dệt đứng vững hoạt động, nên nhanh chóng đồng ý cho tôi làm cư dân của Phường chúng. Và điều mà làm tôi buâng khuâng không ít là việc, tự dưng, chúng cho tôi biết cũng có hai người Cải Tạo ở Xuyên Mộc mới về trình diện trước tôi vài tháng. Tuy có chút nghi ngờ, nhưng thấy chúng vui vẻ chuyện trò nên tôi mạnh dạn đánh tiếng hỏi,
“Vậy các Cán Bộ có thể cho tôi biết địa chỉ nhà hai bạn ấy để tôi liên lạc thăm viếng, chuyện trò cho vui được không?”
 
Cả bọn đồng thanh cười nói, “Lẽ dĩ nhiên là được, vì chúng tôi luôn muốn các anh trở về có cuộc sống vui để hăng hái làm việc cho tốt.”

Thế là chiều ngày hôm ấy tôi xin phép anh tôi tới thăm nhà người bạn ở gần, chỉ cách nhà anh tôi khoản 500 mét. Gặp Trọng, tôi được biết bạn là cựu Thiếu úy TĐ8/ND ở khu A, Xuyên Mộc, được phóng thích cùng đợt với tôi. Trọng giới thiệu tôi đến mẹ và các em của Trọng, mọi người chuyện trò với tôi một cách vui vẻ thân tình khiến tôi có cảm tưởng tôi không là người ngoài đối với gia đình họ.
Và kể từ đó tôi thường lui tới gia đình Trọng, sự việc này không chỉ vì Trọng mà còn vì mẹ, các em của Trọng. Trọng có cô em gái kế tên “Bích P,” dung nhan em tuy không làm chim trời sa cánh nhưng làm tâm hồn tôi lắng đọng, tạm quên bao nỗi cô đơn.
Ngày thứ hai, tôi đến thăm người bạn tù còn lại, cách nhà anh tôi hơi khá xa, nằm cạnh chân núi Nhạn, đường xá không đèn tối tăm!
 Vừa bước chân tới cửa thì tôi thoát giật mình hoảng sợ, bỡi tiếng la hét bên trong:
 “Lại là mày? Mấy tháng nay mày ở đâu? Giờ này mày đến đây làm gì? Ma hay qủy dẫn dắt mày đến nhà tao?”
Rồi một bóng đen vụt ra tóm chặt lấy tôi, hơi thở nồng nặc men rượu, tôi cố ngã đầu về phía sau để có thể nhìn rõ mặt hắn. Định thần, nhìn kỹ, tôi nhận ra hắn là Văn Ngô ở Đội 6/Khu C với tôi, tuy chung Đội nhưng tôi chưa hề biết  hắn là người Tuy Hòa và cho đến lúc này tôi cũng chưa biết trước kia hắn mang cấp bậc gì và ở đơn vị nào, đồn trú nơi đâu? Duy dáng dấp và tên hắn tôi không thể nào nhầm lẫn vì hắn lúc nào cũng vui vẻ, yêu đời!
Hắn lôi tôi vào nhà và miệng hắn la lên vui quá, vui quá, và đồng thời gọi vợ, “Em ơi lấy cho anh thêm cái ly. Vui vui quá, ngồi… ngồi xuống đây P. để tao giới thiệu với mày…đây là “to-be-brother-in-law” của tao cùng có chữ P đứng đầu tên như mày.” Rồi hắn cười ha hả… nói tiếp, “Phong, đây là P. người bạn ở chung trại tù, nó cùng ra một đợt với tao, thế nhưng không biết mấy tháng qua nó trôi dạt phương nào, nay bỗng dưng có mặt nơi đây!” Rồi hắn quay người qua phía tôi nói, “Nói cho tao nghe những điều thắc mắc đó đi mày, gặp lại mày nơi đây tao rất mừng!” 
Tôi tóm tắt những diễn biến sau khi rời trại cùng lý do tôi có mặt tại Tuy hòa cũng như có mặt tại nhà hắn đêm nay.
“Ũa, vậy ông là em ruột anh Ba Lai (anh tôi) sao hồi nào tôi không biết? Tôi và anh chị ông rất thân quen vì có chung phương cách kiếm sống. Kể từ giây phút này tôi xem ông là bạn thì hãy thường xuyên đến đây chơi với ông Ngô để ổng thấy, cho đến giời phút này, vẫn còn có người đồng hội đồng thuyền, không cảm thấy cô đơn.” Tiếng nói của ai đó phát ra phía sau lưng tôi, nhưng theo cách nói tôi đoán là vợ Ngô.
Hắn tiếp lời vợ trong âm điệu dịu dàng khác hẵn âm điệu ồn ào vài giây trước đó.
Hắn nói, “Phải đó mày, đến chơi với tao nhé!”
Tôi nhận thấy hai vợ chồng có vẻ chân tình cởi mở nên rất vui, nhưng tôi làm ra vẻ ởm ờ như không dám hứa.
Tôi nói, “Cái đó coi lại, ông Ngô luôn có bà ở bên cạnh thì sao gọi là cô đơn? Kẻ cô đơn chính là tôi nè…!”
Vợ hắn lập tức nói, “Thôi được, để tôi gả cô em gái khánh tó (khó tánh) của tôi cho ông, để nó tiếp tục quản lý ông thay cho chính quyền CS... có đồng ý không, hỡi Ông Cô Đơn?”
Lời nói cộng với dáng diệu của vợ hắn làm hắn không cầm được tiếng cười, hắn buông ra một tràng cười sặc sụa.
Và để làm cho không khí buổi gặp gỡ tăng thêm phần vui nhộn tôi lắc đầu nói tiếp,
“Không ổn đâu! Nếu bà muốn gả em bà cho tôi, trước hết nên hỏi ý kiến ông chồng yêu qúy của bà đã, bỡi tôi không biết ông có nghe người ta khuyên ‘đừng dại dột đem em vợ mình gả cho bất cứ ai sẽ bị trời đánh ba năm!’”
Vợ hắn đấm vào lưng tôi đùng đùng và nói,
“Đồ quỷ, dám chọc phá vợ chồng người ta,” rồi quay bước ra phía sau đem thêm rượu thịt.
Còn lại Ngô, Phong, và tôi trò chuyện đến nửa đêm. Trong lúc trò chuyện, tôi biết hắn là Trung úy, thuộc trung đoàn 47/SĐ.22/BB chạy di tản vào Sài gòn nên trình diện học tâp tại đây luôn.
Tôi về tới nhà thì mọi người đều ngủ, trừ anh tôi vẫn còn thức đợi tôi về. Anh tôi vui vì tôi có bạn…
Sáng hôm sau tôi thức dậy trễ, uể oải ra ngồi ở hàng hiên trước nhà, nhìn ngắm người qua lại, tôi chợt thấy một người, bên kia đường, có dáng dấp quen quen.
“Bùi Ngọc Thạnh, NT2 Bùi Ngọc Thạnh ?” tôi thì thầm tự hỏi.
Tôi đứng dậy chạy ra phía sau nhà tìm hỏi anh tôi:
“Anh mau ra phía trước với em, em thấy một người ăn mặc rất nốp (noble), trông giống thằng bạn học của em ở Đà Lạt quá, nhưng không biết có đúng nó không?”
“Em thấy ở đâu?” Anh tôi hỏi
“Phía bên kia đường, trước cửa nhà mình.” Tôi đáp
Anh tôi hỏi tiếp, “Phải trạc tuổi em và mặc bộ complé trắng, bỏ áo trong quần, đầu đội mũ nĩ trắng hay không?”
“Sao anh biết tả trúng phóc vậy?” Tôi hỏi anh tôi.
Anh tôi đứng cúi đầu im lặng một lúc rồi nói,
“Đó là ‘ông’ chứ không phải ‘thằng’ đâu em nhé. Ông tên Thạnh, Chủ nhiệm HTX Mành Trúc Mây Tre Xuất Khẩu của Tuy Hòa này. Nếu ông ta là bạn em đó là điều tốt, lúc nào có dịp đến thăm liệu ổng có giúp gì được cho em, nhưng thận trọng trong giao tiếp.”
“Vậy đúng là bạn em rồi, em sẽ đến gặp nó một ngày gần đây và sẽ nhớ lời anh dặn. Cám ơn anh nhiều.” Tôi nói.
Nửa tháng nghỉ xả hơi đi thăm viếng bà con và bạn bè, trong số đó có NT2 Bùi Ngọc Thạnh.
Tôi đến nhà Thạnh một đêm tối trời để tránh sự dòm ngó, Thạnh và tôi tuy sống cùng chung Trung đội, Đại đội suốt thời gian ở Đà Lạt thế nhưng cuộc gặp gỡ chẳng có chút gì thân tình như ở nhà Trọng và nhà Ngô, điều này làm tôi buâng khuâng tự hỏi: Phải chăng chỉ có những người cùng trải qua cảnh khổ mới thật sự biết thương nhau?!
 Trong lúc nói chuyện, Thạnh tránh đề cập đến những ngày cũ mà chỉ nói rằng sự gặp gỡ giữa những người bạn như tôi và nó trong giai đoạn hiện tại là rất hiếm, nên nó “muốn giúp tôi” tìm một lối thoát cho cuộc sống, không phải lệ thuộc vào ai.
Nghe ba tiếng “muốn giúp tôi” làm tinh thần tôi khởi sắc nên hỏi Thạnh,
“Có nghĩa là mày sẽ giúp tao vào làm việc chỗ mày? Có thế thì còn gì qúy hơn, cám ơn mày lắm.”
Thạnh nói, “Tao nói chưa hết ý, tao muốn giúp mày đến một chỗ có việc làm bảo đảm hơn là HTX của tao hiện thời vì tao nhận thấy không chóng thì chầy HTX của tao sẽ dẹp tiệm.”
“Vậy mày dự định giới thiệu tao vào làm cho HTX nào?” Tôi hỏi nó.
Nó trả lời, “Không HTX nào ở đây có thể tồn tại lâu dài, chỉ có ở các nước Tây phương!”
“Mày nói thế có nghĩa là sao?” Tôi hỏi.
“Mày chậm tiêu thế sao P. Tao nghĩ thời gian dài nằm hộp, mày nhạy bén hơn trong mọi vấn đề. Thôi mày đã không hiểu thì tao nói trắng, tao muốn giúp mày vượt thoát khỏi Đất Nuớc này, nghĩa là sẵn sàng giúp mày Vượt Biên, nếu mày muốn.” nó nhẹ giọng nói.
“Vượt Biên?” Tôi hỏi nó và nói thêm, “Mày biết tao mới ra tù đâu có Cắc Xu nào mà dám mơ chuyện vượt biên! Thôi đừng đề cập việc này với tao, tao sợ lắm việc chưa hình thành đã bị tóm, đẩy vô tù trở lại.”
Nó lại nói, “Chẳng có bao nhiêu cả, chỉ có nửa chỉ vàng mà anh mày không thể giúp sao? Họ tin tao nên mới dễ dàng cho mày như vậy, đừng bỏ cơ hội ngàn vàng đang đến với mày.”
Nghe nó nói tôi bán tín bán nghi nên cất tiếng hỏi,“Chỉ có nửa chỉ vàng thôi sao?”
Nó cười nói, “Không, nửa chỉ chỉ là để đặt cọc còn khi mày bước vào đất nước nào có việc làm rồi thì gửi về tao ba lượng nữa để tao chung đủ cho họ.”
“Trường hợp tao không vào được đất nước nào thì sao?” Tôi cũng cười đặt vấn đề.
“Thì họ hiểu mày đã cống hiến thân mày cho cá mập thì còn đòi hỏi gì nữa!” Nó nói. Rồi ngã lưng ra ghế dựa cười ha hả. Và tôi cùng cười, cười một nụ cười thật thoải mái, thật tươi vì tôi thấy rõ các ngõ ngách con đường nó chỉ tôi đi. Tôi đứng dậy bắt tay từ giã nó và không quên nói tiếng cám ơn cho sự tiếp đón đêm nay.
Thấy tôi về quá sớm anh tôi hỏi,
“Sao, bạn em có hứa giúp gì hay vạch cho em hướng đi nào tốt cho em không?”
Tôi đáp, “Vạch hướng đi thì có, nhưng em thấy con đường nó chỉ cho em đi đầy nguy hiểm và chua cay quá!”
Anh tôi vói lấy chai rượu và rót đầy vào hai ly đặt sẵn trên bàn rồi hỏi,
“Con đường gì?”
“Vượt biên!” Tôi ngắn gọn trả lời.
Anh tôi bưng ly rượu lên nốc cạn rồi tự dưng cất tiếng thở dài, mắt đăm chiêu quay đầu đi chỗ khác, như để lục tìm những gì trong ký ức xa xăm!
Anh tôi nói,
“Cẩn thận em ạ! Biết người biết ta trăm trận, trăm thắng. Thắng ở đây không có nghĩa là thắng ai mà là thắng chính mình, kềm chế được ham muốn, không để ai dụ dỗ đưa ta vào cuộc phiêu lưu đầy nguy hiểm!” ngừng một chút rồi anh nói tiếp, “Anh nói vậy chứ anh mong em đừng trách bạn vì bạn em đang gặp thời thì: gặp thời thế, thế thời phải thế…”
Tôi xen vào ngắt lời anh, “Anh nói câu này làm em nhớ lại cuộc bút chiến giữa hai ông Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị quá, trong các bài xướng họa của hai ông em rất tâm đắc bài họa của ông Phan Văn Trị để đối lại bài thơ “Tôn Phu Nhân Quy Thục” của ông Tôn Thọ Tường làm ra để biện minh cho hành động hợp tác với Pháp của ông.”
Tự dưng tinh thần anh tôi phấn khởi lên anh hỏi tôi,
 “Em còn nhớ? Đọc cho anh nghe đi, anh cũng rất thích bài đó, nhưng không còn nhớ hết. Đêm nay anh em mình ngồi uống rượu ngâm thơ để quên hết sự đời, em có chịu không?”
Tôi cười nói, “Đã nói rất tâm đắc sao không còn nhớ, nhớ thuộc lòng đó chứ!” ngừng đôi chút để nhấp thêm tí rượu rồi tôi nói tiếp,
“Trong thời buổi này mà anh em ta còn có những giây phút như vầy thì tiên rồi, khỏi phải cần hỏi muốn hay không muốn”
“Thì em đọc đi!” Anh tôi giục.
Không biết rượu có làm trí anh tôi mờ mà nhầm lẫn cãi với tôi về hai câu kết của bài thơ. Anh đã lấy râu ông này cắm cằm bà nọ:


Anh về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng
(Tôn Thọ Tường)
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ Chúa gái thờ chồng
(Phan Văn Trị)


Tôi đọc nhấn mạnh sự khác biệt trong lối kết luận của hai ông Tường và Trị, lúc ấy anh tôi mới chịu cho tôi là đúng và cười khì tiếp tục nâng ly.

Qua đêm uống rượu bàn thảo, tôi có cảm giác “e ngại” khi tiếp xúc với một ai dù người đó mới gặp lần đầu hay đã quen biết từ lâu.
Trong khi chờ đợi đi làm, tôi hỏi anh tôi về điều kiện và thể thức thành lập một HTX thì anh tôi nói cũng đơn giản: chỉ bỏ vốn ra cho nhà nước quản lý, họ muốn mua sắm gì tùy ý, mình chỉ việc tuân lệnh chăm chỉ làm việc, rồi được nhà nước trả tiền công hằng tháng. Anh lại nói thêm, thực tế thì không ai chịu tình nguyện bỏ vốn ra, tất cả đều ở trong thế bắt buộc, bỡi nếu không chịu bỏ vốn thì cứ ôm tiền đó ra khu Kinh Tế Mới mà sống!
Tôi vẫn chưa rõ hết ý nên nêu câu hỏi anh ai là người có thẩm quyền vạch ra phương hướng hoạt động cho một HTX, các người góp vốn hay Nhà Nước?”
Anh tôi nói, “Như anh đã nói, không có ai tự nguyện, do đó không ai biết làm gì, tất cả do Nhà Nước hướng dẫn. Ngày đầu họ đến bảo anh thuộc diện phải đi KTM. nếu muốn ở lại phải hùn tiền xây dựng HTX sản xuất; anh đâu biết phải xây dựng HTX gì để có thể sinh ra lợi nhuận thì họ bảo anh đừng lo, tất cả đã có Nhà Nước chỉ đạo.”
“À em hiểu rồi, ‘dân làm chủ, nhà nước quản lý’ bài học nằm lòng mà! Vậy bộ khung lãnh đạo là do nhà nước tuyển chọn còn lực lượng công nhân thì do ai tuyển chọn?” Tôi hỏi.
Anh đáp, “Phần lớn dành ưu tiên cho thân nhân người có hùn vốn, tuy nói vậy cái ưu tiên này cũng phải dẹp đi khi có con cháu cán bự điều hành HTX. cần đến!”
Tôi lại hỏi thêm, “Theo như anh nói, thì việc anh đưa em vào HTX làm chưa chắc chắn được phải không”
“Chắc chắn là được, em yên tâm! Bỡi dạo này: một phần hoạt động của HTX sa sút, một phần kế hoạch KTM hoàn toàn thất bại không còn cưỡng chế được ai. Hai yếu tố này làm người dân không thấy cần phải vào làm cho HTX. Anh đưa em vào là cho em có chỗ đứng tạm thời, chứ anh không có ý định cột chân em nơi đó.” Anh tôi trả lời để trấn an tôi.
Hiểu rõ ý anh nên tôi chấp nhận để anh đưa vào làm xã viên HTX dệt.
Và sáng sớm một ngày nọ, anh bảo tôi,
“Em chuẩn bị theo anh vào HTX vì hôm nay có buổi hợp toàn thể Xã viên để ban điều hành báo cáo thành quả hoạt động của HTX trong quý II. Lơi dụng có đầy đủ các trưởng khâu, anh sẽ yêu cầu họ giúp em, cho em một việc làm nào đó trong khâu của họ.”
“Vậy từ trước đến nay anh chưa cho họ biết việc này à?” Tôi hỏi.
Anh tôi cười đáp,
“Anh đã cho ông Chủ nhiệm và các Trưởng khâu biết rồi, nhưng hôm nay có mặt em là để các trưởng khâu đối chấp tuyển chọn trước sự chứng kiến của ông Chủ nhiệm và ban quản trị. Dân chủ mà em! Thôi mặc quần áo rồi đi kẻo trễ.”
Hai anh em tôi bước vào phòng họp thì thấy mọi người đã có mặt đầy đủ ở đó. Buổi họp báo cáo quá sơ sài: Ông chủ nhiệm cầm tờ giấy soạn sẵn, cắm đầu vào đó đọc một lèo rồi ngước mặt lên hỏi ai có ý kiến gì không?
Mọi người không ai trả lời có hay không thì ông nói:
“Nếu không ai có ý kiến gì thì buổi báo cáo coi như xong, anh Ba (anh tôi) muốn giới thiệu ông em với toàn thể xã viên thì làm đi.”
Nói xong ông bước ra khỏi phòng họp thì tiếng ồn ào vang lên như ong vỡ tổ.
Một cô gái ở góc cuối phòng cất tiếng hỏi anh tôi,
“Chú Ba, em chú có vợ chưa? Trông bô (beau) trai nhưng óm, chắc là thiếu ăn!” Rồi cô ôm mặt cười sặc sụa.
Một cô khác lại nói, “Học tập đến những sáu năm, chắc là thuộc bài ăn nói hay lắm. Chú Ba ơi, chú bảo em chú nói cho các cháu nghe đi!”
(Sau này tôi mới biết cô đặt câu hỏi đầu tên là Lâm Kim, cô thợ phụ trách khâu Suốt, con của một thương gia giàu có trong Thị xã trước 75, còn cô đặt câu hỏi thứ hai là Quỳnh Trâm, cháu vợ của ông Chủ nhiệm, đang đảm nhận phần vụ Kế Toán cho HTX.)
Một công nhân lớn tuổi đứng lên nói,
“Các cô trật tự lại dùm vì vẫn còn trong giờ làm việc. Anh Ba nên bảo ông em nói đôi lời để các trưởng khâu có quyết định chọn, đừng nên kéo dài thì giờ.”
“Cám ơn anh Sáu!” Anh tôi đáp lời ông công nhân già, xong quay qua phía tôi nói, “Theo ý muốn anh Sáu thì em hãy nói đôi lời đi.”
Quá bối rối, tôi nói nhỏ với anh tôi là tại sao không cho tôi biết trước để chuẩn bị, giờ biết nói gì đây thì anh tôi bảo,
“Nói đại vài lời gì đó cho xong, miễn đừng dính liếu đến chính trị là được. Mau mau lên, họ đang chờ nghe em nói kìa!”
Tôi cáu tiết nói,
“Nói đại sao được, em không thể nói dóc như anh đã nói với tụi CA Phường Nhất là em có kiến thức về máy móc, còn vấn đề chính chị chính em thì em quên hết rồi, anh an tâm.”
Anh tôi nở một cười thật tươi và giục tôi, “Thôi được rồi nói đi.”
Tôi quay mặt nhìn thẳng vào cử tọa nói,
“Thưa Ban Quản Trị, thưa toàn thể anh chị em xã viên: Tôi tên P. Theo gợi ý của chú Sáu, tôi nên nói vài lời để các trưởng Khâu dễ dàng cho tôi một công việc đúng với khả năng, nhưng hai cô gì đó nêu câu hỏi quá hóc búa làm tôi sợ, quên mất các kỷ năng mà tôi vốn có. Thôi thì thay vì nói về năng khiếu của mình, cho phép tôi được trả lời câu hỏi của hai cô: Cô thứ hai cho rằng tôi học tập lâu chắc thuộc bài – Vâng, tôi thuộc lòng câu, “Lao động là vinh quang” do đó tôi luôn muốn có việc làm và nếu có được, thì tôi sẽ làm trong tinh thần hăng say thích thú. Còn cô thứ nhất nghĩ rằng tôi đang thiếu ăn – Xin thưa, cô ấy đoán trúng trăm phần
trăm, tôi đang đói nên tôi sẵn sàng nhận làm bất cứ công việc gì để có tiền mua cơm mua mắm…!”
Tôi vừa nói dứt lời thì một người đàn ông trong lứa tuổi trên dưới 40, ngồi hàng ghế đầu, ngay trước mặt tôi nói nhỏ với hai người bạn bên cạnh,
“Anh chàng này ăn nói có vẻ Tiếu Ngạo Giang Hồ, tôi thích hắn các bạn nghĩ sao?”
“Nhất trí, nhận hắn đi.” Hai người ngồi bên cạnh trả lời.
Thế là tên đó giơ tay lên nói, “Chúng tôi, phân bộ Bảo trì, xin nhận anh P.”
“Khâu Hồ, đồng ý nhận em chú Ba Lai,”
“Khâu Mắc, rất thích được làm việc với một con người có duyên ăn nói!”
 Cả ba Khâu đều muốn tôi vào làm cho họ, không khâu nào chịu nhường nên họ đề nghị bốc thăm! Việc này làm tôi cảm thấy tổn thương vì nghĩ rằng họ xem tôi chẳng khác nào một món đồ vật, nên tôi xin họ để cho tôi tự chọn.
Tôi nói, “Cám ơn tất cả các trưởng Khâu đã thương mến tôi. Cho đến giờ phút này tôi không biết Khâu nào làm việc nhẹ nhàng, khâu nào làm việc cực nhọc, nên ai đưa tay ra nắm lấy tay tôi trước thì tôi đi theo, xin thông cảm.”
Thế là tôi vào làm việc cho Khâu sửa chữa và bảo trì máy móc từ đó.
Một hôm, tôi đang cắm cúi tháo chiếc máy ‘Down time’ của Ngọc H. để lau chùi, mặt tôi bị dính nhớt đen, tôi không quan tâm điều đó nhưng Ngọc H. (cô thợ điều khiển chiếc máy tôi đang sửa) lại quan tâm, nàng bảo tôi đứng im để nàng chùi vết bẩn, tôi không đồng ý vì sợ những người xung quanh thấy rồi có tiếng ra tiếng vào bất lợi cho tôi, nhưng nàng nằn nặc đòi làm cho được, do đó tôi phải nghiêng đầu qua lại để cố né tránh. Và không biết vì lý do gì mà nàng ngã bổ vào người tôi, các cô thợ dệt kế bên cười ầm lên làm tôi bối rối, chưa biết phản ứng ra sao thì nghe có tiếng nói như  hét,
“Hai người làm gì kỳ vậy? Muốn tôi báo cáo với Giám Đốc không?Thứ gì mà sàm sỡ không biết giữ sĩ diện!”
Tôi ngưởng mặt lên thì thấy Nguyễn Văn C., Khâu Mắc, liệng hai cây “Thoi” xuống đất, rồi hùng hổ bỏ đi.
Tôi từ từ nâng Ngọc H. đứng dậy rồi hỏi nàng đã nghe C. nói gì không thì nàng gật đầu im lặng. Một lúc sau nàng nhìn tôi chậm rải hỏi,
“Anh có biết gì về anh C. và mối liên hệ giữa ảnh và em không?”
Tôi trả lời, “Không!”
“Nếu anh không biết thì nghe em nói đây…” im lặng một chút rồi nàng nói tiếp,
 “Anh C. cũng là Sĩ Quan và cũng bị đi học tập như anh nhưng ảnh về trước anh, vào làm tổ hợp này trên một năm, còn độc thân, là con của chủ quán Café Hạ có tiếng ở Tuy hòa này, do đó ảnh ăn chơi rất phóng túng và có vẻ tự hào về ảnh. Em biết ảnh thích em nhưng em không thích tính ảnh chút nào…” Nàng ngừng như thể để suy nghĩ một vấn đề gì đó rồi nói tiếp, “… Ví như ảnh có đức tính giống anh thì hay biết mấy!”
Tôi hiểu ý nên ngăn không cho H. nói nữa nên cướp lời, “Em và anh mới có nói chuyện đôi lần sao em đoan chắc anh là người tốt? Coi chừng cô lầm to đó nhé…” ngừng một chút rồi tôi nói tiếp, “Có yêu mới có ghen chứ. C yêu em đó, hãy chấp nhận đến với C. em sẽ có cuộc sống sung sướng!”
Nàng đáp, “Theo em, thà hai đứa nghèo nhưng biết thương và quý nhau hơn là giàu mà khinh rẻ nhau, em nhận thấy anh C. coi thường em!”
Tự dưng tôi cảm thấy thương H. nàng đang mang quá nhiều mặc cảm, tôi động viên tinh thần nàng, “Em đừng nghĩ vậy, đừng lấy bụng ta suy ra bụng người chỉ chuốc lấy sự thương đau mà thôi.”
H. đanh sắc mặt lại nói, “Em nhất quyết không lấy chồng giàu vì họ thường khinh người nghèo, nếu không khinh ra mặt cũng thầm lén làm bậy, chẳng hạn đèo bồng cái này cái nọ vì họ nghĩ rằng họ có tiền là có quyền.”
Tôi cười nói, “Chà cô có vẻ lý tưởng hóa tình yêu quá, thời buổi này không thể nào có một túp lều tranh hai quả tim vàng đâu cô ạ. Cô đã từng nghe bài hát này chứ: Đừng nói yêu em lúc còn trắng tay, đừng nói yêu em với quả tim vàng, đời em không quen nghèo khó, rồi ra nương dâu mà sống, liệu tình yêu có còn hay chăng...”
Tôi vừa nói tới đó thì ông trưởng Khâu của tôi tới, nghe được ba chữ “còn hay không” nên ông hỏi tôi cần cái gì mà hỏi “còn hay không?”
Tôi cười đáp, “Nói cho vui chơi chứ đâu cần gì, nhưng nếu ông trưởng thơm thảo thì cho thằng công nhân này vài đồng mua nước uống.”
“Hỏi xin người đẹp đấy.” ông trưởng Khâu cười nói, rồi quay bước ra đi.
Sự hiện diện và hỏi chuyện của ông vô tình làm tan làn sương mù đang vây kín tôi khiến tôi không tìm ra lối thoát. Tôi thầm cám ơn ông trưởng khâu, xem ông như là một thiên thần Chúa gửi đến để đưa tôi ra khỏi mê hồn trận, tuy tôi không hiểu quần áo tôi có dính chút gì hương tình ái đó không mà C. cứ thấy tôi là ngoảnh mặt, thể hiện thái độ không ưa thích thêm vào đó hắn thường tìm cơ hội để làm giảm giá trị tôi đối với các cô thợ trẻ trong Tổ Hợp.
Và rồi có lẽ cơ hội làm nhục tôi đã đến với hắn, nên một hôm cuối tuần hắn mời một số bạn bè, trong đó có tôi và Ngọc H, ra quán uống nước với lý do là kể từ ngày tôi vào HTX đến nay chưa có dịp tiếp xúc nói chuyện để hiểu nhau nên hôm nay là dịp tốt.
Bước vào quán, hắn nói với tất cả bạn bè,
 “Các bạn muốn dùng gì thì cứ gọi, riêng tôi và bạn P. uống rượu chơi.” Nói xong hắn lớn tiếng kêu bà chủ quán,
“Chị Thiên Hương, cho tôi một lít đế, để tôi đãi ông bạn vừa mới trong lò trấu chui ra.” Rồi cười hì hì nhìn vào mặt tôi nói,
 “Hôm nay tao mày uống thi, thằng nào thua trả hết, mày dám không nào?”
Tôi lưỡng lự chưa trả lời thì các cô thợ dệt ngồi bàn bên cạnh nghe được lên tiếng phản đối,
 “Ê anh C, chơi ép anh P. quá đó nhé. Anh P. mới ra tù, vợ con không có, đang sống nhờ sự giúp đỡ của chú ba Lai (anh của tôi) lỡ thua thì lấy tiền đâu trả?”
“Ngọc H. trả!” Hắn nói và ngã người ra phía lưng ghế cười ha hả…
Tôi nhìn qua phía Ngọc H. thấy nàng đỏ mặt nên tôi nghĩ rằng nàng sẽ “Quạt” hắn cái tội ăn nói vô duyên nhưng không, nàng sửa lại nét bình thường cho gương mặt, tươi cười và nhẹ giọng nói thật êm tai,
“Chấp nhận đi anh P. Nếu anh có lỡ thua, em sẽ nhờ các bạn em đây góp tiền trả giúp anh.”
“Tuyệt, tuyệt…thế mới gọi là ngọt bùi cay đắng có nhau!” Mọi người vỗ tay ca ngợi nghĩa cử của Ngọc H, làm hắn điên tiết, hắn to tiếng hỏi tôi,
“Có người đẹp hỗ trợ, còn ngại ngùng gì mà không dám chấp nhận hỡi tên gà chết?”
Nguyễn Văn Sùng (Cựu Trung Sĩ BĐQ) lại đổ thêm dầu vào lửa, “Mạnh dạn lên Trung úy, đừng để mất mặt Sĩ Quan Đà Lạt!”
Lời nói của C. không làm tôi hừng chí, mà lời nói của Sùng lại là “hồi còi xung kích” giục tôi! Máu trong người bùng dậy, tôi hắng giọng một tiếng rồi nói,
“Cám ơn Ngọc H. đã cho tôi lời hứa hỗ trợ, cám ơn bạn Sùng nhắc tôi cái ngưỡng cửa đưa tôi vào đời, dù hoàn cảnh hôm nay có đổi khác nhưng tôi vẫn tôn trọng lời của người xưa là ‘giấy tuy rách cũng phải giữ lấy lề’ nên tôi long trọng tuyên bố: tôi chấp nhận thi với C, nhưng thay vì thi “cầm ly để uống” thì thi “trả lời câu hỏi”, ai trả lời đúng 3 trong 5 câu do các bạn đưa ra là thắng. Tôi xin nói thể thức thi: các bạn đặt câu hỏi và chúng tôi trả lời, C. và tôi ai là người gõ tay xuống bàn trước, được trả lời trước, nếu trả lời sai thì người thứ hai mới được quyền giải đáp. Giải đáp trúng được một điểm, ai được 3 điểm trước thì thắng! Tôi cũng xin nói thêm để các bạn chọn lựa, cách thi của tôi đề ra có lợi cho kiến thức chứ không có hại cho sức khỏe.”
“Hay hay đó, thi trả lời câu đố.” Mọi người hoan hô tán đồng.
Tôi quay mặt qua phía C. hỏi. “Còn bạn thì sao C, bạn có đồng ý không?”
“Mày dư biết ‘Trâu Điên’ này chứ?” Hắn cười gằn nói.
Mọi người đang ngơ ngác không hiểu ý C. thì tôi cười giải đáp,
“C, muốn nhắc cho tôi nhớ nó là lính của Tiểu Đoàn 6/TQLC, hỗn danh là Trâu Điên, nó chẳng ngán chi cả.”
“Vậy thì còn chần chờ gì mà không bắt đầu?” Nguyễn Văn Sùng nói và hắn hỏi ai tình nguyện nêu câu hỏi đầu thì Thế Mỹ, cô thợ dệt Khăn Bông, tình nguyện nêu câu hỏi:
“Một buổi chiều Thu lạnh, người ta thấy một người đàn bà ngồi bên nấm mộ còn thơm mùi đất than khóc: Anh ơi anh, anh chết bỏ con; anh ơi anh, anh chết bỏ em; anh ơi anh, anh chết bỏ chị. Cho biết mối quan hệ giữa người đàn bà đang ngồi khóc và người nằm dưới đáy mộ?”
Lập tức tiếng vỗ xuống bàn phát ra hòa cùng câu trả lời, “Là chị em!” của C.
Thế Mỹ cười tuyên bố, “Đúng – Anh C. được một điểm.”
Kế đến, Kim Phụng, trưởng khâu Suốt, đưa tay lên đặt câu hỏi:
“Hai anh nghe đây: Một cuộc đua xe đạp Vượt Đèo Hải Vân  dành cho 3 người đại diện ba miền của đất nước (Bắc, Trung, Nam) cần nói rõ đoạn đường xuyên qua đèo Hải Vân, bờ vực cheo leo, ngoằn ngòe khúc khỉu trong điều kiện thời tiết rất khắc nghiệt, mưa gió sương mù trộn lẫn. Ai sẽ thắng?
“Đức thắng!” tiếng trả lời của C. vang lên nhanh đến độ tôi chưa nhận hết ý câu hỏi.
Tôi đang ngơ ngác không hiểu tại sao không là Bắc, Trung, hay Nam mà Đức ở đâu vào đây mà nói rằng Đức thắng, thì Kim Phụng tuyên bố C. được hưởng điểm làm tăng sự buâng khuâng của tôi lên tột đỉnh. Tôi thì thầm một mình: Huế thắng thì đúng hơn vì ở gần đèo Hải Vân, ngày ngày tập luyện, hiểu rõ mỗi khúc quanh…, chứ  Đ..Ứ.. Rồi chợt tỉnh, vỗ tay xuống bàn la lên, “Tôi hiểu rồi, đây là một câu đố mẹo! Thắng là CÁI PHANH của người Bắc, do đó vần cuối của chữ ĐỨT là T chứ không phải là C. Mày xứng đáng hưởng điểm đó C.”
C, tươi nét mặt xoay qua phía tôi xìa tay ra bắt. Cử chỉ của hắn làm mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi không ngạc nhiên vì nó chính là cái bóng phản ánh trong gương của chính tôi!
Ông trưởng Khâu của tôi đưa tay lên nói: “Chúc mừng anh C. đã được 2 điểm. Tôi thấy hai người nữ nêu câu hỏi, anh C. đều lấy hết, biết đâu anh C. hợp với phái nữ thì sao? Thôi thì để có sự công bằng tôi đề nghị phía nam chúng ta đặt hai câu hỏi kế tiếp thử xem anh P. có gỡ gạt được chút nào, có thua cũng không ấm ức. Các bạn có đồng ý không?”
Mọi người tán đồng. Diệp Bảo Thái, nhân viên khâu Hồ nêu câu hỏi:
“Ngày xưa, thời Vua Chúa, có một học sĩ rất thông minh, có trí nhớ siêu việt, một quyển sách dày đến đâu mà cho ông liếc mắt qua một lần thì ông nhớ tất cả mọi tiểu tiết, ngay cả cách chấm câu của tác giả quyển sách. Tiếng đồn lan tới kinh đô, nhà Vua phái ông Quan phụ trách về Văn Hóa bắt nhốt ông trong một khu rừng rậm, lá cây che kín mặt trời, làm người sống ở đây như sống trong bóng tối, và rồi trao cho ông quyển Sử Lược của các triều đại trước, đồng thời lệnh cho ông đọc rồi tường trình chi tiết mỗi sự việc cho nhà Vua được rõ, càng sớm càng nhẹ tội ‘khi Quân’. Câu hỏi là làm sao thấy để mà đọc và bao lâu vị học sĩ hoàn tất nhiệm vụ?”
May mắn cho tôi, tuần rồi đến chơi với gia đình Hoàng Trọng. Trong lúc chuyện trò em gái Trọng, Bích P, đã đố tôi câu đố đó - Tôi bí - nhưng nàng đã cho tôi lời giải đáp, tôi vội gỏ tay xuống bàn trả lời: “Đợi đến mùa Thu cho lá vàng rơi, do đó thời gian hoàn tất nhiệm vụ lâu hay mau là tùy thuộc vào ngày tháng bị đem đi nhốt.’
Thái nói, “Đúng – Anh P. được 1 điểm cho câu đố này?”
Ông trưởng Khâu tôi vỗ tay cười nói, “Đó, các bạn thấy tôi nói đúng không? Đàn bà đố thì C. thắng, mà đàn ông thì P. thắng. Có lẽ P. mang Dương mạng còn C. mang Âm mạng nên khắc nhau như nước với lửa vậy mà hì.hì…”
Nguyễn Thanh Phong (cựu Sĩ Quan biệt phái Giáo chức,) nhân viên khâu Mắc xen vào: “Tôi thấy anh Khâm (ông trưởng khâu của tôi) có nhận xét đúng đó, hai ông này cớ gì cứ tranh nhau coi chừng ngư ông chộp hết đó. Để hai ông C. và P. nhận biết cái hậu quả của nó là gì, tôi xin nêu câu hỏi nhờ hai ông giải đáp. Câu hỏi này có hai phần, nếu ông P.trả lời trúng cả hai sẽ nhận được hai điểm và thắng cuộc, còn nếu chỉ trả lời đúng một câu thì thua hay huề tùy thuộc ông C. có trả lời đúng phần nào của câu hỏi hay không. Hai ông nghe rõ đây: Hai con dê đan sừng húc nhau thì giống con gì? Và kết quả là gì?”
C. cau có nhăn mặt xổ câu tiếng Anh: “What the hell are you talking about?”
Trong đầu óc tôi cũng có câu hỏi tương tự như vậy, nhưng chợt nghĩ đến con dê. Con dê trong câu hỏi, chắc mang hai ý nghĩa: nghĩa một là mai mỉa hai đứa tôi, và nghĩa hai là ám chỉ con số 35, có thể đây là ý của vị thầy thâm sâu này, và kế đó nói là hai con dê đan sừng nhau thì rõ ràng là dấu nhân? Nghĩ vậy nên tức tốc trả lời đại mà không cần gõ tay xuống bàn.
 “Thưa anh Phong, tôi nghĩ anh vốn là một thầy giáo nên câu hỏi anh đề ra là một câu hỏi thuộc về toán học, do đó hai con dê đan sừng húc nhau có phải là hai con số 35 nhân với nhau không?”
Phong vỗ tay cái “bộp” xuống bàn rồi nói,
“Đúng trăm phầm trăm, anh lấy được một điểm cho phần đầu rồi đó. Mau nói cái đáp số của nó đi để nhận trọn hai điểm!”
C. vội rút cây bút găm trên miệng túi viết bài toán nhân lên tay hắn rồi cắm cúi làm. Tôi nhìn thấy tội nghiệp nên bảo hắn,
“C, mày khỏi phải mất công tính toán: 35 nhân với 35 hay 35 bình phương cũng vậy là 1225. Mày làm phép thử toán nhân có đúng không, nếu không thì mày thắng cuộc!”
C. cẩn thận hơn, chịu khó làm bài toán nhân thay vì làm phép thử, làm xong ngước mặt lên hỏi tôi làm sao tính nhẫm nhanh đến thế.
Tôi cười đáp,“Thưa bạn C. tôi chẳng phải có tài tính nhẫm nhanh gì cả mà vì tôi được thầy dạy toán, Hoàng Mai ở Sài Gòn, chỉ cho cái cách bình phương một con số mà con số hàng đơn vị của nó là 5. Ví như 15, 25, 35 v.v…”
Mọi người nhao nhao lên hỏi, “Cách sao chỉ cho tụi tôi biết với.”
“Lấy con số hàng chục nhân với con số cấp số cộng của nó rồi thêm số 25 vào là xong. Thí dụ 35 bình phương trong bài toán thầy Phong vừa ra: Ta lấy con số 3 nhân vơi con số 4, là cấp số cộng của nó, thành con số 12 rồi đặt con số 25 vào sau nó, thành 1225 là đáp số của nó. Các bạn thử làm xem đúng vậy không?” Tôi giải thích cho mọi người và ai cũng đã làm thử và nhận thấy điều tôi nói là đúng, họ cho tôi một tràng pháo tay nồng nhiêt. Riêng Phong, không những chỉ vỗ tay mà còn thú nhận rằng cách tính ấy chính thầy cũng chưa từng biết.
Cuộc thi chấm dứt, mọi người đứng dậy móc túi trả tiền phần của mình nhưng C. lại không cho, hắn bảo nhờ buổi uống nước này mà hắn học được một bài học qúy giá, mọi người cười vui ca ngợi C.
“Mr.C, number One!”
Sau sự việc xảy ra tại quán Thiên Hương, hầu hết Xã viên trong HTX nhìn tôi với đôi mắt cảm mến, nên khi nhu cầu lập toán trực đêm để bảo vệ tài sản cho HTX thì họ đề cử tôi làm trưởng toán .
Và một đêm trong phiên trực, bên ngoài trời mưa rỉ rả không ngớt, ếch nhái kêu ùng inh nghe thật là buồn, người phó toán của tôi, Diệp Bảo Thái, gợi ý nên hùn tiền mua rượu về uống cho ấm, tôi tán đồng ngay. Và đồng thời một đội viên gác đêm với chúng tôi, nàng Bội N, cũng xin được nhập bọn cho vui và cô lãnh phần mua đồ nhấm. Rượu thịt đem về ba chúng tôi bắt đầu vào tiệc. Rượu vào thì lời ra, đó là hiện tượng chung cho những ma men. Và có lẽ Bội N. cũng là một ma men nên nàng nói thật nhiều, nói những điều mà người Mỹ cho rằng cấm kỵ “Verbal Sexual Harassment” làm tôi e ngại. Tôi giả bộ say, nhắm mắt ngủ để cho nàng và Thái tự do nói chuyện nhưng không ngờ việc làm của tôi khiến nàng phật lòng, nàng đứng dậy ra về trước sự ngỡ ngàng của Thái.
Tôi nghe Thái nói, “Ô kìa, ô kìa… N. làm gì kỳ vậy? Còn Thái đây mà, hãy ở lại tiếp tục nói chuyện cho vui!” nàng vẫn không trả lời lẳng lặng ra đi.
Thái đưa tay lay tôi nói,
“Anh P, làm gì kỳ vậy? Thức dậy đi, Bội N đi rồi kìa, cũng tại ông làm cuộc vui mất hứng!”
Tôi nhỏm dậy nở một nụ cười khoái chí nói với Thái rằng N. về lại càng hay. Thái vỗ vào vai tôi bảo tôi là “đồ khỉ,” rồi hai đứa cùng cười và tiếp tục nâng ly.
Càng về khuya khí trời càng lạnh, rượu càng thơm nồng hơn khiến hai đứa quên mất thời gian.
Đang trong vui say, bỗng Hằng Nga (tên một tổ viên trực) hỗn hễn chạy đến báo cho biết Bội N. đang trong cơn nguy, ói mửa lung tung. Tôi và Thái chạy đến thì thấy Bội N. nằm xụi lơ, xung quanh nàng rải rác có vài viên thuốc. Tôi nghĩ nàng buồn phiền việc gì đó nên dùng thuốc để kết liễu mạng sống. Tôi rối lên, hối Thái lấy chiếc Honda đưa nàng vào nhà thương cấp cứu.
Thái lái xe, tôi bồng N. ngồi sau trong trạng thái đầu óc căng thẳng, bấn loạn, cộng với men say, thời tiết gió mưa, tốc độ xe chạy qúa nhanh… khiến tôi kiệt sức khi ẵm N vào tới bên trong nhà thương - Tôi trở thành là bệnh nhân thứ hai mà các y, bác sĩ phải quan tâm cấp cứu!
Họ vực tôi lên giường hồi nào tôi không hay biết, đến chừng mở mắt ra tim tôi bồi hồi rúng động bởi sự có mặt của người con gái quá quen. Tôi bật ngồi dậy hỏi người con gái đứng phía sau cô y tá, “Ơ…! Em có phải là Ch, Diệp Ch không?” khiến cô y tá giật mình hoảng sợ, vội đẩy tôi nằm xuống.
Tôi nói với cô y tá là tôi khỏe rồi, đừng quan tâm lo lắng hãy để cho tôi được xuống giường nói chuyện với người đang đứng sau lưng nàng.
Cô y tá bảo,
“Không được! Không thấy tôi đang ‘chuyền dịch’ cho anh sao? Vài phút nữa thôi, khi bình dịch cạn rồi hãy nói, tôi sẽ không cấm cản anh đâu.” Rồi quay người ra phía sau nói gì với cô gái tôi không nghe rõ, chỉ thấy hai người cùng cười.
Độ năm phút bình dịch cạn, cô y tá hỏi tôi có cảm thấy thực sự khỏe chưa, tôi trả lời khỏe và cô cho phép tôi rời phòng cấp cứu và đưa tôi về phòng riêng nằm nghỉ, chờ sáng mai xuất viện. Tôi nói lời cám ơn cô rồi đưa hai chân để xuống nền gạch thì cô y tá giúp tôi đứng dậy và cô gái kia cũng tiến đến đưa tay nắm lấy tay tôi vừa dìu tôi đi vừa nói,
“Không phải em thì anh nghĩ là ai? Chẳng lẽ mới mấy năm xa cách mà anh không còn nhận ra em sao mà hỏi?”
Tôi nói, “Không phải anh không nhận ra em mà vì anh được biết em làm việc ở Long Xuyên, sao đêm nay lại có mặt ở nơi này?”
“À thì ra thế!” Nàng cười đáp.
Đến phòng dành cho bệnh nhân, cô y tá trở lại làm việc và trong lúc quay đi cô nói vọng lại một câu rất bâng quơ:
“Phần chăm sóc bệnh nhân của tôi đến đây xem như là hết, phần còn lại tôi giao cho cô; tôi thấy bệnh nhân này rất ư là sensitive coi chừng heart attach nghe chưa!”
Ch cười nói, “Thanks, don’t  worry about that, take it easy, ma’am!”
Tôi sững sờ trước câu nói tiếng Anh của nàng. Thì ra trên đời này có rất nhiều người giỏi nên tôi phải biết khiêm nhường trong mọi giao tiếp.
Khi hai chúng tôi an tọa xong nàng giải đáp những điều tôi buâng khuâng, nàng nói, “Trước đây em làm việc tại Long xuyên, đúng như anh nói, nhưng đã xin thuyên chuyển về làm việc tại Bệnh viện Tây Sơn (Bệnh viện Sơn Hòa cũ) cuối năm 1976. Đêm nay em có mặt tại Bệnh viện này là nhân đưa một sản phụ sinh khó về đây để được mổ vì Bệnh viện Tây Sơn không đủ máu.”
Trực nhớ tới Bội N nên tôi hỏi Ch, “Vậy lúc anh đưa cô bạn vào cấp cứu có mặt em ở đó hay không và em có biết gì về tình trạng sức khỏe của cô ta bây giờ?”
 “Có  - Không có gì nguy hiểm đến tính mạng, anh yên tâm - Theo lời tường thuật của anh Thái, bạn anh, thì các y bác sĩ nói là nàng giả bộ uống thuốc tự tử để cho anh hay anh Thái phải hiểu rằng nàng hành động vì yêu,” Ch đáp. Và rồi nở một nụ cười bí hiểm nói tiếp,
“Theo sự nhận xét của em, nàng làm việc đó là để cảnh cáo anh chứ không phải là Thái. Nàng bỏ đi chỉ vì anh ngủ, không chịu thức để nghe những điều nàng muốn nói cùng anh!”
Tôi vò đầu bức tóc nói, “Khổ quá, em lại hiểu lầm nữa rồi! Nàng đã có chồng có con rồi, tuy chồng chết nhưng còn đứa con, nàng rất yêu con kia mà!”
Ch lại hỏi, “Sao anh rõ về nàng vậy, nếu anh và nàng không gần gủi thân mật với nhau? Nói cho em biết duyên cớ nào anh và nàng biết nhau và đã quen biết nhau bao lâu rồi? Và những gì hai người thường trao đổi mỗi lúc gặp nhau? thì em sẽ vạch cho anh thấy vấn đề.”
Tôi không biết lời Ch nó mãnh lực nào mà khiến tôi răm rắp tuân lệnh thi hành chẳng khác nào một tội nhân đứng trước vành móng ngựa của một phiên tòa. Tôi cho Ch biết nhà N ở gần nhà anh tôi, chồng N là bạn thân tôi hồi còn nhỏ, chồng N là Sĩ quan Thủ Đức, ra trường phục vụ trong Binh Chủng Thiết Giáp, tử trận ở Hạ Lào, năm 1971 khi tôi vừa mới ra trường Đà Lạt. Tôi được N mời đến nhà hai lần: một lần nhân ngày giỗ Hòa (chồng N) và lần khác là ngày ăn mừng con nàng thi đỗ vào lớp 7 trường Nguyễn Huệ. Tôi nhấn mạnh những trao đổi giữa tôi và N cũng chẳng có gì đáng nhớ, chỉ có lời N nhận xét về tôi (đầu óc không nhạy bén để nhận biết những gì đàn bà muốn, nên việc bị vợ bỏ là điều không mấy ngạc nhiên,) làm tôi hơi buồn!
Ch cười nói, “Đó, anh thấy chưa? Nàng trách anh không hiểu nàng! Nhưng thôi, đó không là việc của em, em không cần biết. Điều em cần biết là anh có vợ rồi sao? Và vì sao vợ anh lại bỏ anh?”
 Nhắc đến việc này nỗi đau trổi dậy làm đầu óc tôi quay cuồng lộn xộn, tôi không biết bắt đầu chuyện kể từ đâu? Tôi loay hoay mãi chưa phát được ra lời thì Ch thở dài cất tiếng hỏi tôi:

 “Anh cảm thấy khó chịu khi em đề cập đến việc đó lắm phải không? Nếu thế thì em không hỏi nữa! Nhưng theo em, không ai sống trong ‘Cõi Thế’ này mà được miễn trừ khỏi đau khổ, những người tốt hiền như Bụt, cũng phải trải qua thời kỳ có những đám mây đen bay qua đời họ bỡi cái lẽ vô thường của cuộc sống, chỉ có những ai hiểu cái lẽ đó mới có thể vượt qua, không bị ngã quỵ hay bị cầm chân một chỗ.”
Tôi ngước mắt nhìn Ch với bao điều cảm mến, mới cách đây mấy năm mà nàng thật trưởng thành trong cuộc sống. Cái tư tưởng tích cực của nàng đã kéo tôi ra khỏi vùng u tối tôi đang ngụp lặn, tôi từ từ cất tiếng nói,
“Anh không có ý dấu em vì anh biết không có cái gì ở dưới ánh sáng mặt trời này mà có thể che đậy mãi, nhưng cảm nhận anh không được may mắn như những người khác, nên ngày anh cất tiếng đề nghị với em cho anh được là người bạn đời thì em đã từ chối. Và sau này có người chấp nhận sống với anh rồi cũng không gắn bó, đợi chờ!”
Ch chăm chú lắng nghe thở dài, rồi nói,
“Theo cách nói của anh, em thấy anh vẫn còn buồn em lắm, nhưng anh cũng nên hiểu lúc anh đưa lời đề nghị là lúc em đang học năm thứ nhất khóa Cán Sự Hộ Sinh Quốc Gia, nếu em chấp nhận thì có thể em không hoàn tất được khóa học, phần do sự đẻ chửa có thể xảy ra, phần em không an tâm về cuộc sống trong lửa đạn của anh. Do đó có thể nói lời đề nghị của anh không phải lúc, chứ nào em chê anh, mơ mộng tìm kiếm chọn lựa gì đâu! Anh hãy thử nhớ lại lời em đã nói với anh (tôi đã có dịp đề cập đến lời nói này trong truyện ngắn Chuyện Một Đêm Đông đã đăng trên Đặc San Ức Trai, năm 2003) ngày đó thì rõ, nhưng thôi những gì thuộc về quá khứ hãy để nó nằm im trong quá khứ. Bây giờ nói cho em nghe anh về đây sống với ai, đã có công việc làm gì chưa và nếu có, thu nhập hàng tháng có đủ sống không?”
Nghe những lời Ch nói tôi cảm thấy vơi đi chút buồn phiền ngày cũ, tôi không ngần ngại cho nàng biết tôi đang sống dưới sự bảo bộc của anh tôi, tôi đang làm việc cho HTX Dệt, lương tháng được 180 đồng cộng với 25 ký gạo.
“Thế sao đủ sống?” nàng hỏi.
Tôi trả lời nàng rằng các khoản thiếu hụt thì anh chị tôi lo!
Nghe tôi nói, nàng gục đầu suy nghĩ… Và tôi không biết những gì đang diễn biến trong đầu óc nàng lúc đó; duy có một điều tôi biết rõ, cái đêm u-tối sắp qua và một ngày mới sắp tới bởi có tiếng xe, có tiếng chân người qua lại đang vang dội bên ngoài.
Tôi và Ch đứng dậy bước ra khỏi phòng, nhường lại cho các bệnh nhân khác khi cần. Ra tới ngoài đường, Ch vẫy gọi một chiếc xích lô đưa chúng tôi về Ngã Năm, trung tâm buôn bán của Thành phố Tuy Hòa lúc bấy giờ. Vào một quán nhỏ nàng tự động gọi hai tô cháo; người chủ quán vừa đặt hai tô trước mặt chúng tôi thì nàng nói với bà ta, “Chị cho em xin thêm ít hành tươi phần gốc với lại chút tiêu nữa.”
Người chủ quán “dạ” một tiếng rồi quay đi vào trong. Tôi hỏi nàng cần hành nhiều để làm chi thì nàng nói cần cho tôi để chống bị cảm lạnh bỡi đêm qua.
Người chủ quán mang hành và tiêu ra thì nàng lấy đũa gắp hành bỏ vào tô tôi đồng thời rắc thêm ít tiêu vào đó rồi bảo tôi ăn.

Nhìn vào tô cháo, không biết tại sao, tôi không thấy hành tiêu mà chỉ thấy một trái tim hồng thật đẹp! Nước mắt tôi tự dưng trào ra tôi lấy tay lau vội!
Nàng nhìn tôi mỉm cười hỏi, “Cay lắm phải không?”
Tôi cố tạo một nụ cười để chữa thẹn và nói, “Cay nhưng ngon, ngon hơn bất cứ tô cháo nào anh đã từng thưởng thức trước đây!”
Thế rồi hai chúng tôi cùng ăn, cùng cười, vừa ăn vừa nói chuyện thật vui.
Ăn xong, nàng lấy ví móc tiền ra trả đồng thời dí vào tay tôi năm chục đồng bảo cầm lấy tiêu dùng. Tôi cảm động trước nghĩa cử của nàng, không biết nói sao chỉ cầm chặc đôi tay nàng thật lâu và thời gian, tay trong tay, như ngừng đọng.., bỗng có một chiếc xe bệnh viện trờ đến đỗ cạnh lề đường trước quán, cùng tiếng còi xe vang lên. Nàng đứng dậy chạy ra xe, vừa leo lên vừa vẫy tay nói vọng lại,
“Em về Tây Sơn đó nhé, ở lại ráng giữ gìn sức khỏe, nếu không gì trở ngại tuần tới em sẽ xuống gặp anh, chúng ta sẽ nói chuyện nhiều hơn. Bye, Bye…”
Môi nàng cười, tay nàng vẫy, tôi thấy vui vui vì nhận thức rằng ít ra tôi cũng đem lại nguồn vui nho nhỏ cho người tôi đã từng yêu mến!
Còn lại một mình, đứng ngắm cảnh bình minh trên phố, vệt nắng hồng ban mai làm rạng rỡ cả phương Đông. Tôi cảm thấy tâm hồn tôi vươn lên bỡi những tia nắng ấm! Chân tôi bước, miệng tôi ca:
“Trời hôm nay xanh xanh, gió đưa cành mơn man tà áo, làn mây xanh quây quanh, ánh vừng hồng chiếu xuống niềm tin, đàn chim non tung tăng như đón chào mùa Xuân Thế nhân, chúc ai vừa tìm được bến mơ…”
Tâm trí tôi chìm trong lời ca dòng nhạc, quên hẳn đường đi và quên hẳn mọi sự việc đang diễn ra chung quanh, cho đến khi nghe tiếng hỏi:
“Xe đạp đâu mà đi bộ, ông Sĩ Quan? mới giật mình đứng lại.
Định thần nhìn kỹ thì thấy anh tôi đang quét mấy chiếc lá Ngô Đồng (lá Bàng) rơi trước ngõ. Nhìn cảnh lá Ngô Đồng rơi, tôi nhớ đến hai câu thơ Cổ và thấy rõ ràng Trời Đất đang vào Thu.
Ngô Đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri Thu!
Anh tôi la lên,
“Trời đất! Ông đang trong mơ đó hả? Hỏi không trả lời mà còn ngâm thơ nữa chứ! Bộ hôm nay ông trúng mánh gì chăng?”
Tôi mỉm cười và nói với anh, “Trúng mánh! Em vừa gặp được Ch con bác Năm đãi ăn sáng, còn được tặng năm chục đồng để dành tiêu xài.”
Anh tôi hỏi, “Gặp nó ở đâu?”

“Tại Bệnh Viện,” tôi trả lời ngắn gọn.
Rồi sau đó để anh hiểu rõ ngọn ngành, tôi kể cho anh nghe sự việc xảy ra tại Tổ Hợp đêm qua dẫn đến việc gặp Ch.
Anh trố mắt nhìn tôi cất tiếng nói,
“Đúng là tình cũ không rủ cũng đến! Mà nó về đây hồi nào? Anh nghe nói nó làm việc ở tận miền Nam kia mà. Nó có chồng con gì chưa? Nếu chưa là dịp tốt cho em đó!” ngừng vài giây anh tôi nói tiếp, “Qua sự việc đêm hồi hôm em kể, anh khuyên em nên xem lại việc giao du với Bội N. và Ngọc H. vì theo anh thấy hai cô ấy đang tranh giành để lấy được cái họ muốn, và em là người đứng giữa cuộc giao tranh, “Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết em biết không?”
 Nhìn anh, tôi cười nói,
“Ch. về làm việc ở Bệnh viện Tây Sơn sau ngày sụp tiệm, còn việc cô nàng có chồng hay chưa em không biết, vì gặp nhau cô ta cứ hỏi em, chứ em không hỏi cô ta được gì cả. Thôi mà, đừng cho em cái hy vọng viễn vong vì ngày xưa em có địa vị tiền bạc mà cô ta không màng huống hồ bây giờ em chẳng có chi ngoài ‘răng với…dế!’ Còn việc anh khuyên em nên cẩn thận trông việc giao tiếp với hai cô nàng trong Tổ Hợp Dệt thì anh đừng lo, em không là con nai vàng của Lưu Trọng Lư đâu mà anh sợ! Thôi pha hai ly café anh em cùng uống, rồi đưa em vào Tổ Hợp bỡi chiếc xe đạp của em còn nằm ở đó từ đêm qua.”
Tôi vừa bước chân vào chỗ làm việc thì các cô thợ dệt đến vây quanh tôi hỏi.
“Ũa, anh Thái nói đêm qua anh cũng bị kiệt sức phải cấp cứu kia mà, sao bình phục nhanh thế? Còn Bội N. thế nào anh có biết không?”
Tôi trấn an mọi người nên mỉm cười đáp,
“Mọi việc đều không quá xấu, Bội N. sẽ xuất viện trong ngày hôm nay và sẽ trở lại làm việc bình thường trong vài ngày tới, các y bác sĩ cho biết như vậy, các bạn hãy an tâm!” ngừng giây phút rồi tôi cười và nói tiếp, “Còn tôi hả, bình phục sớm là vì cơ thể tôi được trui rèn bỡi gió sương trong chiến tranh và những tháng năm dài cải tạo! Các cô không ngạc nhiên nữa chứ? Thôi hãy để tôi đến nói chuyện với Thái vài phút rồi bắt tay vào việc kẻo ông xếp tôi rầy la.”
Tôi đến Khâu Hồ tìm Thái thì được Sùng cho biết Thái đêm qua quá mệt nên đã về nhà nghỉ. Tôi quay lại với phần việc hàng ngày của mình.
Một ngày trôi qua thật chậm! Và những ngày kế tiếp thời giờ cũng lê thê như vậy, tôi mong ngày chóng qua mau để đến cuối tuần, Ch trở lại với tôi.
Ch đến thăm tôi ngày cuối tuần như đã hứa, nàng đến gặp tôi lúc trời vừa chợp tối. Nhớ đến lời nàng nói trước khi chia tay, tuần trước, là sẽ gặp lại nhau để nói chuyện nhiều hơn, thế nhưng sao đợi đến lúc này thì còn thì giờ đâu để trò chuyện. Tôi cảm thấy hơi buồn, trong đầu hiện ra nhiều câu hỏi thì vô hình trung nàng lại cho biết lý do đến quá trễ, là vì ghé chợ mua chút quà cho cháu nàng ở Vạn Giả. Nàng đang nghỉ phép và trên đường đi thăm chị.
Rồi nàng nhìn tôi mỉm cười hỏi,
“Chờ đợi có sốt ruột không? Em xin lỗi nhé! Và này, ngày mai, anh có muốn đi chơi với em không?”
Tôi cười trả lời,
“Muốn lắm chứ nhưng anh không có tiền, với lại nghỉ ngang sợ bị đuổi rồi không lấy tiền đâu ra để sống!”
Nàng đáp,
“Em có đủ tiền cho hai đứa đừng lo, còn vấn đề kia thì nhờ anh Ba giúp,” ngưng một tí rồi nàng tiếp tục nói trong tiếng cười rất dễ thương, “tiền lương những ngày nghỉ em sẽ trả, coi như đó là tiền mướn Body-Guard. Đâu dễ gì có được một ông Sĩ Quan Đà Lạt mà tiếc chứ!”
Tôi cười buồn trả lời,
“Anh hiểu, nhưng anh không muốn thêm gánh nặng cho em.”
Nàng nhìn tôi nghiêm nghị nói,
“Không sao đâu, anh đừng quan tâm đến việc đó, điều anh đáng quan tâm là đừng để em thất vọng về những gì em đang kỳ vọng. Anh đi với em anh sẽ không thấy lạc lõng bỡi vì chị em đã biết anh từ lâu và cũng biết về chuyện tình cảm trước kia giữa hai chúng ta mà.”
“Thôi được, để anh nói cho anh Ba biết đồng thời nhờ anh vào Tổ Hợp xin cho nghỉ vài ngày, nếu anh về trễ,” tôi suy nghĩ giây lát rồi đáp lời nàng.
Thế là ngày hôm sau chúng tôi trên chuyến xe xuôi về nam đến thị trấn Vạn Giã, thuộc Vạn Ninh, Khánh Hòa.
Đi qua những con đường dẫn đến nhà anh chị nàng đầy cát bụi, không khí nóng bức ngộp thở làm tôi cảm thấy khó chịu; tuy khi bước vào nhà thì không khí khác hẳn: mát mẻ dễ chịu, nhất là cái lối tiếp đón thân mật cởi mở làm tôi không thấy tôi là người xa lạ với gia đình . Anh chị nàng rất vui được nàng đến thăm, đặc biệt có tên “vệ sĩ” (nàng giới thiệu tôi với anh chị nàng như thế) luôn kề cận người em gái của hai vợ chồng.
Chị nàng nhìn tôi chúm chím cười rồi giả bộ tỏ vẻ ngạc nhiên nói,
“Chà, lâu lắm mới gặp đó nha! Về đây hồi nào và vì đâu mà gặp em tôi rồi kéo về đây? Cảm ơn, còn nhớ mà đến thăm thật là một sự hạnh ngộ. Thôi mời vào ngồi nói chuyện với ông xã tôi, để tôi xuống bếp chuẩn bị cơm nước đãi hai người khách quý.”
Nói xong chị quay đi đồng thời ngoắc tay ra hiệu bảo nàng đi theo. Hai chị em nói gì tôi không nghe rõ chỉ nghe tiếng cười rộn rã thật vui vọng lại từ đàng xa.
Chồng chị tiến đến bắt tay tôi, rồi mời tôi theo anh lại ghế “Sa-lông” ngồi nói chuyện. Trước khi bắt đầu chuyện trò trao đổi, anh hỏi vợ trong tiếng cười vui:
“Chà, gọi sao đây má Mi? Gọi dượng bốn cho thân mật được không?”
Thì nghe chị nói vọng lại từ đàng sau, “Gọi gì cũng được, miễn đừng làm người bạn học của tôi, ngày xưa, sợ quá chạy mất thì không còn ai bảo vệ cô em tôi đó!”
Cả hai chúng tôi cùng cười. Anh hỏi sơ qua những ngày trước 75 của tôi, tôi cũng chỉ lướt qua đôi chút thôi để tránh cảnh càng nhắc càng đau, đồng thời tôi muốn  có nhiều thì giờ hỏi cách làm ăn của anh mà bắt chước vì tôi thấy cuộc sống gia đình anh quá sung túc.
Anh cho tôi biết thu nhập của gia đình dựa trên công việc mua bán Trầm Kỳ. Anh khuyên tôi nên để mắt vào công việc này, nếu thiếu tiền cho anh biết anh sẽ giúp cho, vì vùng tôi đang sinh sống có rất nhiều Trầm Kỳ, có nhiều người đang khai thác rất trúng và đã đem bán cho anh.
Tôi hỏi anh làm cách nào để nhận biết đó đúng là Trầm hay Kỳ và giá cả của nó thì anh cho biết:
Kỳ quý hơn Trầm do đó Kỳ đắc tiền hơn. Muốn biết chính xác giá cả của nó phải trải qua nhiều năm kinh nghiệm. Và anh sẵn sàng giúp tôi về việc này, nếu tôi cần anh.
Kỳ còn gọi là Kỳ nam:
Đặc tính của Kỳ nam: chất nhẹ, mềm dẻo và nhuyễn; khi nếm có vị chua, ngọt đắng hơi cay cay; có 4 màu chính: trắng ngà, xanh hơi xám, vàng hơi đen chàm; khi đốt cho nhiều dầu, rất thơm, khói bay thẳng lên không trung, tạo một giải cuộn dài; có bốn thứ chính: Bạch kỳ (màu trắng ngà), thanh kỳ (màu xanh xanh), huỳnh kỳ (màu vàng đen), hắc kỳ (màu đen bóng.) Và hắc kỳ là quý nhất.
Trầm còn gọi là Trầm hương.
Đặc tính Trầm hương: Chất nặng, vị đắng, màu mun hoặc đỏ; khi đốt cho ít dầu; khói màu trắng bay tỏa rộng rồi tan mau; trầm hương cũng có bốn thứ: trầm mắt kiến, trầm rễ, trầm tơ, và trầm tóc.
Tôi thắc mắc hỏi anh tại sao người ta mê Trầm Kỳ như vậy thì anh nói,
 “Trầm Kỳ là vị thuốc chính đưa vào các Kinh như: Tỳ, Vị, Thận…hổ trợ đắc lực cho sự vận hóa giữa hai Kinh Tỳ và Thận. Ngoài ra, còn có tác dụng giáng khí, hạ đờm, bổ thận, bổ nguyên khí v.v…”
“Chà, anh nói làm em có cảm tưởng anh là một ông thầy già Đông y quá,” tôi nói. Anh cười bảo anh không là thầy Đông y nhưng vì công việc làm ăn dính liếu đến lãnh vực này nên phải tìm tòi học hỏi thế thôi.
Chúng tôi đang trò chuyện trao đổi thì vợ anh và nàng mang cơm nước đến. Chị cất tiếng hỏi:
“Chà ba Mi nói cái gì mà ông bạn tôi, a, à…à… dượng nó, có vẻ căng thẳng tinh thần vậy? Thôi có việc gì để ăn uống xong nói tiếp.”
Tôi hơi e thẹn bỡi tiếng “Dượng” chị gọi tôi, mặc dù lòng tôi cũng ước ao được chị gọi như vậy. Tôi nói, “Nào có gì căng thẳng đâu, tôi đang tập trung tâm trí lắng nghe những điều anh chỉ dẫn cách làm ra tiền trong thời buổi này vậy mà.”
Chị lại nói, “Vậy thì tốt! Mời cầm chén đũa kẻo cơm canh nguội hết, chúng ta vừa ăn vừa nói chuyện.”
Cơm nước xong, bốn chúng tôi chúng tôi bắt đầu trao đổi chuyện trò. Điều đáng chú ý là nàng dùng thì giờ rất hợp lý: ít dành cho tôi mà phần lớn dành để hỏi về công việc làm ăn của anh chị và việc học hành các cháu của nàng. Một sự tế nhị khiến tôi trân quý nàng hơn .
Còn chị nàng, cố tìm cách hỏi tôi về những việc quá khứ và những dự tính tương lai. Thế nhưng, đối với tôi, quá khứ quá đau buồn còn tương lai quá mờ mịt nên nói với chị, tôi luôn lấy câu châm ngôn của người Pháp làm kim chỉ Nam cho cuộc sống bây giờ (người đời thường dại dột: tiếc quá khứ, mơ tương lai, quên hiện tại!) Và dường như, chồng chị hiểu ý tôi nên anh đã khéo léo rủ chúng tôi đi thưởng ngoạn cảnh Vạn giả.
Thời gian đi vòng vòng ngắm cảnh không biết bao lâu mà khi trở về nhà đã hơn mười giờ đêm nên mọi người bảo nhau đi ngủ.
Một mình trong phòng riêng, có dịp kiểm lại những chuyện vừa qua, tôi nhận thấy tính tình Ch vẫn như ngày nào (vẫn thực tế không mơ mộng,) và tình cảm dành cho tôi vẫn còn nguyên vẹn như xưa; còn anh chị nàng, tuy mới gặplần đầu, cũng cho tôi sự tiếp đón rất chân tình niềm nỡ làm tôi cảm tưởng có một tia sáng cuối con đường hầm mà tôi đang mò mẫm bước đi, nhưng đồng thời cũng nhận thấy để tiến tới tia sáng đó khả năng tôi khó mà làm được, bỡi đôi gối tôi đã quá chùng!
Trăn trở với những ý nghĩ mông lung, chìm vào trong giấc ngủ hồi nào tôi không hay biết.
Sáng ngày hôm sau, hai chúng tôi từ giã anh chị và lên xe đi vào Nha Trang thăm chị tôi. Gặp tôi, chị tôi rất mừng và đặc biệt có sự hiện diện của Ch làm chị tôi mừng hơn nữa vì tôi biết trong thâm tâm chị cũng như mẹ và anh tôi luôn mong tôi tìm được một người bạn mới để làm lại cuộc đời, tôi hiểu mọi người đang hướng về tôi mong tôi có một cuộc sống ổn định, tôi thầm cảm ơn tất cả mọi người.
Ở chơi với gia đình chị tôi một ngày, rồi Ch đưa tôi đến thăm những bạn nàng và thăm những thắng cảnh ở Nha Trang.
Trong những lúc bên nhau chúng tôi không ai nghĩ rằng mình là mới hay cũ đối với người đối tác, chỉ biết rằng chúng tôi là hai kẻ đang mến thương nhau, do đó nàng không dấu những gì nàng nghĩ. Nàng kể cho tôi nghe về cuộc đời nàng sau ngày chúng tôi chia tay để theo con đường mình chọn lựa: nàng tốt nghiệp khóa Cán Sự Quốc Gia ngành Hộ Sinh và chọn nhiệm sở ở Ty Y Tế Long Xuyên, vì có một người bạn thân muốn về làm việc tại đó, tuy lúc ấy nàng nghe đơn vị tôi cũng ở đâu đó thuộc Vùng IV, nhưng không biết ở đâu, nếu biết ở Vĩnh Long thì nàng có lẽ cũng xin về đó vì nhớ lại hình ảnh tôi ngày xưa nàng không thể không động lòng!
Nàng nói với tôi, trong thời gian làm việc ở Long Xuyên, có quen vài người và trong số ấy cũng có người muốn tiến đến hôn nhân nhưng nàng không chấp nhận bởi họ cũng là những người lính như tôi, còn bây giờ cũng có hai tên CBCS đang theo đuổi: một là Trưởng Công An/Sơn hòa, một là Bệnh viện phó/Bệnh viện nàng đang làm việc.
Để chinh phục nàng hai tên này thường tiết lộ các cuộc họp Đảng, chúng thường bảo: nàng vừa là tàn dư của chế độ cũ, vừa có cha là người Trung quốc nên cấp trên có ý định sa thải từ lâu, nhưng nhờ sự can thiệp của chúng nên cho đến nay nàng vẫn còn làm việc!
Nàng biết nàng còn làm việc là do tay nghề của nàng chứ không phải do sự bênh vực, che chở của chúng; tuy nhiên nàng không nói gì ngoài tiếng “cám ơn” để cho chúng an tâm không chú ý. Nói tóm lại, theo nàng nghĩ, chúng là những tên lừa đối, không tên nào có tư duy, chỉ biết lập lại những điều Đảng nói và làm theo những điều Đảng bảo! Nàng khẳng định không thể nào chấp nhận những con người như thế.
Nàng mong tôi hiểu rằng: “Đối với nàng, tình yêu và lý trí cần được kết hợp hài hòa,” nàng rất sợ lấy chồng là lính, nhất là người lính tác chiến như tôi. Theo nàng quan niệm: không lấy nhau thì thôi, đã lấy nhau thì mong ăn đời ở kiếp để có thể hợp sức dìu dắt đàn con. Và cũng theo nàng suy nghĩ: con cái nó không yêu cầu hai vợ chồng cho chúng nó ra đời nhưng vì sự chung đụng thể xác của cha mẹ mà có, do đó cha mẹ phải nhận lấy trách nhiệm lớn đối với chúng, đó là lý do mà nàng không dám chấp nhận lời cầu hôn vội vã của tôi ngày xưa!
Nàng còn mượn câu nói trong sách ngụ ngôn của Kinh Thánh: “mọi sự việc đều có cái thời điểm cho nó nẩy sinh” (There is a time for everything) để tôi không quá câu chấp những gì xảy ra trong ngày cũ.
Tôi trở lại HTX làm việc sau ngày đi thăm người thân cùng Ch, tôi thấy vài người thay đổi thái độ với tôi, điển hình là C và Ngọc H – C tỏ ra thân thiện gần gũi, Ngọc H tỏ ra lơ là xa lánh - làm tôi tự hỏi và cuối cùng tôi nhận ra rằng bạn và thù không có lằn ranh bất biến. Ví như trước đây VNCH & USA là bạn, CSBV & USA là thù thì ngày nay đổi ngược lại! Đây có phải là cái lẽ Vô Thường đó chăng? Tôi chấp nhận nó là cái thực thể của cuộc sống: không than van oán trách, mọi ngày, đối với tôi, như mọi ngày.
Tôi cảm thấy có chút nhẹ nhàng tâm hồn hơn là Bội N không trở lại làm việc, dù rằng sức khỏe nàng đã trở lại bình thường.
“Bội N đã rời nhà cha mẹ chồng về ở với cha mẹ nàng, tận bên Phú Lâm, sống bằng nghề trồng rau bán cải…,” vài bạn nàng cho biết như vậy.
Phải chăng có một bàn tay vô hình (tôi nghĩ chính là anh tôi) cho tôi lọ De-Glue Goo (Glue Remover) để tách rời tôi với Ngọc H và Bội N?!
Rồi một hôm tôi đang lững thững bước ra về từ Tổ Hợp, C đến vỗ vai tôi hỏi tại sao buồn như vậy?
“Chẳng có gì buồn hơn là nỗi buồn tháng Tư, chỉ vì hôm nay làm việc qúa mệt!” Tôi trả lời hắn.
“OK, tuần này đến nhà tao uống café, ăn sáng, nói chuyện, cho hết mệt,” hắn cười nói và vội vã nhảy lên chiếc Honda ra về.
Tôi nhìn theo hắn, đồng thời nói vọng theo, “OK, tao sẽ đến.”
Tôi đến nhà hắn một buổi sáng cuối tuần. Bước chân tới trước cổng thấy có rất đông người bên trong, định quay trở về, nhưng chợt nhớ lời Ngọc H là nhà hắn bán Café nên tôi đẩy cổng bước vào.
C thấy tôi vội chạy đến dẫn tôi lên lầu uống Café ăn sáng. Ăn xong hắn kéo hai chiếc ghế dựa, hai cái ly cùng với chai rượu Whisky ra balcon nằm tâm sự.
Hắn rót rượu vào hai l y, đưa cho tôi một và bảo cầm uống.
Trong lúc nói về mình, hắn thú thật với tôi: có đôi lúc hắn cảm thấy yêu Ngọc H, qua hình ảnh một người con gái, mang cùng tên với nàng, mà hắn gặp được ở cửa biển Thuận An trên đường di tản (3/1975.) Hắn không biết đó có phải là “tiếng sét ái tình” mà chỉ một lần nhìn ánh mắt người con gái ấy, dẫu chỉ trong giây phút lúc đang hỗn loạn, mà đôi mắt đó vẫn còn tồn đọng trong tâm hồn hắn cho đến ngày hôm nay! Hắn nói Ngọc H mới nhìn thoáng qua có đôi mắt giống y người ấy nhưng khi chú tâm nhìn kỹ thì tim hắn như vỡ tan - Hai trạng thái vừa yêu vừa ghét đang dày vò hắn…!
Tôi hỏi lý do thì hắn không trả lời, đôi mắt hắn cứ mơ mơ màng màng, như đang hướng về nơi xa xăm nào đó, hoặc đang cố làm sống lại hình ảnh những ngày xưa cũ đã trôi qua.
Hắn chép miệng nói,

“Nghĩ mà thật tức, chỉ mới có vài loạt pháo lẻ tẻ của CS mà lệnh cấp trên bảo tụi tao phải rời phòng tuyến phía Bắc, để Quảng trị dãy chết trong tức tưởi. Dân chúng trong vùng này không còn tin tưởng vào sự bảo bộc của lính TQLC, nói chung là lính VNCH. Hỗn loạn xảy ra, tình nghĩa không còn ràng buộc, đây đó có vài tên lính vô lương tâm cướp phá tài sản của dân chúng, cũng có những tên lính vì giận dữ hay vì một lý do nào đó đã nổ súng tạo cảnh chết chóc: tiếng khóc, tiếng la vang vọng đến trời xanh!”
Hắn ngừng giây lát để nhấp thêm tí rượu rồi nói tiếp,
“Tụi tao, được lệnh kéo ra cửa biển Thuận An có tàu Hải Quân tới đón nhưng trong lúc hỗn loạn, ai cũng cần sống chứ đâu chỉ có những người lính TQLC của tao, nên cả dân, quân, cán chính, và đặc biệt các quân nhân lạc đơn vị đều cố tranh nhau để được lên tàu tạo ra cảnh hỗn loạn: người người chen lấn đạp lên nhau, ngay cả xe thiết giáp cũng tranh với người, đạp dẫm lên bất cứ ai, dù đó là lính hay dân giã, cản bước tiến của họ không thương tiếc, đó là lý do tao mất nàng!”Hắn ngừng một chút rồi nói tiếp trong âm điệu khủng khiếp,
“Trời ơi, cha mẹ nàng bị một chiếc xe lội nước dẫm lên người biến mất, còn nàng tuy tránh được nhưng ngã qụy bị một cơn sóng to nhô lên nhận chìm nàng dưới đáy sâu. Ôi thật hãi hùng!”
Nghe hắn kể tôi hình dung được cảnh quân dân vùng giới tuyến trong những ngày tháng 3/75. Thế là tôi đã có thêm miếng puzzle của Vùng I, để tôi ráp với ba miếng puzzle kia (II, III, IV) để có được bức tranh toàn cảnh đất nước VNCH trong mùa Xuân năm 1975 đáng ghi nhớ.
Tôi nhận thấy một sự xúc động lớn lao đang trào dâng trong hắn, qua việc hắn dùng hai bàn tay úp vào mặt. Cái “không ưa” đã nhường chỗ cho sự “mến thương” hắn trổi dậy trong tôi. Tôi thương hắn thật nhiều, thương cho những nhọc nhằn mà hắn và những quân dân vùng Giới Tuyến đã gánh chịu.Tôi lại nghĩ đến những dân quân ở miền Tây/Nam bộ, trong đó có tôi, mà không thể không cất tiếng nói “Cám Ơn Thượng Đế” đã ban cho sự bình an hiếm có trong những ngày đó!
Tôi không muốn ngăn nguồn xúc động đang trào dâng trong hắn nên tìm cách ra về với vài lý do mà tôi cho là chính đáng, để bảo tồn tình bạn, mới hình thành, giữa tôi và hắn.
Tôi rời nhà C, đến thăm Hoàng Trọng trong cái ý định kiểm chứng những gì C nói với tôi và hy vọng có thêm những dữ liệu về vùng Giới Tuyến thời ấy, nhưng khi đến nơi Trọng lại không có ở nhà nên thay vì tôi nhận được điều mong muốn lại nhận được điều trái ngược lại.
Em gái Trọng, Bích P, tiếp tôi. Lời nói của P làm tôi sửng sốt ngạc nhiên:
“Anh có việc gì mà hôm nay cần gặp anh Trọng?”
Tôi nói,
“Ơ..ơ… bình thường anh vẫn đến và em cũng biết không chỉ vì anh Trọng mà còn mẹ và các chị em, em nữa kia mà! Sao hôm nay em lại hỏi anh như vậy?”
Nàng cười buồn nói,
“Em nghĩ nay anh đã có nguồn vui thì đâu cần đến gia đình này nữa!”
“Sao em biết anh đã có nguồn vui hay có ai nói cho như vậy?” Tôi hỏi nàng
“Em làm sao biết việc của anh, anh Trọng nói cho em biết đó!” Nàng nói.
Tôi lại hỏi lý do nào Trọng biết thì nàng nói rằng hôm tôi đi đâu đó, Trọng có đến nhà anh tôi trong ý định rủ tôi đi nhậu thì anh tôi bảo tôi đi Nha Trang với vợ sắp cưới của tôi, nàng còn nói thêm anh nàng (Trọng) biết rõ về người đi với tôi vì người ấy là bạn học của anh nàng trước đây.
Nàng cuối mặt nhìn xuống đôi tay nàng và nói, “Theo lời anh Trọng nói, em thấy rằng bây giờ anh đâu còn nghĩ đến ai vì người anh mới gặp: có địa vị có tiền bạc hơn em rất nhiều!”
Nghe P nói tôi thật đau lòng và cảm thấy một nỗi buồn xâm kín hồn tôi. Tôi muốn nói một câu gì đó để nàng hiểu tôi, đừng buồn, đừng trách tôi nhưng không biết tại sao tôi vẫn mãi ngồi im. Và nàng, sau khi chấm dứt lời than trách tôi, cũng ngồi im như tôi vậy!
Thời gian trôi qua không biết bao lâu thì Trọng về, có Mạnh (bạn nhậu của tôi và Trọng) đi theo.
P thấy Trọng về nên đứng dậy rút lui, và đồng thời để lại ánh mắt và lời nói làm Tim tôi đau nhói: “Tiền bạc làm mờ hẳn lương tâm!”
“Con P nó nói ai mờ hẳn lương tâm?” Trọng hỏi tôi.
“Ông hỏi em ông chứ tại sao hỏi tôi thật là vô duyên lắm đấy!” Tôi cười đáp.
Trọng cũng cười và nhìn tôi rồi nói, “Ông đi chơi có biết ở nhà ai trông ông không?”
Có tật thì giật mình, tôi nghĩ Trọng đã hiểu tình cảm em gái Trọng dành cho tôi, nên thả một quả bóng thăm dò.
“Ông thử nói cho tôi biết người nào nhớ thương thằng bợm nhậu như ông và tôi?”
“Đây này!” Trọng đưa tay chỉ vào Mạnh.
Tôi thở dài nhẹ nhõm vì tôi cảm thấy không phải đương đầu với Trọng như đối với cô em của Trọng vừa qua, nên tôi cười vui đứng dậy bảo,“Nhớ thì đi nhậu cho hết nhớ,” cũng để rời khỏi căn nhà mà tôi cảm thấy bầu không khí quá choáng ngợp.
Thế là ba chúng tôi kéo nhau ra bãi biển và vô tình nơi đây gặp Ngô. Chúng tôi, bốn người vào tiệc để hiện tại, quá khứ, và tương lai cuốn trôi theo dòng sóng bập bềnh bên ngoài biển cả!
Tôi trở lại làm việc sau hai ngày cuối tuần được nghỉ. Hằng Nga (người duy nhất trong nhóm nữ công nhân HTX còn cho tôi ít nhiều cảm tình sau khi nghe tin từ anh tôi: tôi sắp cưới vợ,) đến gặp tôi và khuyên tôi nên có đôi lời với Ngọc H vì cô thấy H buồn và trách tôi nhiều!
Tôi hỏi Nga, “H trách tôi gì Nga có biết?” thì Nga nói rằng tôi không có trái Tim!
Lời Nga cho tôi nhiều đêm suy nghĩ, rồi cuối cùng tôi viết tặng Ngọc H mấy vần thơ, chủ yếu để nói hết những gì tôi suy nghĩ và nhờ Nga chuyển giao:


Thuở xưa ấy, anh ví em làn khói trắng,
Mảnh trăng trong và mặt nước Hồ Thu.
Còn tôi là cơn lốc, mây mù,
Là cụi đá bên bờ lau sậy!

Tôi không muốn tơ lòng em vươn dậy,
Bám lấy một cuộc tình không dấu tương lai.
Dẫu hằng đêm tôi thao thức thở dài,
Bỡi mâu thuẩn giữa con Tim và lý trí.

Tôi thường mượn men say:
Để thấy lòng mình không ủy mị,
Để cho hồn bay thẳng tận không trung,
Để thoát ra khỏi đôi mắt mơ màng,
Đôi mắt nhốt hồn tôi năm tháng!

Trong vị ngọt có xen vào đôi chút đắng!
Đó vị tình yêu em có biết hay không?
Hãy quên đi một “Giấc Mộng Hồng”
Đôi ta chỉ là “Bóng & Hình” đuổi bắt.

Hãy xem nhau là giòng nước mát,
Là bóng cây khi hạnh phúc trở trời,
Là cồn hoang là ốc đảo xa xôi
Khi “Đời” quất ta,
bằng những cơn cát bụi!


Sau khi trao cho Nga bài thơ nhờ chuyển, tôi cố tránh gặp Ngọc H trong những lúc làm việc tại HTX Dệt, nhưng nào có tránh được đâu!
Và một hôm tôi đang đi ngang qua khu vực dệt “Màn” thì Ngọc H gọi ngược tôi lại:
“Anh P đứng lại cho em nói cái này!” Rồi nàng tiến đến bên tôi nói,
“Em đã nhận được bài thơ anh. Em hiểu anh, tại sao anh mặc cảm quá vậy? Giả sử bây giờ em muốn làm “bờ lau sậy” để được gần “cụi đá” thì anh tính sao?”
Thú thật, lúc đó tôi cảm thấy cứng họng chưa biết lựa lời gì để nói, thì một vài cô thợ dệt khác đến chúc mừng tôi có “vợ sắp cưới.” (Tôi biết họ đang mỉa mai tôi!)
Tôi bàng hoàng hỏi, “Ai nói với các cô tôi có vợ sắp cưới?”
Các cô lại cười ầm lên và đồng đưa tay chỉ vào mặt tôi,
“Đừng chối cãi nữa, anh Ba ông nói chứ ai!” rồi các cô ấy kéo Ngọc H đi và đồng thời miệng bảo nàng đừng tin vào tôi nữa!
Tôi tần ngần đứng lặng, một sự ê chề trổi dậy trong tôi, nhưng sau cái cảm giác ê chề đó tôi cũng mừng thầm là anh tôi đã đẩy tôi ra xa vùng đất không chân đầy nguy hiểm.



III. Dựng lại căn nhà xưa



Qua sự trải nghiệm của đời sống, người ta thường cho rằng tuổi từ 30 trở lên mới gọi là trưởng thành, mới có ý thức đúng đắn về cuộc sống. Nhưng trước khi bước vào đấu trường của đời sống, con người cũng phải vượt qua hai cái mốc thời gian đó là cái mốc tuổi 31 và tuổi 33 nên mới có câu “Ba mươi mốt (31) bước qua, ba mươi ba (33) bước lại,” ví như “cái truông Nhà Hồ, cái phá Tam Giang!” trong kho tàng Văn Chương đã có nói.
Năm ấy (1982,) tôi đã bước qua cái tuổi 33, nghĩa là đã vượt qua hai ngưỡng cửa thử thách mà nhân gian đã từng khẳng định. Nói một cách Văn Chương, bóng bẩy, tình tứ hơn là tôi đã vượt qua được “cái truông Nhà Hồ, cái phá Tam Giang!” để đến với người yêu, nên trong trí tôi manh nha ý nghĩ: đó là thời điểm thuận lợi cho tôi “Làm lại cuộc đời!”
Thay vì, mỗi cuối tuần tìm đến bạn bè - uống café, uống rượu, đánh billard, đánh cờ tướng hoặc ngồi tán dóc - tôi tìm về Sơn hòa.
Tôi rất vui vì Ch luôn cho tôi sự đón tiếp nồng hậu, không những thế mỗi lần quay lại Tuy hòa Ch cũng cho ít tiền tiêu xài. Tôi cảm ơn nàng rất nhiều nên nhủ lòng không khơi lại đống tro tàn của quá khứ có thể làm đôi mắt nàng cay, do đó trong những lúc bên nhau tôi không đề cập đến “Cái Tôi” như những bài ca trước kia tôi thích hát vì nó nói lên “Cái Tôi” trong đó, ví như:
- …hận thù đó cất cao trong lòng người, hận thù đó khắc sâu trong lòng tôi.. (Cái hào hùng kiên quyết,)
- …anh trở về trên đôi nạng gỗ …ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen, cố quên đi một lần trăn trối…! (Than van nghịch cảnh,)
- …anh chẳng còn chi ngoài con tim héo, em ơi…! (Bi quan yếm thế.)
mà chỉ nói lên những cảm nghĩ về việc nàng chợt đến với tôi.


Tình yêu em như sông biển rộng,
Tình yêu em như lúa ngoài đồng,
Tình yêu em tát cạn biển Đông…
(Tình em nghĩa rộng sông dài -Thông Đạt)


làm nàng vui nhiều, nàng đưa tôi về giới thiệu với cha mẹ nàng.
Từ đó mọi người trong xóm biết tôi và lan rộng khắp cả thị trấn, tới tai hai tên CS ngắm nghé nàng.Và một hôm, tôi và nàng đang tay trong tay dìu nhau đi quán, thì có hai tên cỡi xe đạp theo sau, vượt qua mặt chúng tôi rồi ngoáy đầu nhìn lại trong vẻ mặt không có thiện cảm. Tôi hỏi nàng ai đó thì nàng cười trả lời: tên trưởng Công An và tên phó Bệnh viện!
Tôi áy náy hỏi nàng: “Có sao không?”
Thì nàng bình thản nói, “Có sao đâu và đây cũng là dịp tốt để hai tên ấy không quấy rầy em nữa.”
Tôi làm vẻ mặt nghiêm trọng nói, “Theo anh nghĩ, sự việc hai tên cùng đi chung như thế này, không phải không có lý do, mà lý do có thể là để tóm anh cho dễ: một tên lấy còng, còng tay còn một tên lấy ống chích, chích cho anh hết cựa quậy, để chúng mặc tình ve vãn em mà không sợ ai quấy phá!”
Nàng cười nói, “Lại tưởng tượng quá mức! Nếu anh tin em thì đừng nên nói vậy.”
Thấy nàng không vui với câu nói của tôi vừa rồi nên tạo một nụ cười giã lã nói,
“Anh nói đùa cho vui vậy thôi, nhưng anh không biết liệu việc này có ảnh hưởng gì đến công việc làm của em hiện tại, ví như tụi nó có thể cho em nghỉ việc?”
Nàng nghiêm nghị nói,
“Không, em không tin rằng họ dễ dàng cho em nghỉ việc, không phải vì họ mến thương em nhưng vì tay nghề như em lúc này rất ít người có được. Họ cần em không chỉ có lợi cho dân chúng trong huyện này mà là chỗ dựa sức khỏe cho vợ con của họ. Nhưng ví như có bị sa thải, thì em cũng không sợ vì em có tay nghề, dân chúng trong vùng này tin tưởng em, em có thể làm tư để sống– Anh yên tâm!”
Lời nàng nói cho tôi hiểu nàng hơn nữa, một sự thương yêu lớn mạnh trong tôi. Tôi vui mừng sắp có người bạn đời hiểu biết! Và lại cám ơn những nguyên nhân đẫn dắt tôi đến gặp nàng. Tôi không ngần ngại nói ra những điều suy nghĩ, nàng cũng đồng tình gật đầu. Cái gật đầu nói lên tinh thần cộng hiệp, “đồng vợ đồng chồng thì ngại gì không tát cạn biển Đông!”
Chúng tôi luôn khắn khít bên nhau kể từ đó, dẫn đến sự lưu tâm của cha mẹ đôi bên.
Và một hôm, anh tôi gợi ý cho tôi là tôi nên lấy vợ! Tôi cười nói với anh rằng liệu ai trên cõi đời này can đảm chịu lấy thằng tôi?
Anh tôi nói,
“Em thì lúc nào cũng mặc cảm, vì thời cuộc chứ vì em đâu! Hiện tại có khối người như em chứ đâu phải mình em mà em mang mặc cảm?  Theo anh thấy, hiện tại em chơi thân với ba người con gái, chỉ có Diệp Ch là được nhất vì Ch và em có quá trình quen biết dài lâu, không những Ch chỉ hiểu em mà còn hiểu rõ gia đình mình, Ch có trình độ học vấn cao hơn hai cô kia, có tay nghề vững chắc có thể bảo bộc cuộc sống gia đình trong lúc em chưa có việc làm ổn đinh,” ngừng một chút anh nói tiếp,
“Tuần rồi anh và má có ghé nhà bác Năm (cha mẹ Ch) thăm chơi và đồng thời thăm dò ý kiến của hai ông bà thì ổng bã than phiền Ch quá kén chọn, cho đến giờ này mà vẫn chưa chịu lấy chồng để ổng bã hoàn tất công việc dựng vợ gả chồng cho con cái vì vậy nếu có ai muốn cưới Ch, ổng bã sẽ không đòi hỏi gì chỉ miễn sao Ch vừa lòng ưng thuận là được.”
“Nói sao mà dễ quá! Con ổng bã ngon lành chẳng lẽ cho không?” Tôi nói.
 “Chúng ta vẫn phải có lễ vật chứ, nhưng lễ vật ấy là do ta chứ họ không bắt buộc. Anh và má đã thảo luận: ba chỉ vàng và một trăm ngàn cho việc cưới hỏi. Nếu em đồng ý, anh và má sẽ tiến hành lễ hỏi trong tháng này. Anh thực sự muốn giúp em và mong em cho anh có cái quyền ‘Quyền Huynh Thế Phụ’” Anh tôi nói.
Tôi thấy sự sắp xếp của anh tạm ổn nên nói,
‘Thôi được, anh cố gắng giúp em đi! Mai mốt này hai vợ chồng em làm ăn ổn định, hai đứa em sẽ không quên ơn anh, những thứ mà anh chi cho việc cưới hỏi, chúng em sẽ xem đó như cái vốn ban đầu anh giúp, nên chúng em hứa sẽ gửi lại cho anh để anh lo việc dựng vợ gả chồng cho các cháu, con anh sau này,” ngừng một chút tôi hỏi anh tiếp,
“À này, khi cưới xong, Ch sẽ về đây sống với em và em vẫn đi làm cho HTX?”
Anh mắng tôi,
“Lại nói bậy!” Rồi anh đổi cách xưng hô với tôi,”Ông về Sơn Hòa lo dọn dẹp nhà cửa, giặt quần áo, rửa chén bát để vợ ông rảnh, có thì giờ đi làm tư kiếm tiền về nuôi ông, nhưng tôi khuyên ông cố gắng học một cái nghề gì đó để có tiền uống café không đến nỗi ngửa tay xin vợ thì mốc mặt Sĩ Quan Đà Lạt nghe không!”
Tôi cười hì hì…và nói tôi xin ghi nhớ lời anh dặn. Và anh tôi bảo tôi có thể đi chơi đâu đó thì đi, kẻo mai này có vợ thì như có “gông đeo cổ!”
Ngày anh và mẹ tôi mang trà rượu đến nhà cha mẹ Ch tôi không phải đi theo nên vẫn đến HTX làm việc như thường lệ. C đến vỗ vai tôi và chúc mừng tôi có vợ. Tôi trố mắt hỏi ai cho hắn biết, thì hắn bảo chuyện gì ở Tuy hòa này mà hắn không biết hỏi mất công! Rồi hắn cười và nói tiếp,
“Nên lấy người thương mình, hơn là lấy người mình thương, em có biết không?!” Câu nói bâng quơ của hắn cho tôi nhiều suy nghĩ.
Một tuần sau lễ hỏi, Ch xuống gặp tôi để bàn thảo về ngày cưới. Nàng hỏi tôi có cần nhờ ai chọn ngày cưới hay không, thì tôi hỏi nàng đời sống của chúng tôi sao phải nhờ người khác định đoạt, ngày tháng nào cũng là ngày tháng của Đất Trời?!
Nàng nhìn tôi, tỏ vẻ ái ngại nàng nói,
“Em biết anh thờ Chúa nên không xem việc coi ngày giờ là quan trọng, nhưng cha mẹ em thờ Phật nên rất coi trọng việc này!”
Tôi trấn an nàng bằng cách nói, ngày cưới hỏi của người Tây phương đều diễn ra các ngày nghỉ cuối tuần, làm tâm tư nàng dường như lắng dịu nhưng nàng hỏi tôi làm cách nào cho cha mẹ nàng có thể an tâm.
“Hãy nói là chúng ta đã nhờ một người thông rành chữ Hán ở Tuy Hòa lật sách tử vi cũng như sách chỉ ngày ‘Hoàng Đạo’trong năm, chọn ngày cưới cho mình rồi.” tôi nói.
“Lỡ cha mẹ em không tin đi nhờ người khác xem thì sao?” nàng lại hỏi.
Tôi cười đáp, “Em cứ nói với cha mẹ rằng: không thể tin vào khả năng chữ Hán của các ông Thầy ở Sơn hòa, bằng chứng chữ ‘công cúc dục’ trên tấm liễng thờ nhà ông Ba Tịnh (cạnh nhà em,) ông thầy nào đó viết chữ Cúc là hoa Cúc thay vì phải viết chữ Cúc là Nuôi-dưỡng.”
“Tại sao anh biết điều này? Chẳng lẽ anh đọc được chữ Hán?” nàng hỏi.
“Đâu có biết! Hồi ba anh còn sống chỉ và phân tích,” tôi đáp.
Nàng cười nói, “Thế mà em tưởng anh rành chữ Hán nể quá trời!”
“Vậy nếu anh rành chữ hán có G thì em nể không?!” tôi cười tiếp lời nàng.
Nàng nghiêm mặt chỉnh tôi, “Đừng lợi dụng nước đục thả câu đó nhé!”
Và nói tiếp,“Lễ cưới sắp tới chúng ta cũng nên để sau sáu tháng kể từ hôm nay…”
Tôi vội xen vào hỏi, “Để chi vậy?”
Thì nàng trả lời, “Để tránh tiếng dị nghị cho rằng em đã mang thai nên mới phải cưới gấp!”
“Thì có sao đâu!” tôi nói.
Nàng “h..ứ…” một tiếng kéo dài và “quýt”  mắt, tỏ vẻ không hài lòng câu nói đùa giỡn của tôi.
Tôi chợt nhớ điều quan trọng cho việc cưới hỏi không là ngày tháng mà là việc nàng phải cải đạo, nghĩa là phải theo đạo của tôi mới được làm phép Hôn Phối, nên tôi nói với nàng, “Có việc này quan trọng mà từ lâu anh quên nói là em phải theo đạo của anh thì Cha sở mới chịu làm phép Hôn Phối cho tụi mình; anh không biết chuyện này có trở ngại gì không?”
“Không trở ngại gì đối với em, chỉ sợ cha mẹ không hiểu - buồn.” Nàng nói.
Tôi bảo nàng tôi sẽ nói với Cha sở để nàng học đạo từ hôm nay và đồng thời cũng không nên cho cha mẹ nàng biết làm gì, nàng ưng thuận.
Thời gian thắm thoát như thoi đưa, sáu tháng qua nhanh. Và ngày cưới đã tới, Ch lại xuống Tuy Hòa bảo tôi xin nghỉ trước một tuần để về dọn dẹp trang trí nhà cửa.
Ngày cưới quan khách đến thật đông, phần lớn là bạn học ngày xưa và những bạn làm trong Bệnh viện với nàng; phía tôi tuy chỉ có mẹ và anh chị em tôi mà thôi nhưng tôi rất vui và rất hảnh diện vì có C đại diện cho HTX đến chung vui.
Những người đến dự tiệc ai cũng rất hài lòng tỏ vẻ ngưỡng mộ người trang trí. Khi biết chính tôi họ đến bắt tay và nhờ tôi phụ trách khâu trang trí cho những lễ lộc của cơ quan, tiệc cưới nhà họ sắp tới. Tôi mừng thầm bỡi biết rằng tôi sắp có việc làm.
Cưới xong, tôi ở lại Sơn Hòa thêm một tuần để gặp Cha Sở xin tiến hành lễ Hôn Phối, đồng thời để hoàn tất thủ tục ba ngày bên tôi và ba ngày bên vợ tôi.
Lễ Hôn Phối được cử hành một ngày trước, ngày tôi trở lại Tuy Hòa tại nhà thờTịnh Sơn.
Phép Hôn Phối xong, mọi người bước ra ngoài sân trước nhà thờ nói chuyện, Cha Nguyễn Cao Hiên tuyên bố trước mặt mọi người một câu  nói, đúng hơn là lời tiên đoán,
“Theo tôi thấy, bà Ch sẽ nhận ra con đường Chúa vạch trước ông P cho xem, dẫu rằng bà Ch mới nhận diện dung nhan của Chúa qua cây Thập Tự Giá ngày hôm nay!”
Lời cha Hiên tiên đoán thật đúng! Ngày nay, vợ tôi làm việc volunteer cộng tác với nhóm dạy Bible, nàng phụ trách vai trò thông dịch cho những ai muốn học Thánh kinh mà tiếng Anh giới hạn.
Tôi về Tuy Hòa sau khi hoàn tất lễ Hôn Phối, ngày ngày đến Tổ Hợp Dệt làm việc như thường lệ, nhưng mỗi cuối tuần tôi phải trở về Sơn Hòa sống với vợ tôi. Tuần này ở nhà mẹ tôi, tuần tới ở nhà cha mẹ vợ tôi, cứ thế kéo dài ba tháng thì cha mẹ vợ tôi cho vợ chồng tôi căn nhà nhỏ, vách đất, mái “tôle” bỏ trống ở phố cũ. Chính thời điểm này Ch bảo tôi xin nghỉ việc HTX Dệt về dọn dẹp để ở, đồng thời coi quản nhà cửa để nàng có thì giờ đi làm tư kiếm thêm thu nhập.
Buổi sáng tôi đến từ giã bạn bè nơi Tổ Hợp, ai cũng tỏ ra bịn rịn phải xa tôi. Riêng ông Trưởng Khâu tôi đến bắt tay chúc mừng và bảo tôi một tháng sau trở lại, đến nhà ông để trang trí tiệc cưới cho người em vợ, tôi gật đầu chấp nhận.
Một tháng trôi qua, tôi về Tuy Hòa theo lời ông trưởng Khâu tôi dặn, gặp ông tại Tổ Hợp Dệt, ông mời tôi về nhà ăn cơm tối, trò chuyện với vợ chồng ông. Trong bữa cơm, ông giới thiệu vợ ông, chị Phương, chuyên nghề mua bán thuốc tây ở chợ Tuy Hòa. Chị biết vợ tôi đang làm việc trong ngành y nên chị đã mách cho tôi một nghề để kiếm sống, đó là nghề buôn lậu thuốc tây.
“Buôn lậu thuốc tây là nghề thật nguy hiểm, tôi không dám đâu chị ơi, đừng xúi tôi, một lần nữa, vào tù bỏ vợ mới cưới!” Tôi nói.
Chị nhìn tôi cười và bảo rằng tôi vốn là lính tác chiến sao quá nhác gan! Chị nói, “Có gì đâu mà sợ, vợ anh vốn có uy tín thì dễ dàng mua thuốc giá chính thức của nhà nước, ở cửa hàng Dược và ở đội Phong Trào, rồi đem về đây bán với giá chợ trời, một lời một đó.”
Về nhà thuật chuyện với vợ tôi, nàng có vẻ đăm chiêu suy nghĩ, nhưng cuối cùng cũng đem bán một chỉ vàng mua thuốc tây và dụng cụ y khoa để tôi đem về bán cho chị Phương. Tôi cảm kích vợ tôi thật nhiều, đem lời tâm sự với thằng em rể, nên nó cũng bảo vợ nó bán một chỉ vàng để theo tôi đi buôn.
Đúng như lời chị Phương nói, một lời một! Hai anh em tôi về khoe với vợ và thật vui mừng là đã tìm ra kế sinh nhai!
Vốn bản tính háo ăn, lần này hai anh em tôi dùng hết tiền lời và vốn mua số hàng gấp đôi: thuốc tây (từ cửa hàng Dược,) thuốc lá (từ cửa hàng ăn uống,) sa nhân (từ các nhóm khai thác Trầm hay Dân tộc miền cao.)
Vì lượng hàng hóa quá nhiều nên chúng tôi không thể dùng phương tiện thông thường là xe chở khách, mà chúng tôi phải dùng phương tiện cá nhân là chiếc xe đạp để dễ dàng băng qua trạm thuế vụ Suối Cau, đóng ở đầu đốc Đá Đề. Lợi dụng đem trăng, hai anh em chúng tôi dắt xe cùng hàng hóa băng rừng, vượt qua trạm gác. Không khó nhọc lắm do đoạn đường rừng được soi sáng bỡi ánh trăng.
Qua khỏi trạm gác độ chừng một cây số, chúng tôi dẫn xe ra đường lộ trong trạng thái vui mừng vì trong đầu óc chúng tôi bốn chỉ vàng tung tăng múa nhảy. Hành khúc ca “Con Đường Vui” phát ra từ cửa miệng hai anh em chúng tôi, “một, hai, ba, bốn – đường trường xa con chó nó tha con mèo,...”
Chúng tôi đang phóng xe vù vù trên đường lộ thì nghe tiếng hô “Đứng lại” của nhóm du kích bên đường. Tôi thấy chúng là những thanh niên tuổi chừng mười lăm mười sáu nên khinh thường, vượt qua mặt chúng chạy luôn (không ngờ ông em rể tôi có cột con thỏ sau đít nên ngừng lại để chúng bắt!) Tôi chạy qua khỏi cầu Đồng Cam, chia ranh Sơn Hòa – Tuy hòa huyện, kéo xe vào rừng đứng đợi. Một lát sau, tôi nghe ván lót cầu kêu lên ầm ầm, ngỡ đó là thằng em rể tôi nên cất tiếng gọi,
“Tố (tên thằng em rể của tôi) ơi, anh ở trong bụi chờ em đây này!”
Kêu xong, tôi dắt xe định ra đường lộ thì đám thanh niên xông vào trói tay tôi lại và đưa tôi về trụ sở Ủy Ban. Thế là chuyến đó hai anh em chúng tôi mất cả lời lẫn vốn, tôi u buồn nhưng vợ tôi vẫn cứ nhìn tôi tủn tỉm cười!
Sau thất bại đó tôi đổi nghề theo các bạn đi đào vàng. Trước khi nói về công việc đi đào vàng của tôi, cũng xin nói một chút hiểu biết của tôi về lãnh vực này:

- Vàng có rải rác trên những vùng có địa chấn, ví như các vùng có nhiều đồi núi.Và trong thời gian tôi tham gia vào công việc này, tôi thấy người ta lấy vàng ở sông, suối, trên mặt đất, trong đá.
- Phong trào đào vàng phát sinh từ các chú bộ đội phục viên, về từ chiến trường Cambodia. Trong thời gian sống ở Miên họ thấy dân Miên đào vàng nên khi về VN họ rủ nhau đi đào vàng, tạo nên phong trào, lan rộng cả nước và cho đến nay vẫn còn tiếp tục.
- Dụng cụ đào vàng thường là: cuốc chim, xẽng, xà beng, búa, cái chạm để chẻ đá.Và vật dụng chính để lấy vàng là: sô múc nước, mâm, máng, thủy ngân.



Cách lấy vàng:


Vàng lấy từ lòng sông, lòng suối, hoặc trên mặt đất người ta dùng xẽng múc đổ trực tiếp lên máng (Máng được kê độ dốc từ 20 đến 30 độ, tùy theo lượng đất đá nhiều hay ít, nhiều thì độ dốc cao hơn,) múc nước xối lên máng cho rác rến, cát, đất, đá trôi đi bớt; phần còn đọng trên máng đem đổ vào mâm và thêm nước vào, rồi dùng hai tay bưng mâm lên lắc xoay vòng tròn, tạo lực ly tâm để đẩy các thứ có tỷ trọng nhẹ hơn vàng và kim loại (đất đá còn đọng lại) ra khỏi mâm.
Đem thủy ngân đổ vào mâm để thủy ngân ôm lấy vàng và các thứ có tỷ trọng lớn như các kim loại; vớt cục thủy ngân ra đem đốt bằng mỏ khò vàng; thủy ngân và các kim loại chịu độ nóng yếu hơn vàng sẽ tan ra biến mất, chỉ còn vàng và cũng có thể còn sót lại vài thứ kim loại chịu độ nóng cao, nhưng rất hiếm.
(Với vàng nằm trong đá thì phải xay đá thành bột rồi mới đổ bột lên máng và làm những bước kế như trên.)
Vấn đề lập toán đi đào vàng:
Lấy vàng ở sông, suối, trên đất chỉ cần 3 người là đủ, nhưng lấy vàng ở trong đá hoặc ở dưới lòng đất sâu thì cần 6 người đến 10 người.
Vấn đề chọn người là yếu tố quan trọng: cần có đủ sức khỏe để làm việc, có can đảm, có tinh thần tương thân tương trợ, sống chết có nhau (trong trường hợp bị băng đảng cướp vàng đến quấy phá,) biết uống rượu, biết vui ca giải trí với anh em v.v..
Tôi tuy không anh hùng gan dạ gì, nhưng được thấm nhuần tinh thần sống chết có nhau trong thời chiến và tinh thần chịu đựng bền bĩ qua những tháng năm cải tạo. Thêm vào đó có chút ít hiểu biết về thuốc men, cấp cứu do vợ truyền dạy như: biết làm CPR (Cardiopulmonary Resuscitation,) băng bó, cầm máu vết thương v.v… đặc biệt có tính ham vui, hay làm thơ con cóc chọc cười thiên hạ, nên được anh em thương cho nhập toán, ví như bài thơ dưới đây làm các bạn tôi mủn mỉm cười và các bà vợ thẹn thùng đỏ mặt:



Bây giờ anh ở tận Bờ-Ra-Hai 
Ngày ngày đập đá, tối lai rai
Mong sao sức khỏe như ngày đến
Ngày về anh sẽ tặng “Một cây hai!”*
(*trọn vẹn bộ đồ lòng của anh)



Chuyến vui nhất có lẽ là chuyến đào vàng ở Núi Mò-O, nằm phía Nam và cách thị trấn Củng sơn chừng hai mươi cây số.Toán tôi có 5 người, trong số này có một cô gái nên tôi để cô bé phụ trách việc nấu nước uống. Cô đi gom củi khô trong rừng về đun bếp, khi cô đốt củi tôi ngửi thấy mùi hương thơm ngào ngạt, tôi nghĩ chắc có cây Trầm đâu đây nên bảo cô chỉ cho tôi chỗ nhặt được cành khô. Đến nơi thấy cây rớt cành khô có một cái lõi màu đem mun, tôi nghĩ rằng đó là Trầm hương nên ghé vào tai cô bé nói cho cô biết. Cô ta xanh mặt nói với tôi:
 
“Đúng rồi, đêm hồi hôm cháu nằm mơ thấy lượm được thật nhiều tiền! Chú nên cẩn thận đừng cho ai biết, nếu để họ biết họ sẽ giết chú cháu mình để cướp Trầm. Cháu đề nghị hai chú cháu mình báo bịnh đi về, rồi sáng ngày hôm sau chú, cháu mình trở lại lấy không muộn.”
Tôi lại nói, “Cháu quá ốm yếu thì làm sao giúp chú hạ cây xuống rồi vác Trầm về cho nổi, ngay cả việc cạo hết lớp vỏ bên ngoài, chú cháu mình cũng không khiên nổi!”
Cô bé nói tiếp, “Không sao, cháu sẽ bảo thằng em cháu cùng đi với chúng ta.”
Tôi nói, “Thế thì được.”
Về tới nhà tôi nói cho vợ tôi biết chuyện này thì nàng cười nói, “Phải không đó ông? Làm gì có Trầm hương trong khu vực đó, chỉ có Trầm ngâm thì đúng hơn!”
Tuy nói thế, vợ tôi cũng để tôi trở lại núi “Mò-O” ngày hôm sau.
Khi ba chúng tôi đến nơi thì cô bé bảo tôi và em cô đứng xa ra phía sau, rồi cô lấy một tấm vải trải ra, đặt nhan đèn trái cây rồi quỳ gối khấn vái vài câu gì tôi không nghe. Khi khấn vái xong, cô bảo tôi và em cô đến phía sau cô, rồi ra lệnh:
“Lạy, lạy…chú năm (tôi), Đại Hoa (tên em cô bé,) lạy lạy!”
Thấy cô cúi đầu chổng đít lạy, tức cười không chịu nổi nên tôi bụm miệng đứng cười, Đại Hoa thấy vậy cũng cười theo. Cô lạy một hồi quay lại thì không thấy tôi và em cô quỳ lạy, cô nhăn mặt, lên tiếng trách cứ hai chúng tôi. Rồi cô dõng dạt ra lệnh:
“Cháu làm nghi lễ xong rồi, bây giờ chú và Đại Hoa có thể hạ cây xuống, gọt bỏ vỏ bên ngoài để khiên về cho nhẹ, cháu ra bìa rừng canh chừng có người đến. Làm ngay đi.”
Tôi và Đại Hoa hì hục cả tiếng đồng hồ mới xong, khiên cây về trong đêm để tránh sự dòm ngó mọi người. Và sáng ngày hôm sau, vợ tôi bảo tôi vào Vạn Giả mời ông anh rể của nàng ra để xem khúc gỗ quý tôi mang về có phải là Trầm Hương? Kết quả xét nghiệm của anh: Nó không là “Trầm Hương” mà là “Trầm Ngâm” chính hiệu!
(Và sau này, theo Thầy học Đông Y, tôi mới biết nó là cây “Ô-Dước,” do đó nó cũng không vô bổ vì nó là một cây thuốc quý (tính ôn, bình, thuận khí) dù nó không là vị “Quân” nhưng nó là vị “Thần” trong các phương thuốc trị các chứng bệnh về tiêu hóa, bệnh cước khí xung tâm, và bệnh sốt rét v.v)
Lại thêm một thất bại, tôi vẫn chưa nản chí vì tôi thấy có nhiều người trúng Trầm, Vàng lên đến cả trăm cây vàng! Thất bại chuyến này tôi nài xin vợ cho tôi đi thêm chuyến nữa và cứ kế tiếp kéo dài trên cả một năm. Sở dĩ tôi bền gan đi mãi là ngoài việc hy vọng trúng vàng còn để có dịp dò tìm những vùng có cây gió, vì chồng chị nàng có lần bảo tôi Trầm và Kỳ đều xuất từ lõi cây gió sống lâu năm và cây gió thường có ở những khu rừng lộng gió. Thế nhưng “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên” nên suốt một năm trèo đèo lặng suối tôi vẫn không mang về cho vợ một chỉ vàng nào, chỉ có da tôi biến màu vàng thì có (bệnh sốt rét rừng làm da tôi vàng.)
Chuyến buồn nhất cũng là chuyến đào vàng cuối cùng của tôi, mạch vàng ăn sâu dưới đất gần đến 15 mét, chúng tôi phải theo, phải đào hầm rộng sâu dưới mặt đất để làm việc. Dù trữ lượng vàng có lớn nhưng chúng tôi cũng phải chừa ra vài chỗ để làm trụ, để chống đỡ sức nặng của khối đất bên trên. Thế nhưng em Phước (em là bộ đội phục viên, ở cạnh nhà tôi,) đến phiên xuống lấy, không biết tại sao cả khối đất bên trên sụp xuống chôn sống em!
Thế là tuy ngày đó không mưa, nhưng mặt mày chúng tôi ai cũng đẫm ướt. Xác em được phủ bằng một tấm nylon màu trắng, mang theo để che mưa, giờ đây dùng để che thân xác em. Chúng tôi mang xác em về trao lại cho cha mẹ em cùng lọ đựng vàng kiếm được, gọi là chút quà đưa tiễn em trong ngày vĩnh viễn xa nhau.


(c) Sửa xe đạp


Cảnh tượng làm vàng quá thê thảm, vợ tôi khuyên tôi nên bỏ nghề này vì nàng không muốn mất tôi.
Tôi nghe lời nàng ở nhà, nhưng chẳng có việc gì để làm nên đi lang thang tìm bạn bè làm quen. Và một hôm, trong lúc trà dư tửu hậu, một vài bạn nhậu khuyên tôi nên theo họ lên những buôn dân tộc (người Thượng) sửa xe đạp kiếm sống.
“Trời đất, tôi đâu biết tiếng Thượng và cũng chưa bao giờ biết sửa xe đạp mà bảo tôi theo các ông, tiền mất tật mang về nhà vợ đuổi, đừng xúi dại mấy ông nội!” tôi nói.
“Dễ ợt, bảo cha Cang - cựu Thiếu úy ĐPQ, đang hành nghề sửa xe đạp - chỉ cho cách cân niềng xe là xong. Còn ngôn ngữ hả? Ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay, khà khà khà…” họ cười trả lời.
Thế là tôi đổi nghề, sắm sửa phụ tùng xe đạp cùng em rể tôi lên những bản Thượng vá sửa xe đạp cho dân cư ở tận miền xa. Làm nghề này cũng rất vui vì có những đêm trăng đàn ca xướng hát cùng các Cô &Thầy miền xuôi về đây dạy, có những cô nàng đến từ vùng Cát Trắng rất dễ thương:


Em là cô gíao miền xuôi - nơi xứ Thượng,
Tôi là chiến binh - bại trận về đây.
Hoa “Mằng Lăng,” tím như màu sim tím
Em cài mái tóc xinh, lòng tôi bỗng mơ mây…!


Việc tôi làm những vần thơ tặng các cô dạy học trò người Thượng vợ tôi đều biết, nhưng đó không là nguyên nhân nàng bảo tôi phải từ bỏ nghề này, mà nguyên nhân chính là tay chân, mặt mày tôi bị rách trầy thê thảm bởi rượt theo đuổi bắt một con heo.
Đây là chuyến đi anh em tôi gọi là trúng mánh, chỉ thay một vành xe mà lấy cả một con heo nặng trên ba chục ký.
Chúng tôi mừng, vội ra về trong đêm vì sợ ngày mai tên dân đen (Thượng) đổi ý.
Tánh nào tật ấy, có con heo sau “ba-ga” mà vẫn vừa đạp vừa ca hát lung tung. Đến một con dốc cũng không giảm tốc, tông vào một tảng đá to làm người và heo lộn cù mèo. Heo tuột ra khỏi rọ chạy vào rừng, thế là hai anh em chúng tôi rượt theo đuổi bắt, heo chui vào bụi gai chúng tôi cũng phải chui theo. Heo và người vật nhau trong bụi gai rậm, đó là lý do mặt mày hai anh em tôi máu me be bét!
Mặc dù bà chủ (vợ tôi) thừa nhận sự cố gắng làm việc của tôi, nhưng không thấy việc gì tôi đã làm đem đến kết quả mong muốn, với lại tôi thường vắng nhà không ai giúp nàng trong công việc lặt vặt, nhất là lúc đó chúng tôi sắp có con, nên nàng bảo tôi nên vào Tổ Đông y làm việc, để ngày ngày được gần nhà giúp đỡ nàng trong những ngày bận rộn sắp tới.
Nghe nàng nói cũng thật chí tình, muốn ở nhà để giúp, nhưng nghĩ đến đồng lương Tổ Đông y, tháng có tháng không và nhất là hướng tương lai khó mà phát triển về mặt kinh tế.
Tôi thở dài nói,
“Đành rằng qua một năm anh chẳng kiếm được gì đáng kể, nhưng anh vẫn thấy có cơ trúng mánh, tiềm lực kinh tế cao. Vả lại, anh không thích sống ở đây vì ngày ngày bọn Công An luôn luôn rình rập dòm ngó!”
Nàng nghiêm nghị nói, “Vào làm Đông y mới là có tiềm lực kinh tế, vì anh có cơ hội trở thành Đông y sĩ; khi anh nắm được bằng cấp này thì ta mở quầy bán thuốc Đông y (Bắc & Nam,) anh vừa làm thầy vừa bán thuốc và lợi dụng lúc vắng khách anh có thể làm những việc khác như vẽ bảng hiệu cho các cửa tiệm, cắt hình trang trí tiệc tùng, đám cưới, tối mở lớp dạy kèm tiếng Anh v.v… Nếu anh đồng ý, em sẽ tạo điều kiện cho anh, anh đừng lo,” ngừng giây phút rồi nàng nói tiếp, “còn nói về cách sống và lối sống, khi anh thân thiện với người ta, người ta sẽ thân thiện với anh.”
Lời nàng thức tỉnh tôi, nên tôi chịu làm theo kế hoạch của nàng.
Tôi vào Đông y giữ phần hành Kế Hoạch. Việc làm ngày đầu của tôi là theo toán “Sưu Tầm” lên núi tìm dược liệu.
Để tìm được thuốc chúng tôi phải đến những vùng cao, thường là những nơi gần bản Thượng. Đường khúc khỉu quanh co, dốc đá cheo leo, khó nhọc trong việc leo trèo tìm kiếm cho những anh em có nhiệm vụ thu hái. Phần tôi, mới vào nghề nên chỉ có việc mang cái bị đi theo, có thì giờ chiêm ngưỡng phong cảnh thiên nhiên. Tôi thấy cảnh vật xung quanh thật rõ ràng hơn, ý thức được thế giới tôi đang sống thân mật hơn: mắt thấy những đóa hoa lung linh phơi mình trong nắng ấm; mũi ngửi hương thơm ngọt ngào của muôn ngàn đóa hoa rừng đua sắc; tai nghe tiếng gió rì rào xuyên qua kẽ lá, nghe tiếng chim ca ríu rít trên cành, nghe tiếng nước chảy róc rách trong những con suối…, cho tôi những cảm giác tuyệt vời; nghe rõ hơi thở trong lòng ngực, từng nhịp đập của con tim, thân thể tôi như căng phồng sự sống, hòa nhịp với cái bao la của thiên nhiên vũ trụ.
Chúng tôi lại thường gặp các cô Sơn Nữ giặt áo quần bên bờ suối; những e ấp thẹn thùng, diệu dàng mộc mạc đáng yêu…Ôi! Các cô cũng là con người, cũng có trái tim biết rung động, biết yêu đương…những bản nhạc: Nỗi Buồn Châu Pha, Tiếng Hát Mường Luông… hiện ra trong đầu óc tôi, làm tôi say đắm trong yêu thương thay vì ngụp lặn trong thù hận. Tôi cảm thấy yêu nghề y, yêu công việc đi sưu tầm thuốc của tôi.


Lóc cóc lon con, Tớ với Thầy.
Bởi chưng nghề thuốc bạn cùng cây!
Xôn xao chân bước, đầy Chân nhái
Vội vã tay cầm, nắm Cổ tây
Vị đắng, vị cay bao ý vị,
Mây vàng mây trắng, phủ đường mây!
Khuất Nguyên cụ tới ngày năm nọ,
Sườn núi chênh vênh, dấu gót giày!
- Chân nhái & Cổ tây: hai vị thuốc phải thu hái,
- Khuất Nguyên: thánh tổ sưu tầm thuốc



Và,


Rừng vàng, lởm chởm đá cheo leo,
Bỡi cái nghề Y phải cố trèo!
Gặp được chú “Lưu” lò mặt tới,
Đụng ngay cụ “Khuất” bước chân theo.
Vai mang túi thuốc, bầy chim ngắm,
Mắt ngước bầu trời, nước suối reo.
Nhìn lại Thiên Thai, bao thắng cảnh,
Mặt hồ Thiên Mã, nước trong veo.
-  Lưu: chuyện tích “Lưu Nguyễn” lạc Thiên Thai
-  Khuất: tổ sư sưu tầm thuốc (Khuất Nguyên)
- Thiên Mã: tên một hồ ở Trung quốc mà Lý Bạch ngày xưa đã từng đề thơ



Về nhà trình thuốc cho thầy, đồng thời tặng thầy bài thơ tôi dệt gọi là món quà tôi nhặt được dọc con đường đi hái thuốc. Thầy tỏ vẻ hài lòng và kể từ đó thầy thường lưu tâm đến tôi, thường nói chuyện tâm sự. Những lúc gần bên nhau, tôi phát hiện mắt trái thầy bất thường, nếu không muốn nói là bị hư, tôi hỏi nguyên nhân thì thầy nói:
Trước đây thầy là Khẩu Đội Trưởng pháo binh/CSBV, trên đường vào Nam để  làm công việc mà Đảng  gọi là Giải phóng. Một chiều dừng quân dưới chân dãy núi cao, nhìn thấy mây khói bao trùm đỉnh núi làm thầy xúc động nên làm bốn câu thơ, không ngờ bốn câu thơ này thầy bị kết tội “phản động!” mất chức Khẩu Đội Trưởng và trở thành tên vác đạn. Và một đêm băng rừng, mắt thầy bị một nhánh cây đâm trúng, không thuốc men, chạy chữ kịp thời nên mắt thầy bị hư và họ cho thầy về vườn.
Tôi cảm thấy câu chuyện rất xúc động nên yêu cầu thầy, nếu còn nhớ, đọc cho tôi nghe bốn câu thơ đó thì thầy bảo làm sao quên được!


Sương khói bao trùm đỉnh núi cao
Vô Nam giải phóng – Nẻo đường nào?
Đường đi sỏi đá – Chân trần bước!
Giải phóng cho người - Ta thì sao?!


Khi nghe xong bốn câu thơ, tôi lại hỏi Thầy quyền lợi gì Thầy nhận được khi trở về thì Thầy nói rằng không có chi cả! Thực sự lúc đó tôi không nghĩ rằng CSMB kềm kẹp con người đến thế, nhưng mới đây coi băng Asia thấy Trịnh Hội phỏng vấn nhà thơ Hữu Loan mới biết sự thật nó là vậy. Tôi cảm thấy thương thầy và thường mời thầy về nhà dùng cơm với vợ chồng tôi mỗi cuối tuần.
Một cuối tuần nọ tôi báo cho vợ tôi biết có thầy đến chơi, tôi muốn nàng làm một món gì đó để thầy và tôi uống rượu chuyện trò và nhân đó xin thầy dạy tôi về Đông y, nàng đồng ý nhưng ngày đó khi tôi và thầy về thì không thấy vợ tôi đâu cả và cũng không thấy có thức ăn gì làm để sẵn, tôi bực tức, có những lời lẽ không mấy êm tai đối với vợ tôi, khi thấy mặt nàng về, dù rằng nàng có xin lỗi vì phải đi giúp một bệnh nhân.
Thầy nhìn tôi bằng vẻ mặt điềm đạm, bảo tôi lấy giấy bút để ghi mấy câu căn bản cho một người muốn hành nghề y. Vốn muốn học Y mà nghe thầy nói vậy thì khoái quá, nên vội vã lấy giấy bút ghi ngay lời thầy đọc.


Mạc mạ dậu thời thê,
Nhất dạ thụ cô thê!


Ghi xong và đọc lại thì tôi hiểu ý thầy, cười và nói,
“Thầy đừng xem thường con đó nhé!”
Thầy lại nói, “Tôi biết chú biết, nhưng nó chỉ mới có ở trên đầu chứ chưa có ở trong Tim. Chú cần đưa nó vào Tim mới được!”
Thầy và tôi, cả hai cùng cười, nói chuyện Tổ Đông y, nói chuyện trong thị trấn, trong huyện… thì khoảng mười lăm phút sau vợ tôi mang đến một dĩa xào, vài cái bánh tráng nướng và chai “Martini” (để đãi khách quý,) bảo tôi mời thầy dùng đỡ trong khi chờ đợi nàng làm cơm tối.
Trong lúc vừa ăn vừa nói chuyện, tôi nói với thầy tôi muốn học Đông y để trở thành một Đông Y Sĩ thì thầy bảo nghề y rất bạc bẽo theo đuổi làm chi! Tôi nói cách nào thầy cũng không chịu giúp, cho đến khi vợ tôi bưng thức ăn đến, tham gia vào buổi ăn tối và trò chuyện tâm tình với thầy, tôi thấy thầy có vẻ vui và cởi mở hơn. Phải chăng vợ tôi đánh đúng cái tâm trạng của thầy trong hiện tại, nên khi ăn xong, thầy nhìn vợ chồng chúng tôi cười nói,
“Không biết vì thức ăn cô làm quá ngon hay vì lời nói của cô rất chí tình mà làm tôi thay đổi ý kiến,” ngừng một chút rồi thầy nói tiếp, “Cô bảo tôi nên kiếm một người để tâm tình trong những ngày xế bóng, thật chí lý, nhưng đối với cái tuổi tôi lúc này, vấn đề tìm một người vợ thì không thể có, thôi thì tôi tìm một người biết xướng họa thi văn để làm vui; tôi thấy chú (tôi) có năng khiếu trên lãnh vực này thì thử HỌA bài XƯỚNG của tôi, nếu được thì tôi nhận dạy chú nghề y, ngược lại thì coi như tôi chưa gặp được người tri kỷ!”
Nghe thầy chịu dạy tôi, tôi rất mừng dẫu rằng không biết có đáp ứng điều thầy muốn hay không, nhưng cứ làm đại biết đâu thầy thấy có thiện chí mà bỏ qua sự thiếu sót, nên tôi hăng hái nói,
“Con nhận điều kiện thầy đưa ra, nhưng xin thầy nhẹ tay dùm!”
 “Vậy chú lấy giấy bút chép bài XƯỚNG của tôi đi.” Thầy bảo.


 Đi vào nghiên cứu bộ Hồi Xuân
Thừa thế tương lai chẳng ngại ngần
Độc pháp, bao hàm mang Nhất Khí
Y phương, khái niệm nghĩa Toàn Trân
Lưu truyền vốn cũ đầy kinh điển
Sách vở tình xưa nặng ái ân
Nam Bắc bên nhau chung lý tưởng
Tương phùng, tương đắc, hựu tương thân!


“Bài thơ này hay quá, nhưng thầy có thể cho biết Hồi Xuân, Nhất Khí, Toàn Trân là gì ?” Tôi hỏi.
“Hồi Xuân là quyển sách nói về học thuyết của Đông y mà tôi sẽ dạy chú, còn Nhất Khí và Toàn Trân là hai phương thuốc lớn trong các phương thuốc của Đông y.” Thầy nói.
Tôi cám ơn thầy cho những lời giải đáp, đồng thời cho thầy biết, tuy tôi có học qua cách Xướng & Họa thơ Đường Luật, nhưng chưa lần nào Họa thơ ai. Đây là lần đầu tiên, do đó nếu không chỉnh lắm cũng xin thầy xí xóa. Và tôi cũng xin thầy cho tôi một tuần để hồi đáp.
“Chắc làm được không, hỡi phu quân?!” Vợ tôi cười, hỏi tôi.
“Anh sẽ cố gắng.” Tôi đáp.
Thầy nhìn tôi cười và nói rằng thầy hy vọng sẽ có được một người vừa là học trò và vừa là một người bạn tri kỷ trong tuổi đời xế bóng của thầy.
Vợ tôi cũng cười và nâng ly lên đề nghị, “Thôi chúng ta nâng ly chúc mừng nhau: mừng thầy sắp có người tri kỷ, mừng anh đã tìm thấy hướng đi, và mừng cho chính em có được mái ấm!”
Cả ba chúng tôi đồng nâng ly uống cạn.


Theo Thầy con thấy mãi Trường Xuân
Xuân đến Xuân đi chẳng ngại ngần
Dẫu ví thầy, con chưa Nhất Khí
Nhưng mà sư, đệ hiệp Toàn Trân
Xưa nay đã có đầy kinh nghiệm
Cổ Đại vẫn còn lắm nghĩa ân
Thế biết thầy, con chung lý tưởng
Xin thầy thương giúp đệ dấn thân!



Đó là bài thơ hoạ của tôi sau một tuần sửa đi sửa lại. Đọc lướt qua rồi thầy cất tiếng nhận xét,
“Bài HỌA của chú được lắm, xét về ý; nhưng xét về luật thì chưa được hoàn hảo vì theo nguyên tắc HỌA không được lập lại hai chữ của tác giả bài XƯỚNG như chú đã vấp phải ở hai câu thực của bài thơ; tuy vậy, tôi chấp nhận chú là người bạn vong niên của tôi từ giây phút này.”
Tuy thầy không nói rõ là thầy sẽ chỉ dạy tôi về Đông y, nhưng tôi hiểu thầy đã nhận tôi làm đệ tử, tôi vui mừng cám ơn thầy và thầy cũng nói cám ơn hai vợ chồng tôi cho thầy cái cơ hội nhìn lại cái kho tàng Y Lý.
Thế là tôi bước vào nghề y, một nghề cứu giúp người thật là đáng quý.
Trong sách Phật có nói: Một tên cướp liệng dao xuống tức thì được cứu rỗi, cũng như trong sách Bible có đề cập đến hai tên cướp bị đóng đinh chung với Chúa Jesus Christ trên đồi Sọ.Trước khi lìa đời một trong hai tên cướp nói với Chúa Jesus rằng: “xin Ngài khi về Trời hãy nhớ đến tôi.” thì Chúa Jesus bảo tên cướp rằng hắn đã được Chúa nhớ từ ngay khi lời được thoát ra khỏi cửa miệng!
Với tôi, không những đã liệng dao (súng) xuống mà còn cầm cây cân tiểu ly, cân từng vị thuốc để cứu người, và trong đầu óc tôi luôn được nhắc nhớ  “lương y như từ mẫu” nên tôi hy vọng cuộc đời của tôi sẽ tươi sáng, nhất là khi bước vào học đại cương về học thuyết Đông y, thấy học thuyết này nhìn xuyên suốt Vũ trụ, dùng hiện tượng trong thiên nhiên để suy đoán và áp dụng cho con người:
-    Trong học thuyết Đông y, người xưa cho rằng con người là một vũ trụ nhỏ nên dùng hiện tượng Ngũ hành để: Quan sát, quy nạp, với sự tương quan giữa Sinh lý & Bệnh lý….
Làm tôi rất thích thú, vì càng bước sâu vào y lý tôi lại cảm thấy rằng tôi rất gần gũi với thiên nhiên, vì cuộc đời tôi giống nó. Tuy ngày nay tôi không còn là tôi ngày cũ nhưng tôi vẫn là tôi trong thể xác một con người.
-    Qua thực tiễn của cuộc sống, quan sát các hiện tượng thiên nhiên người xưa nhận thấy: “Vũ trụ là một khối thống nhất, không ngừng vận động và biến hóa!” Phương thức hoạt động của nó là Thăng & Giáng (lên & xuống,) Nhập & Xuất (vào & ra.)
-    Quy luật biến hóa của sự vật là quá trình: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già đi, tiêu diệt (chết), và biến thành vật thể khác…
Học Đông y, lúc đó đối với tôi, không chỉ là kiếm sống mà còn dịp cải thiện đời sống tinh thần cá nhân. Ví như bài phú “Chẩn Mạch thất điều” sau đây.


Phép chẩn Mạch bảy điều chớ lẫn
Phải tinh tường cẩn thận mới hay

Một là yên tĩnh lòng ngay
Giữ gìn thân thể chớ khuây tơ lòng
Hai đừng để việc gì lo nghĩ
Bỏ việc ngoài lý trí mới tinh
Ba là điều chỉnh hơi mình
Thở ra hít lại quân bình từng giây
Bốn là nhẹ ngón tay dò xét
Nơi trung bình để biết Trầm Phù
Năm là nhớ ấn bỉ phu
Xét xem Tạng Phủ dự trù đắng đo
Sáu nằn nặng thăm dò Khí Huyết
Xem bộ nào cốt thiết Phù Trầm
Bảy xem rành mạch chớ lầm
Huyền, Vi, Trì, Sác, Phù, Trầm, Thực, Hư

Mạch chạy đẩy nghe như mình thấy
Cốt rõ ràng lúc ấy hay không
Tinh thần vị khí phải thông
Để mà luận chứng chọn phương đúng đường

Đấy là lời tựa đề cương
Vui thì học thuộc ngày thường ngâm nga
Thuộc thì nghiền ngẫm mới ra
Quán thông Mạch Lạc thuốc là phải hay!


Bài phú này tôi học thuộc không chỉ để áp dụng khi chẩn Mạch cho bệnh nhân, mà còn là bài học dưỡng sinh, kết hợp các bài phú khác như: Dưỡng Tâm ca, Can vệ sinh ca, Tỳ kinh ca… để tôi luyện tập hằng ngày.
(Có lẽ vì thế, dù trải qua 6 năm tù: cực nhọc, ăn uống thiếu thốn… và nay đã bước vào cái tuổi lục tuần, tôi vẫn còn có đủ sức khỏe, vẫn còn đi làm, và vẫn còn làm tròn chức năng ở gia đình và cũng như ở nơi tôi làm việc.)
Thế nhưng bên cạnh cái vui bên trong, bên ngoài vẫn có tiếng xầm xì cho tôi túng đường làm bậy. Vợ tôi khuyên tôi hãy bỏ ngoài tai, cái thắng cuối cùng mới là cái thắng tất yếu, nên nàng luôn hỗ trợ đắc lực tinh thần lẫn vật chất để tôi không cảm thấy buồn rồi nghĩ vẩn vơ.
Rồi một ngày, sau hai năm tôi theo đuổi học tập, thầy nói với hai vợ chồng tôi,
“Cô chú này, nếu có khả năng, cô chú nên lập một quầy bán thuốc ‘Nam & Bắc,’ để chú có dịp nhận dạng các vị thuốc, đồng thời để thực tập chẩn mạch và kê đơn thuốc cho bệnh nhân…”
Sự gợi ý của thầy cho chúng tôi hướng tới.
Ngày tôi dựng bảng khai trương quầy thuốc (tôi bắt chước lối làm “ưu việt” của Đảng và Nhà nước ta là để thầy làm chủ, còn tôi nắm quyền quản lý!)
Các bạn (nhậu, đào vàng, đi buôn…) tôi trố mắt thì thầm, “Sao thằng P nó dám làm việc này?”
Và rồi một anh bạn ở cạnh quầy thuốc đến tham quan. Trong lúc trao đổi anh nói với tôi, anh có chứng bệnh đau lưng kinh niên, nhiều năm theo Tây y chữa trị, tiền thì mất mà tật vẫn còn!
Anh hỏi tôi, thấy có khả năng giúp anh không? Tôi cười nói với anh là tôi học thuốc để trị bệnh cho người lẽ dĩ nhiên bệnh gì tôi không trị được, duy chỉ có một điều là anh có thật lòng tin tôi và làm đúng những điều tôi dặn thì chắc chắn bệnh anh sẽ thuyên giảm.
Anh nói, “Được, tao tin mày và bây giờ mày bảo tao phải làm gì?”
Tôi cười nói, “Trước hết anh phải thay đổi cách xưng hô, không được xưng tao với mày, mà phải xưng Tôi và Thầy…” ngừng một chút để anh có đủ thì giờ dướng to đôi mắt tỏ vẻ ngạc nhiên rồi nói tiếp, “Nhìn và đọc thuộc hai câu đối tôi viết ngay trên miếng ván mặt trước quầy bốc thuốc, rồi đưa tay phải lên thề: Tôi tin tuyệt đối vào thầy P!”


Cơm ba chén, thuốc ba thang – Tiếng nói Tôn Sư vang vọng lại,
Người là vàng, của là ngải – Lời truyền Nhân Thế vẫn còn đây!


Đọc xong hai câu đối anh nhìn tôi cười và khen hay, đồng thời anh nói tiền bạc không thành vấn đề với anh, anh sẽ mua và làm bất cứ cái gì tôi yêu cầu, chỉ mong tôi đem hết sở học nghiên cứu trị cho anh hết chứng đau lưng thì anh hài lòng.
Tôi thấy anh nói với tất cả sự mong muốn chân thật, đồng thời để anh tin tôi hơn (tin tưởng vào thầy thuốc là một phần đóng góp có giá trị cho việc trị liệu) nên tôi nhìn anh cười và nói,
“Anh tin tôi đầy đủ khả năng trị được bệnh anh sao anh không đưa tay lên thề?”
“Không tin sao tôi đến đây làm gì!” Anh trả lời.
“Thì anh hãy đưa tay lên thề đi!” Tôi cười nói
“Tôi xin thề.” Anh nghiêm chỉnh đưa tay lên thề, làm tôi cảm thấy mến anh, đến vỗ vai, bảo rằng anh thi hành những yêu cầu của tôi rất tốt và hứa sẽ đem hết khả năng mình để giúp anh, đồng thời bảo anh sáng mai đừng đi đâu, tôi sẽ đến nhà anh chẩn đoán bệnh anh lúc 6 giờ sáng, rồi sau đó sẽ mời anh đi uống café ăn sáng với tôi.
“Chà, ông thầy này rất “réc-lô” nhưng cũng rất hào phóng. Thôi được tôi sẽ chờ,” nói xong anh bắt tay tôi ra về.
Anh là bệnh nhân thứ nhất và cũng là người bạn chí thân của tôi trong suốt thời gian tôi sống ở Sơn Hòa cho đến ngày tôi rời bỏ quê hương.
“Phước chủ may thầy,” có lẽ áp dụng đúng cho trường hợp của anh và tôi. Tôi chưa có kinh nghiệm gì trong việc điều trị, chỉ căn cứ vào sách vở; ngoài vấn đề bắt anh phải uống thuốc, tôi còn bắt anh đến quầy để tôi châm cứu cho anh mỗi ngày. Thời gian trị liệu trong vòng một tháng, căn bệnh đau lưng của anh không còn anh rất mừng, rối rít cảm ơn tôi. Và từ đó tôi thường có café buổi sáng miễn phí!
Vừa làm vừa học, bốn năm trôi qua, tôi thi lấy được bằng Đông Y Sỹ toàn khoa, do Tỉnh Phú Yên tổ chức. Thầy tin tưởng tôi, để tôi chính thức điều hành công việc của Quầy, tuy vậy thỉnh thoảng thầy vẫn đến cố vấn giúp tôi những trường hợp phức tạp trong nghề. Không những thế, thầy còn nhắn người con gái của thầy, Hoàng Thị Tuyết- Thanh, ở tận Đồng Nai về tham quan cái Quầy thuốc của người học trò thầy hằng quý mến.
Và trước khi Tuyết-Thanh trở về Đồng Nai, nàng đề tặng tôi bài thơ, tôi mãi nhớ.



Về đây mới biết tiếng thầy Phò.
Sách vở, tay nghề mãi đắng đo,
Biết nghĩ, biết suy vì có học,
Nên công, nên chuyện bởi hay lo.
Hàng chồng sách vở, giăng đầy tủ,
Bao vị thuốc men, chất nịch kho.
Đối tượng giao lưu từng đủ mặt,
Cũng Anh, cũng Pháp, cũng văn Nho.
Cái tên mỹ tự nguyên do,
Chữ Phò là giúp, giúp cho mọi người!



Có lẽ Tuyết-Thanh nghĩ đúng! Tên tôi, “Như Phò” như có nghĩa là bằng hoặc là giống, ba tôi bảo, đó là ý ông nội tôi, mong sau này tôi lớn lên học đến nơi đến chốn, đạt được bằng cấp cao, có chức vụ lớn, nhiều bỗng lộc như các vị “Phò-Mã” (rể Vua) ngày xưa. Thế nhưng, ông nội tôi không nghĩ chữ “phò-mã” còn có nghĩa thứ hai là tên giữ ngựa, nên suốt đời tôi chẳng thuộc giới người “quyền quý cao sang!”
Tuy nghĩ vậy chứ tôi vui với cuộc đời tôi đang có, vì qua câu chuyện con Lừa Anna trong Thánh kinh làm tôi nhận biết tôi là ai và vai trò của tôi trong đời sống con người.
Nói đến đời sống của con người thì có lúc suy lúc thịnh, lúc rủi lúc may. Và trong nghề y cũng vậy. Tôi vẫn còn hối hận, có một trường hợp mà tôi phải bó tay, đó là căn bệnh đau nửa đầu, đông y gọi là “thiên đầu thống,” của một nữ công nhân thủy lợi, tên là Nguyễn thị Phương-Hoa, 27 tuổi, quê quán ở Hà Tỉnh.
Phương-Hoa đến quầy tôi một buổi sáng, tôi chẩn mạch để tìm ra cái gốc căn bệnh của nàng, tôi nhận thấy nàng bị suy huyết (thiếu máu) quá trầm trọng, do đó máu không có đủ để đưa lên cung cấp cho phần bên trái của đầu, mà cái cốt lỗi của nó là thiểu Khí (thân nhiệt,) thì phương hướng đề ra cấp thời là bổ nguyên khí tạo sức đề kháng cho bệnh nhân rồi sau đó mới tập trung vào công việc bổ máu.
Công việc thật khó khăn và căn bệnh thật khó chữa! Tuy nhiên tôi không cho Phương-Hoa biết, sợ nàng mất tinh thần, khó cho công việc trị liệu hơn. Do đó tôi chỉ nói với nàng: căn bệnh nàng cần phối hợp cả Tây y. Riêng phần tôi, tôi sẽ cố gắng làm giảm đau cho nàng và sau đó để cho Tây y tiếp tay điều trị.
Tôi bắt đầu dùng thủ thuật “Ôn-Châm”, đưa hơi Ngải-cứu vào người nàng qua đầu kim châm cứu. Công việc làm liên tục được 5 hôm thì nàng không còn cảm thấy đau nhức, nàng rất mừng. Nàng đi mua 10 trứng hột vịt lộn mang đến Quầy tôi trong đêm tối (tôi ngủ đêm tại quầy) và bảo tôi cùng ăn với nàng. Nàng ăn 2 trứng, tôi ăn 4 trứng, còn lại 4 trứng nàng bảo tôi ăn cho hết nhưng tôi bảo khả năng tôi chỉ có thế thôi. Nghe vậy, nàng không ép tôi ăn thêm, gói 4 trứng còn lại đêm về tặng vợ tôi. Đêm ấy nàng ở đêm tâm sự với vợ tôi, ngủ đến sáng thì bỗng dưng nàng phát ói, vợ tôi đưa nàng ra bệnh viện cấp cứu.
Tôi đến Bệnh viện thăm và hỏi nàng cảm thấy thế nào? Thì nàng bảo chỉ cảm thấy mệt, chứ không thấy đau nhức,vợ chồng tôi an tâm ra về.
Đến ngày thứ ba thì hay tin nàng mất, tôi đến Bệnh viện hỏi lý do thì họ nói rằng thể trạng nàng quá yếu nên đã bị “shock” trong lúc chuyền dịch.
Tôi buồn bã đi theo sau chiếc quan tài nàng, ra khu đất trống bên con suối nhỏ, có tên Suối Cá, để nàng yên nghỉ. Một xúc động trào dâng trong tôi, tôi làm cho nàng một mộ bia, với đôi dòng chữ, cắm trước đầu mộ:


Hoa kia tan tác giữa chừng xuân,
Để tiếc thương cho khách cõi Trần.
Lẻ bóng Hoa về nơi bến Lạc,
Hình còn vương vấn đọng trong tâm!


Có lẽ vì cái phong cách phục vụ của vợ chồng chúng tôi và cái tâm địa tốt lành của vợ tôi vốn có, nên được mọi người mến mộ, công việc làm ăn của vợ chồng tôi khấm khá. Chúng tôi xây được căn nhà mới khang trang. Tôi thiết kế cho vợ tôi một phòng khám: thai và khám, chữa trị bệnh phụ khoa tại gia; còn tôi mở rộng quầy thuốc để có chỗ cho học sinh đến học lớp Anh văn buổi tối, đồng thời để có chỗ dựng bảng vẽ chữ cho các cửa tiệm buôn, đựng những bao hình cắt sẵn các mẫu trang trí đám cưới v.v...
Các bạn vợ tôi thấy tôi làm đủ nghề: gửi lời khen, và chúc mừng vợ tôi có một người chồng thật hết ý! Vợ tôi tươi cười nói:
“Do you know what?” 
“Know what?” Các bạn nàng cười hỏi.

“Bá nghệ bá tri …” Vợ tôi trả lời. đồng thời cố tình kéo dài chữ “TRI” ra làm tôi nở mũi cười toe toét. Tiếng cười chưa dứt thì vợ tôi thêm mấy chữ  “…vị chi bá láp!” khiến tôi tắt tiếng cười và lủi đi nơi khác!!!
Trong đời sống vợ chồng, tôi nhận thấy, tính “khôi hài” là chất tươi mát làm cho cây hoa hạnh phúc không tàn úa. Vợ tôi rất có khiếu trong lãnh vực này, nên cuộc sống chúng tôi ít khi cảm thấy nhàm chán. Ví dụ mỗi khi tôi nói cám ơn nàng cho những gì nàng làm cho tôi, thì nàng nhìn tôi với một nụ cười cùng câu nói “đừng bày đặt để kiếm chút cháo!” cũng chính vì đó tôi ít muốn phải xa nàng (No where like family!)



IV. Lìa Xa Quê Hương



Năm 1989, Trọng và Ngô rủ tôi vào Nha Trang nộp đơn đi Mỹ tôi đã không đi, nếu tôi đi, thì cũng đã đi chung với hai bạn tôi năm 90 chứ không phải đợi đến năm 92.
Và điểm đáng nói hơn, năm 90 các bạn tôi đã đến Mỹ mà tôi vẫn chưa chịu nộp đơn ra đi, cho đến khi Trọng gửi thư về. Trong thư Trọng bảo bà xã tôi hỏi tôi có chịu đi không cho Trọng biết để tiện bề tính sổ! Đọc thơ Trọng, tôi suy nghĩ nhiều và vợ tôi đầu óc cũng rối vò như tôi:
“Bao tài sản, sự nghiệp bao năm gầy dựng tự dưng bỏ hay sao? Qua Mỹ chắc gì có việc làm và có cuộc sống tương đối sung sướng như bây giờ!” đó cái mấu chốt vấn đề cho vợ chồng chúng tôi suy nghĩ.
Sau nhiều đêm bàn thảo và phân tích, cuối cùng chúng tôi đi đến quyết định: ĐI!
Cái quyết định này được hình thành bỡi hai yếu tố:
- Việc cho phép những người cải tạo trên ba năm được đến định cư tại Mỹ, nó đã trở thành chính sách của nhà nước CSVN: đi hay ở là quyền của người thụ hưởng; tuy nhiên, chúng tôi hiểu rõ bản chất của CS là đa nghi và có chủ trương “giết lầm hơn thả sót”! Biết đâu trong tương lai xảy ra sự bất ổn về chính trị trong nước, mấy ổng lại đặt nghi vấn tại sao tôi không đi, và rồi ra lệnh bắt nhốt để điều tra thì khổ.
Bên cạnh mấy ông CS, còn có các bạn tôi như Ngô và Trọng, chẳng hạn, cũng nghi ngờ tôi đã theo CS nên ở lại không đi, lại thêm một cái khổ nữa!
- Đành rằng, của cải tài sản hai vợ chồng tôi có được hôm nay, là kết quả của sự vận dụng trí óc và sức lực qua nhiều năm mới có, chứ không phải dễ dàng kiếm được; tuy nhiên bản chất của nó là không trường cửu, có đó rồi mất đó, nhưng cái hoa Tự do mãi trường tồn trên đất Mỹ tự do, là môi trường phát triển cho thế hệ con cháu của chúng tôi sau này.
Chúng tôi cố bán hết tài sản để kiếm tiền ra đi nhưng không bán được, bỡi người mua ép giá một cách thái quá, đành phải để lại cho người thân ra đi với đôi bàn tay trắng!
Tôi mang tất cả giấy tờ ra thẳng Dịch Vụ Xuất Cảnh ngoài Hà Nội (số 9 đường Nguyễn Hữu Cảnh) để làm hợp đồng.
Trên chuyến tàu Thống nhất ra Bắc, tâm trạng tôi không là tâm trạng của người đi thăm đất nước sau khi chấm dứt chiến tranh, nên không cảm thấy “khung trời quê mình rộng bao la” và cũng không thấy “đàn chim tung cánh bay xa” hay cảm nhận sự thống nhất của Đất Nước: “Bắc Nam rồi không còn xa cách,” giống như cái suy nghĩ của ông Trầm Tử Thiêng khi ông viết bài ca “Hòa Bình ơi, Việt Nam ơi!”
Thời buổi đó, sự bao cấp còn quá nặng. Tuyến đường xuyên Việt như thế mà chỉ có vài ga ở thành phố lớn hoạt động bán vé và đón khách, còn các thành phố nhỏ như Tuy Hòa của tôi thì không! Do đó tôi và một người bạn đồng hành phải chạy theo tàu trong đêm, đu cửa sổ, rồi phóng vào tàu, đi “CỌP” nghĩa là đi không có vé. Vì không có vé nên chúng tôi không có ghế ngồi, phải đứng suốt cả chặng đường. Con tàu quá cũ kỹ, đường sắt không tu sửa, người quá đông do đó con tàu luôn chồng chềnh, chúng tôi bị xô tới xô lui mệt nhoài, không còn hứng thú để nhìn cảnh vật chung quanh, ví như có hứng thú đi nữa cũng khó nhìn thấy cảnh vật bên ngoài, nên trong suốt chuyến ra Hà Nội tôi không nhìn rõ cái gì cả, chỉ ở chuyến về tôi thấy rõ cảnh sinh hoạt người dân hai miền, nhận được sự khác biệt về đời sống người dân phía Nam và phía Bắc chiếc cầu giới tuyến (Bến Hải.)
Trong chuyến về, khi tàu vào khu vực Đèo Ngang thì trời cũng vừa sụp tối, tôi chợt nhớ đến bài thơ “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan nên muốn tận hưởng cái cảnh đã khắc sâu trong trí,



“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông Rợ mấy nhà…”



Bèn đưa tay đẩy cánh cửa sổ lên, cánh cửa vừa vượt qua khỏi đầu thì mắt tôi bỗng tối sầm và má bên phải cảm thấy đau nhức!
Mấy người ngồi cạnh tôi la lên,
“Đóng cửa lại, đóng cửa lại! Bộ ông không biết tụi thanh niên ở đây mất dạy lắm sao mà mở cửa? Chắc ông mới đi lần đầu?”
“Vâng, tôi mới đi lần đầu, xin lỗi quý ông bà!” Tôi trả lời.
Và đồng thời đảo mắt nhìn quanh thử xem có ai bị như tôi không, thì tôi thấy quần áo, mặt mày người bạn đồng hành cũng ướt sủng như tôi; tuy nhiên không bị miểng chai cào xé.
Hai đứa tôi nhìn nhau cùng cười, cùng đồng thanh nói, “Cám ơn quê hương đã cho món quà mang theo để nhớ!”
Tàu qua Quảng Bình, qua chiếc cầu chia hai đất nước trước 75, tôi có dịp nhìn những vùng đất ghi dấu chiến tích như Cổ Thành Quảng Trị để nhớ lại các chiến hữu của tôi đã lấy máu dựng lại cờ, qua cố đô Huế để nhớ lại “chuyện một chiếc cầu đã gãy” để xác định ai là người đã tàn phá quê hương.
Mỗi chuyến ra/ vào đều trải qua hai đêm và ba ngày, đầu óc tôi miên man bài hát “Hòa Bình ơi, Việt nam ơi” của Trầm Tử Thiêng. Tôi tự hỏi những con sông khô cạn, những thủa ruộng xơ xác hai bên đường kia ngày mai có thơm mùi lúa chín và đoàn người di cư năm 54 có trở về thăm đất Bắc thân yêu như Trầm Tử Thiêng khẳng định trong bài hát của ông? Và chắc chắn rằng tôi sẽ không nhìn thấy cảnh tượng “thơm mùi lúa chín” vì tôi sắp lìa bỏ nơi đây, còn cảnh “con tàu chở đoàn người di cư về thăm đất Bắc thân yêu đã xa lìa cả thời niên thiếu” thì chắc chắn là không thể xảy ra, vì những người di cư năm 54 giờ này tiếp tục chạy xa hơn nữa!
Trong thời gian ở Hà Nội để làm dịch vụ chúng tôi cũng đã tham quan cho biết những di tích văn hóa, lịch sử như Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Hà Nội 36 Phố Phường, Chùa Hương, Chùa Một Cột v.v…Trên đường đi thăm những di tích và thắng cảnh, bạn tôi có đề nghị ghé qua lăng HCM nhìn cho biết thì tôi cất tiếng ca:



Em ở miền Nam, em ra thăm bác,
Chỉ thấy trong lăng nằm im một cái xác,
của tên đại ác,
làm em ngơ ngác…



Giọng ca của tôi tương đối to nên bạn tôi tát vào mông tôi một cái và bảo tôi hãy im đi, kẻo bị bắt.
Hai đứa tôi lại cười và cùng kéo nhau đến nhà Dr. Thức, nằm cạnh Hồ Gươm, để trao bức thư của người em gái ông, lấy chồng người Tuy Hòa, nhờ chuyển.
Ông hỏi chúng tôi ra Hà Nội có việc gì hay chỉ đi thăm viếng? Chúng tôi cũng thành thực nói với ông là ra Hà Nội để làm hợp đồng đi Mỹ.
Ông trố mắt nhìn chúng tôi hỏi, “Thật vậy sao? Các anh là Sĩ quan hay quan chức cao cấp của Ng..u., à của miền Nam, thế là các anh sướng rồi!”
Tôi cười nói, “Thưa ông, ông nghĩ rằng ai mà được đến sống trên đất Mỹ thì sướng? Vậy nếu sống ở Liên sô thì thế nào?”
Ông cười buồn nói, “Anh không có ý mỉa mai đó chứ? nhưng mà tôi không nghĩ anh có ý như vậy vì tôi biết các anh là những người có học thì rõ lắm rồi. Thôi, tôi cám ơn hai anh đã mang đến cho tôi lá thư của em tôi, chúc công việc các anh trôi chảy và sớm vào đất Mỹ để có cuộc sống thoải mái hơn ở đất nước ta!”
Dr. Thức làm việc tại viện nghiên cứu Khoa Học/Hà Nội, nhưng tôi thấy đời sống ông rất nghèo, ông tiếp đãi chúng tôi bằng vài trứng hột vịt lộn và thức uống là chút rượu Vodka.
Ông và tôi, đã từng đứng mỗi bên chiến tuyến có thể nói là kẻ thù, nhưng không biết tại sao, hôm nay, gặp và nói chuyện với ông tôi lại cảm thấy mến ông! Có lẽ tôi nhận thức rằng hai chúng tôi cũng chỉ là con cờ trên bàn cờ tướng, mỗi bước chúng tôi đi là do sự điều khiển của hai đối thủ chơi cờ.

vợ chồng tôi với căn nhà bỏ lại (căn nhà do tôi vẽ kiểu)

Một tháng sau tôi trở ra Hà Nội nhận Hộ Chiếu (passport).
Gia đình tôi thuộc H.O/10, phỏng vấn trước H.O/11, nhưng lại đi sau H.O này và phân nửa H.O/12. Lý do gia đình tôi chưa có người làm sponsor ở Mỹ (đành rằng vợ tôi có cô em, nhưng tôi không muốn nhờ vả.)
Thời chúng tôi ra đi, tất cả mọi H.O phải qua trại chuyển tiếp Suan Plu, ở Bangkok, Thailand  để  hoàn tất các thủ tục vào Mỹ cũng để chờ có hội đoàn hay thân nhân bảo lãnh. Gia đình tôi chưa có ai đứng ra làm Sponsor. Tổ chức IOM liên lạc với gia đình em vợ tôi, thì em vợ tôi không có mặt ở Mỹ vì đang trên đường về Việt Nam thăm quê hương, và cuối cùng theo sự yêu cầu của IOM, chồng em vợ tôi đứng ra bảo lãnh với sự hổ trợ nhà thờ gia đình nó.
Gia đình tôi đặt chân trên đất Mỹ ngay lễ “Memorial Day” năm 1992.


(a)Những khó khăn ban đầu


Tôi có tính không muốn làm phiền ai, nhưng em vợ tôi nghĩ rằng tôi tự cao tự đại! Với lại em vợ tôi cũng không biết gì về chương trình H.O, nói rõ ra không biết giúp gia đình tôi cái gì; thêm vào đó, thành phố tôi ở rất ít người Việt, một thành phố lớn, có trường Đại học nổi tiếng, CSU, thế nhưng có khoản 15 hay 16 gia đình người Việt sống rải rác, họ là thành phần vượt biên đến nước Mỹ trước năm 1982. Phần lớn là người Việt gốc Hoa, đóng tiền cho chính quyền CS để xin về Trung quốc, nhưng khi rời khỏi hải phận Việt Nam họ dong đến Hồng Kông xin tị nạn, do đó gia đình tôi không có ai giúp đỡ, không có người thông dịch khi đi “apply” các quyền lợi ở sở “Social Welfaire Service,” cũng như được hướng dẫn hội nhập vào đời sống ở Mỹ, tôi phải tự làm tất cả mọi việc.
Tuy lắm khó khăn, nhưng cũng có vài may mắn là biết đôi chút tiếng Anh và biết xử dụng ngôn ngữ của quốc tế - đôi tay và đôi chân - cũng giúp thật nhiều trong việc giao tiếp với người Mỹ của tôi.
Bà Catherin Hopeman, phụ trách hướng dẫn những người H.O thành phố Fort Collins (thực sự chỉ có hai gia đinh: một gia đình H.O/6 và gia đình tôi) gợi ý: tôi nên về Cali để sống vì nơi đây có cộng đồng người Việt đông, có thể hướng dẫn tôi hội nhập vào đời sống người Mỹ, hướng dẫn tôi học lấy lại bằng “Accupuncturist” để có cuộc sống khá hơn; điều đáng nói là Tiểu Bang California có chương trình giúp đỡ những gia đình có con nhỏ.

Bà nói, “Ông nên suy nghĩ kỹ, đi càng sớm càng tốt, đứa con lớn của ông nay chưa đầy 9 tuổi, nếu ông qua Cali ngay bây giờ, ông không phải lo vấn đề học hành cho nó trong vòng10 năm. Với 10 năm không bận rộn về con cái thì ông có thể hoàn tất công việc học hành cho ông.”
Tôi muốn ra đi ngay, nhưng lúc đó mới đến Mỹ chưa đầy sáu tháng, chưa biết ai là ai và cũng chưa biết có TH/CTCT ở Cali, nên lờ đi lời khuyên của bà. Chấp nhận đồng lương rẻ mạc $5.00/giờ mà hảng “Good All Electronics” ban cho (Ngay khi đến Mỹ tôi ghi danh học một khóa “Electronic Assembly” ở trường Community College, và khi mãn khóa được một cơ quan “Temporary Agency” giới thiệu vào làm cho hảng này.)
Và để có thể tồn tại vợ chồng tôi thay phiên đi làm viêc. Tôi là buổi sáng, chiều về chăm sóc con cho vợ tôi đi làm. Cái job đầu tiên của nàng là phụ bếp cho “Worthington Senior Center,” và đồng lương của nàng cũng chẳng khá gì hơn tôi.
Gia đình tôi lúc đó chỉ có một chiếc xe, nên sáng sớm (4:30 am) vợ tôi phải thức dậy đưa tôi tới hảng, rồi quay về đưa hai đứa lớn đi học (vì không muốn con tôi đứng ngoài trời tuyết chờ xe “Bus” cả trên 20 phút,) xong về nhà chăm sóc đứa con nhỏ đồng thời học tiếng Anh do một bà Mỹ láng giềng volunteer đến dạy…
Có một điều tôi ghi nhớ mãi, mà càng nhớ càng thương đứa con út của tôi đó là:
Một buổi chiều nọ, vợ tôi đến hảng rước tôi về thì đứa con út tôi đang ngủ, nàng không đánh thức nó dậy để cùng đi, vì nàng nghĩ rằng chúng tôi sẽ trở về trước khi nó thức dậy, nhưng không ngờ nó thức dậy trước khi chúng tôi về. Không thấy mẹ đâu, nó mở cửa đi tìm vừa đi vừa khóc! Một người Mỹ thấy vậy dẫn nó giao cho cảnh sát. Vợ chồng tôi trên đường về bắt gặp nên xin cho chúng tôi nhận nó, đồng thời nói với người ấy chúng tôi mới đến đất nước Mỹ có vài tháng, chưa hiểu luật xin được thông cảm! Và cũng may, người ấy chấp nhận để chúng tôi dẫn nó về, sau khi nói cho chúng tôi biết về luật chăm sóc trẻ con ở thành phố chúng tôi đang ở cũng như trên toàn nước Mỹ.
Cuộc sống vợ chồng tôi, lúc đó rất bận rộn và rất khó khăn. Và khó khăn hơn là khi hảng tôi làm “Relocation to Ohio,” tôi bị “Laid-Off.”  Làm mới được vài tháng lại bị thất nghiệp, nên tiền thất nghiệp chẳng thấm thía vào đâu! Tôi gọi thăm Trung Tá Mai Quỳ (ở Aurora, cách tôi một tiếng rưỡi lái xe) tâm sự, đồng thời hỏi ông có quen biết ai hoặc anh em CTCT nào ở Cali không? thì ông cho biết có Hội Ái hữu CTCT/Đà Lạt. Thế là tôi viết thư về Tổng Hội ĐH/CTCT nhờ giúp đỡ, bảo trợ để gia đình tôi dọn về Cali ở, thì anh thư ký, thay mặt anh Tổng hội trưởng (Tổng hội Trưởng lúc đó là NT/1 Nguyễn Đức Luận,) trả lời không được. Kế đó anh Huỳnh Công Phát, đại diện Khóa NT/2 khuyên tôi nên ở lại Colorado, cố gắng tìm việc làm để sống, chứ về Cali lúc này cũng rất khó khăn!
Tôi quay qua nhờ NT/2 Nguyễn Bá Thuận, ở Texas, Thuận đồng ý giúp nhưng bảo tôi qua Texas một mình, khi nào có việc làm ổn định mới rước vợ con qua. Tôi bàn thảo với vợ tôi, nàng không đồng ý! Nàng nói rằng trời sinh voi sinh cỏ, người ta sống được là chúng tôi sống được, nàng nhắc lại việc chúng tôi đến Mỹ là để gầy dựng tương lai cho con cái, nếu tôi đi qua Texas làm việc thì ai là người hướng dẫn các con tôi trong việc học hành?!
Lời nàng nói làm tôi cảm thấy thương nàng thật nhiều vì lúc nào cũng nghĩ đến con, lo tương lai cho con mà quên hẳn bản thân mình. Nàng bảo tôi chưa có việc làm thì ở nhà chăm sóc hướng dẫn các con học hành để nàng tìm thêm việc làm buổi sáng.
Nhờ có nhiều năm làm việc trong ngành y, có kinh nghiệm nên được Nursing Assistance Center tuyển làm, nàng phụ trách công việc QMAP (Qualified Medication Admistration Person.) Nàng làm cho Công ty này buổi sáng, đến buổi chiều làm việc cho Worthington, do đó có những đêm về trễ, cộng thêm ngoài trời phủ đầy tuyết, tôi thật sự lo cho nàng! Tôi muốn nói lời yêu thương, cảm ơn nàng cho những hy sinh đóng góp, nhưng ngại nàng bảo “tôi muốn kiếm chút cháo” nên nhân ngày Sinh Nhật của nàng, tôi đệt mấy vần thơ cho tâm hồn dược thanh thản:




Hình này chụp lúc vợ chồng tôi có cuộc sống tương đối ổn định:

tôi làm ở Machine Shop và nàng làm việc cho hảng lắp ráp điện tử, năm 2004

Em sinh ra để cùng tôi chia sẻ
Những vui buồn của cuộc sống Thế Nhân
Để cùng tôi nhận lãnh hồng ân
Mà Chúa Cả ban cho làm cha mẹ!

Để đêm về vui cùng tiếng cười đàn trẻ
Ngắm trăng lên, soi bóng chung đôi
Để thấy rằng ta có ở trong đất trời
Ta nhân tố góp cho đời tươi đẹp!

Em có thấy Đất Trời đang thu hẹp?
Gió mừng reo, chào SINH NHẬT của em!
Bầu trời cao thắp sáng ánh sao đêm
Trăng vằng vặc, lung linh hồ nước biếc.
Đấy cảnh sắc đưa em vào yến tiệc
Tiệc vui mừng EM NHẬP THẾ chào Đời
Anh góp mừng bằng kết nhạc đan lời
Lời cầu chúc “EM TRỌN ĐỜI HẠNH PHÚC!”



Một việc đáng ghi nhớ trên bước đường đi tìm việc và cũng để suy gẫm về cái may mắn (Luck) trong cuộc sống của con người: đó là lúc tôi đi “applied” cái “job” làm Machine-Operator” cho hảng Teledyn Water Pik.
Cô phát “Application Form” hỏi tôi có bằng High School hay GED gì không? Tôi trả lời không thì cô từ chối không đưa đơn cho tôi với cái lý do tôi không qualify cho cái job! Tôi nài nỉ cô, bảo cô chỉ cho tôi làm cách nào để được qualify, đồng thời tôi cho cô biết tuy không có bằng cấp gì ở Mỹ nhưng ở quê tôi, tôi đã học qua chương trình Đại học, tôi rất cần có việc làm để có thể sống còn trên đất nước này, vì gia đình tôi có năm người mà chỉ có mình tôi có đủ điều kiệm làm việc.
Tuy tiếng Anh tôi lúc đó không lưu loát nhưng những gì tôi nói cô ta hiểu. Cô bắt tôi thi về tiếng Anh, tuy nó không khó như thi TOEFL, nhưng cũng có đủ: Listening, reading Comprehension, Grammar cộng thêm vài bài toán số học và đại số bậc trung học, may mắn tôi “passed.” Tôi vào phỏng vấn chung với 20 người (kể cả tôi,) lại một lần nữa may mắn đến với tôi, tôi được chọn 4/20.
Và vào làm cho “Department of  Machine-Shop” được ba tháng thì Supervisor kêu tôi vào phòng ông ta làm việc, ông bảo tôi có tinh thần làm việc cần cù, nhưng vấn đề “Communication” của tôi quá yếu, nếu tôi không “improve” trong lãnh vực này thì buộc lòng ông cho tôi nghỉ việc!
Tôi xin ông cho tôi có cơ hội học cách phát âm (pronunciation) vì cách nói tiếng Anh của tôi có quá nặng giọng (havy accent) nên ông cũng như Co-Workers người Mỹ của tôi khó hiểu.
Thật may mắn, ông chấp nhận yêu cầu của tôi nên nói với bà phụ trách phần vụ “Educational Assistance” của công ty, xuất tiền cho tôi học tiếng Anh. Thế là sau khi học được một Semester ở trường Community College, ông không còn than
 phiền tôi nữa; không những thế ông còn cho phép tôi tiếp tục học lấy cái chứng chỉ “CNC Certificate.” Và sau sáu năm làm việc, được đề bạt lên làm “Team’s Leader,” phụ trách set-up máy móc, huấn luyện công nhân mới, và sign “first-article” trên các orders để người nhận lãnh “Order” có thể tiến hành công việc.

Làm việc xuyên suốt mười một năm, rồi một ngày tôi phạm một lỗi lầm trầm trọng nên đã bị “Fired!” Lỗi lầm này cũng do tính tự cao, tự đại của tôi mà ra:
Số là sáng ngày 13 tháng 9 năm 2005, tôi “set-up” một cái máy cho một nữ công nhân, khi cô đến bắt tay vào việc bị trở ngại, cô quay trở lại than phiền tôi, cho răng tôi “set-up” không đúng. Tôi nói với cô ta,
“I’m an expert. I’ve never done it wrong!”
“Try it again, so that you know if it’s wrong or not!” cô ta trợn mắt nhìn tôi nói.
“Ok, open your eyes widely and watch.” Tôi đáp lời cô trong vẻ bực tức.
Và rồi đến chiếc máy, làm hoàn tất cái “part” đầu tiên cho cô thấy.
 “How’s that?” tôi hỏi cô,
Cô ta không thèm trả lời mà còn õng ẹo cái đít qua lại thấy ghét!
Tôi phát vào mông cô một cái và chọc tức cô bằng câu hỏi,
“What’s wrong with you? Last night, did your boyfriend not let you sleep enough?”
Cô ta khóc, nhưng không than phiền gì về hành động của tôi. Thế nhưng, một công nhân khác thấy, đem sự việc báo cáo với “Human-Resources.” Supervisor ngưng việc tôi ba ngày, rồi sau đó ban lệnh “Fired!”ị phạm lỗi, tôi mất tất cả quyền lợi mười một năm làm việc kể cả tiền thất nghiệp. Sở thất nghiệp cho tôi quyền khiếu nại trong vòng 15 ngày, kể từ ngày họ ký gửi giấy báo đến tôi, nhưng làm sao tôi khiếu nại vì tôi có lỗi 100%, và người đuổi tôi chính là người ân của tôi trong nhiều năm qua?!
Tôi chấp nhận không kêu nài và lặng lẽ đi tìm việc làm kiếm sống. Hy vọng có nhiều năm kinh nghiệm sẽ kiếm được việc; thế nhưng, không một hảng nào kêu tôi phỏng vấn. Tôi buâng khuâng không biết tại vì tôi lớn tuổi hay vì cái Ethical Violence làm các chủ hảng e ngại không mướn tôi? Tôi buồn bị mất công việc tốt, thế nhưng vợ tôi lại nói rằng nàng rất vui vì đây là dịp để tôi bỏ tính tự cao tự đại, một đức tính rất nguy hiểm, dễ đưa người đến bờ vực thẳm! Nàng bảo cái tôi mất ngày hôm nay đâu có thể so sánh với cái tôi mất 4/75 thì tại sao tôi phải buâng khuâng lo sợ? Nàng nói: Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường!  Nàng khuyên tôi đừng suy nghĩ gì cả, hãy vui mà đón nhận, cứ xem đó là những đám mây đen bay trên đầu, và hãy tin tưởng rằng nó đó sẽ qua đi, bầu trời sẽ sáng lại, hãy tìm vui trong việc đọc các quyển sách mà nàng đề nghị tôi nên đọc, để tìm thấy hướng đi cho giai đoạn hiện tại.

- What to do when you don’t know what to do,
- The Purpose of Driven Life,
- Finding Peace for your Healthy Heart ,
- Let Go And Let God…

Tôi không biết phải làm gì để giết thì giờ trống rỗng, nên đành chú tâm đọc sách. Càng đọc, tôi càng cảm thấy vơi đi chút buồn phiền; nhất là khi tôi nhận được cái Card của Eva (cô con gái làm cho tôi phạm lỗi) gửi đến thăm tôi và nói lên cái tiếc nuối sự việc đã xảy ra, làm tâm hồn tôi không còn ray rức. Đọc những lời in trên Card, tôi chợt hiểu việc gì xảy ra cũng có lý do của nó, và cái lý do đó có thể ví như làn mây khói lơ lửng ở không trung, tôi không thể thấy rõ được, nhưng chắc rằng nó không làm hại tôi mà chỉ giúp tôi chịu khó nhìn thật kỹ và nghĩ thật sâu phía sau đám mây là mảng trời xanh đẹp!
Tôi trở lại trường, trong mục đích “Up-grade/Up-date” cái kiến thức của tôi. Tôi gặp Counsellor/CSU, Ms  Amy Nelson, trình bày hoàn cảnh để xin giúp đỡ về “Finance” thì bà bảo tôi đến “Legal Justice Services” nhờ hướng dẫn làm “Appeal” để được hưởng tiền thất nghiệp, đồng thời xóa cái tội “Ethical Violence” để dễ kiếm việc trong tương lai.
Tôi nói với bà là thời hạn khiếu nại đã qua, thêm vào đó tôi không muốn khiếu nại hay than phiền về việc tôi bị đuổi, vì tôi phạm lỗi 100% và người đuổi tôi chính là ân nhân của tôi trong nhiều năm qua!
Bà nhìn chăm chú vào mặt tôi hồi lâu, mắt bà tự dưng ngấn lệ, bà nói,
“Ông quả là con người tốt, có tình nghĩa nhưng lòng tốt không thể đem ra áp dụng trong lúc này được! Tôi khuyên ông nên làm khiếu nại bỡi tôi thấy nạn nhân của ông là cô Eva, cô ta không oán trách ông mà còn an ủi ông; minh chứng ông không phạm tội và dĩ nhiên được hưởng tiền thất nghiệp, giúp ông cũng như gia đình ông vượt qua giai đoạn khó khăn này!”
Tôi làm theo lời bà chỉ dẫn, đến “Legal Justice Services” của thành phố tôi ở, nhờ hướng dẫn làm đơn khiếu nại.
Tôi kể nguyên nhân tôi bị đuổi, đồng thời cho Attorney xem cái Card mà Eva gửi cho tôi, người đại diện luật pháp đồng ý giúp tôi.
Kết quả, “Hearing Court” phán quyết: tôi không phạm lỗi và cho tôi được hưởng tiền thất nghiệp, đồng thời cho truy lãnh số tiền mà mấy tháng qua tôi đã không được nhận.
Quả đúng, “tiền là Tiên là Phật, là sức bật của lò xo, là thước đo lòng người, là nụ cười tươi trẻ, là sức khoẻ của thằng tôi…” tôi vui hẳn lên và vợ tôi cũng vậy! Và nhân có đứa cháu được vào Mỹ từ trại tỵ nạn Philipine nên vợ tôi cho tôi về California, trước thăm cháu và sau đó thăm bạn bè vui chơi giải trí vì tôi đã có tiền thất nghiệp hàng tháng không lo phải đi kiếm việc gấp.
   
Cái khung cảnh nhộn nhịp của California, với giòng xe mắc cửi; những tiếng nói cười, gương mặt rạng rỡ của bạn bè; những cánh tay nâng ly lên chúc mừng sức khỏe… vẫn còn râm ran trong tâm trí tôi. Nói trắng ra, tôi chưa có ý định đi làm và cũng chưa sẵng sàng đế đi làm thì “WorkForce Center/Fort Collins” gọi thông báo: phòng Lab của CSU đang tuyển người và họ khuyên tôi nên “Apply.”
Thật ngỡ ngàng! Tôi tự hỏi: cớ sao WorkForce Center lại bảo tôi đi “Apply” làm một công việc mà không hề dính liếu đến kiến thức hay năng khiếu của tôi, và tôi cũng không có chút kinh nghiệm trong công việc làm?!
Tôi gọi hỏi lý do thì được trả lời: LAR (Laboratory Animal Researches) đang tuyển một “Lab Support” nhưng ưu tiên cho những ai có kiến thức về Accupuncture!
Tôi lại nói, “Thế nhưng… tôi đâu biết châm cứu súc vật! Sao cô (Miss Christina Wilson) không kiếm việc gì liên quan đến Machine Shop cho tôi làm?”
“Công việc liên quan đến Machine Shop chưa có, với lại LAR nói chỉ cần người có khiến thức tổng quát về Accupuncture, rồi sau đó sẽ được huấn luyện về kỷ thuật châm tê cho súc vật, không phải dùng thuốc gây mê ảnh hưởng đến sức khỏe con vật làm thí nghiệm,” cô ta trả lời.
Tôi đem việc này hỏi ý kiến vợ tôi thì nàng cho tôi tia sáng để nhận thấy và hiểu được cái lý do tôi phải thay đổi công việc làm!
Tôi thầm hỏi bao giờ không còn thay đổi? Phải chăng khi nhắm mắt lìa đời!
Tôi đi applied và cũng không ngờ tôi được tuyển (1/10).
Thời gian làm việc tại đây, tôi có dịp tiếp xúc với những con vật đáng thương bị đưa vào phòng mổ để thí nghiệm, đặc biệt khi nhìn gương mặt đầy sợ hãi của chú thỏ làm tôi liên tưởng đến ngày đầu bị CS bắt nhốt vào khám! Một sự cảm thông trổi dậy trong tôi:

 

Ngày tốt nghiệp của con trai thứ hai (cháu đang bắt tay)

Trai út đang bắt tay nhận bằng tốt nghiệp tại CU  (Mechanical Engineering)

Gia đình đoàn t nhân ngày đa con trai gia (áo vàng bên phi) tt nghiệp (Civil Engineering.)


Duyên cớ nào đưa ta về phòng Lab.
Để nằm dài trông ngày tháng dần qua.
Để lặng nghe nỗi nhớ Quê nhà
Đang âm ỉ trong từng mao quản!
Ta về đây phải chăng là định mệnh?
Hay bỡi ta để mất bầu trời?
Ta chẳng là chúa tể của muôn loài,
Nhưng ta vẫn có giang sơn riêng biệt.
Núi rừng, đồi nương, cỏ cây xanh biếc.
Ta mặc tình thả bước rong chơi,
Rải tầm nhìn khắp bốn phương trời,
Xem cảnh vật muôn màu, muôn vẻ.
Vũ trụ mênh mông, nhưng ta không đơn lẻ.
Có chim rừng ca hát lúc bình minh,
Đêm trăng lên mặc sức tự tình,
Say bóng nước hồn ta phơi phới
Gió bốn hướng thay lời mời gọi,
Chân theo mây tìm đến thảo nguyên.
Bên suối tiên rửa hết bụi ưu phiền.

Đời tục lụy, cũng có những phút giây đáng sống!
Ta luyến nhớ những ngày xưa sống động
Trên Quê hương, vùng đất cưu mang
Dẫu cuộc chơi gãy gánh giữa đàng
Còn lưu dấu mồ hôi ta tưới đất
Quê hương đó giờ dặm ngàn biển ngút
Vẫn còn đây, trong ký ức sâu xa.
Nay cuộc đời tùy thuộc vào người ta
Ngày tháng đợi giờ lên bàn mổ..!
Tia sáng mờ: ánh Bình minh sắp mở?
Hay Hoàng hôn báo hiệu Đời tàn!
Phải chăng là cuộc sống sắp sang trang
Ta trở lại cội nguồn nơi xuất phát?

Biển sẽ xanh cho thuyền vang tiếng  hát?
Hay bạc đầu thuyền đắm dưới đáy sâu?
Thôi hãy chờ NGƯỜI phán đôi câu

 

Làm việc chung với tôi phần lớn là những sinh viên học về “Biology.” Và trong những buổi CE (Continuing Education) tôi được giảng nghĩa “Bio” là “Life” như thế có nghĩa là trong quá khứ tôi đã không quan tâm về cuộc sống nên ngày nay Chúa đưa tôi vào làm việc ở nơi đây để tôi có dịp cảm nghiệm về cuộc đời?!
Làm việc tại phòng Lab, bốn giờ mỗi tuần tôi phải tham dự “CE class”, đồng thời có nhiều dịp đọc các sách nói về đời sống, súc vật cũng như con người. Tôi rất tâm đắc với Dr. Alan Havey khi ông cho rằng:
Cuộc sống ngoài thiên nhiên cho ta thấy sự đấu tranh là cần thiết, nhưng sự chấp nhận là cần thiết hơn vì được hay thua, còn hay mất cũng đều là khía cạnh cuộc sống…
Từ đó suy ra: Hạnh phúc không phải là đạt được một cái gì cao xa, ngoài tầm tay vói của mình nhưng là biết thỏa mãn những cái gì đã có!
Cái đang có của tôi là việc làm ở phòng Lab, vợ hiểu biết, các con ngoan hiền. Nói chung, tôi thỏa mãn cuộc sống tôi đang có!
   
V. Tạ Ơn Đời



 “I’m grateful to you, God!” Lời ấy luôn thì thầm trong miệng, bỡi tôi vẫn
còn sống sót qua cuộc chiến tranh tàn khốc, qua sáu năm tù đầy khổ ải, vẫn còn tồn tại trên đất lưu vong, và vẫn còn có việc làm trong thời buổi kinh tế suy thoái, có một gia đình êm ấm: các con tôi đã trưởng thành, đã hoàn tất công việc học hành, đã có công việc làm, và đã có cuộc sống tự lập.
Riêng vợ chồng tôi vẫn còn có đủ sức khỏe, vẫn còn gắn bó, thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau, và chia sẻ những ngọt bùi của đời sống.

“I’m grateful to you, my beloved wife! Also,” lời này tôi cũng thường nói với
vợ tôi bỡi tôi ý thức rằng: sự thành đạt của các con tôi ngày hôm nay, hai phần ba là do công sức của nàng: thức khuya dậy sớm lo từng giấc ngủ, miếng ăn cho các con tôi, đồng thời làm gương tốt, dạy bảo các con tôi biết thương mến mọi người; đó chính là hai lãnh vực thể dục và đức dục trong công việc đào luyện giới trẻ.
Tôi luôn xem vợ con tôi là chất liệu làm tươi mát cho tâm hồn tôi.



Em là nguồn suối thơ.

Vợ và ba con trước nhà
Hình lưu niệm sau khi đứa trai út thi lấy BlackBelt


Con là giòng thi hứng!
Cho anh trời biển rộng
Dang trải rộng tâm hồn
Cho anh khói chiều thôn
Vân vê làng quê mẹ
Cho anh lời thỏ thẻ
Yêu mến buổi ban đầu
Cho anh ván nhịp cầu
Nối liền “Lê-Diệp” họ
Cho anh lều quán trọ
Lữ khách một chiều Đông
Cho anh bếp lửa hồng
Trong những ngày băng giá
Cho anh vầng trăng tỏ
Lúc dõi bước trong đêm
Cho anh khúc nhạc mềm
Trưa Hè ru giấc ngủ!
Em, Con cho anh đủ
Hạnh phúc ở trên đời
Cuộc sống anh tuyệt vời
Đây, “Thiên đường Nhân Thế!”
“Thank you, you guys, for your hard work and for listening to our words,
tôi vẫn thì thầm như vậy khi nhìn  thấy các con tôi.
Ba chợt thấy hôm nay ba sống lại,
Bởi rừng người và vạn tiếng hoan hô,
Bỡi vì con trong áo sắc "màu cờ".
Ba cứ ngỡ đây "Trời Nam" thân mến!
Tay, mặt mừng trao nhau lời trìu mến.
Bạn bè thân có tất cả quanh Ba.
Đâu đây bài: khúc khải tấu, hoan ca?
Tai Ba vẳng âm vang lời Đất Việt!
Thành công con, nỗi mừng vui  khôn xiết.
Không chỉ cho con,
không chỉ cho Ba,
nhưng cho tất cả mọi người!
Đây, hãy nhìn những nụ cười tươi,
Con đã xóa bỏ lớp bi thương
trên những con người lưu lạc!
Cám ơn con, con đã cho Ba
 niềm vui trong những ngày "tuổi Hạc",
 Con đã cho Ba liều thuốc "Trường sanh"!
Đây, nghĩa ân "Công Đức Sanh Thành",
Con đã trả, Ba hân hoan đón nhận!


Bên cạnh cái niềm vui đó, tôi cũng cảm thấy bùi ngùi khi thờ gian cũng như những cực nhọc trong đời sống: làm việc, chăm sóc các con …. đã làm mờ phai nhan sắc vợ tôi. Mái tóc xanh giờ đã lấm tấm hơi sương!




Tóc em trắng hồi nào anh không biết?
Anh vô tình, đâu tình nghĩa đã nhạt phai!
Đường Trần gian anh chung bước bên ai,
Sao hờ hững…
trước những đổi thay hình dáng bạn?!.

Anh muốn vén sợi mây buông trên vần trán,
Ngại bàn tay chai làm thức giấc canh thâu
 
Cuộc sống lưu vong,
em phải bương chải cơ cầu,
Ngày ngày vẫn…em cày hai jobs!
Tuyết trắng phủ, giăng giăng từng lớp,
Mưa tuông dầm, không ngăn bước em đi.
Việc em làm anh cảm kích khắc ghi,
Anh muốn nói lời yêu thương…,
nhưng ngại lời bay theo gió!

Thôi em nhé,
Cho anh mượn thời gian bày tỏ
những ân tình anh chắt dụm cho em!
Anh vụng về,
Lời cầu Chúa đêm đêm
“cho em mãi đời vui, tròn ước nguyện!”




Nhan sắc vợ tôi tuy đã tàn phai, sức tôi không còn như ngày trước, nhưng những thứ đó không làm giảm mức độ yêu thương nhau vì, cả hai chúng tôi, nhận thức được quy luật đời sống của con người.
Blaine Lee có lẽ đã trải nghiệm cuộc sống nên ông đã nói,
Bất cứ sự thay đổi nào, mất mát nào cũng không thể biến ta trở thành nạn nhân của nó. Có những việc làm bạn chao đảo, ngỡ ngàng, thất vọng, nhưng những cái đó nó không thể ngăn bước tiến của bạn. Bất luận bạn trong lứa tuổi nào, ở trong tình huống nào, bạn luôn có thể làm một việc gì đó, bạn luôn có một sự chọn lựa và sự chọn lựa đó là sức mạnh của bạn (Any change, any loss, does not make us victims. Others can shake you, surprive you, disappoint you, but they can’t prevent you from taking the situation you’re presented with and moving on. No matter where you are in life, no matter what your situation, you can always do something. You always have a choice and the choice can be power.)
Đúng vậy, sau cuộc chiến tương tàn thảm khốc, loạn lạc xảy ra trên toàn Đất Nước, phân tán chúng ta mỗi người một ngả: người ngã gục, kẻ vào tù, người vượt biển kẻ băng rừng trốn chạy tản lạc. Chúng ta trôi dạt khắp thế giới, thế mà ngày hôm nay chúng ta vẫn có thể nhóm họp lại, đó phải chăng là sự chọn lựa, là sức mạnh ý chí của chúng ta chăng?
Nhưng nói gì đi nữa, chúng ta phải “Cám Ơn” những nguyên nhân cho chúng ta có cuộc sống hiện tại. Và dù rằng, đến hôm nay, không ai biết cái lý do của nó, ngoại trừ Đấng Tối Cao!
Với tôi, việc tỏ lòng biết ơn là cần thiết, nhưng điều cần thiết hơn là ta hãy lắng nghe và làm theo cái ý tưởng tốt đẹp mà bà Melinda, vợ nhà tỷ phú Bill Gate, phát biểu trong ngày mãn khóa của bà năm xưa:

“Nếu các bạn thành công là bởi vì: Vào một lúc nào đó, có ai đó sinh ra các bạn, cho các bạn một đời sống; hay có ai đó đã cho bạn một ý tưởng nào đó để giúp bạn đi đúng đường – Hãy nhớ rằng các bạn mang một món nợ đời cho đến khi bạn giúp được cho một ai đó, kém may mắn hơn bạn, theo như cách mà bạn đã được nâng đỡ!”