Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Video THUYỀN NHÂN VÀ BỘ NHÂN

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

THUYỀN NHÂN VÀ BỘ NHÂN

In PDF.

 



         Cuối tháng Giêng năm nay, năm 2011, cuốn phim The Way Back của đạo diễn Peter Weir được trình chiếu trên khắp nước Hoa kỳ. Cuốn phim kể lại cuộc đào thoát bằng chân của 7 người, 8 người thì đúng hơn, từ trại trừng giới Siberia, băng qua sa mạc Gobi, vượt Vạn lý trường thành, đến Tây-tạng, vượt qua rặng Hy mã lạp sơn và đến Ấn độ, thuộc địa của Anh. Đây là một chuyện thật xảy ra vào năm 1940, khi sự bắt bớ và giam cầm lên đến cao độ tại Liên bang Sô-viết. Stalin, tên Tổng bí thư đa nghi và sát máu, cứ vài năm lại làm một cuộc thanh trừng, không cần biết lý do để củng cố quyền hành. Cứ thế, hàng vạn người bị đẩy vào nhà tù để thỏa mãn sự cuồng sát của căn bệnh đa nghi. Khắc nghiệt nhất là những trại trừng giới nằm trong vùng sa mạc tuyết Siberia. Cả vùng Siberia rộng khoảng 13 triệu dặm vuông, chiếm 77% toàn bộ diện tích đất đai của Liên bang Sô-viết cũ; trong đó một sa mạc rộng mênh mông quanh năm tuyết phủ dày đặc. Lại thêm những trận bão tuyết tàn nhẫn đổ vùi sự cóng buốt lên muôn sinh vật, kể cả hàng chục nghìn tù nhân chính trị của chế độ cọng sản. Siberia nổi danh là sa mạc tử thần vì bị đày đến đây thì cứ xem như chết, chết chắc chắn. Có cái chết vì bệnh tật, cũng có cái chết vì đói. Không chết vì lao lực thì cũng chết vì thời tiết khắc nghiệt, quanh năm độ lạnh luôn luôn dưới độ không. Chết ngay, chết trước, chết sau; tất cả chỉ là vấn đề thời gian.



        Cuốn phim phỏng theo lời tự thuật của Slawomir Rawicz được viết lại dưới ngòi bút của Ronald Downing xuất bản năm 1956 với tựa đề The Long Walk. Cuốn hồi ký này đã được dịch ra 25 thứ tiếng, bán trên nửa triệu cuốn. Mặc dù cuốn hồi ký đã xuất bản từ lâu nhưng mãi đến gần đây đạo diễn Peter Weir mới thực hiện trên màn ảnh lớn. Cuộc điều tra mới nhất (2006) của đài BBC xác nhận Rawicz không hề vượt quãng đường 4000 dặm để tìm tự do nhưng chính là Witold Glinski, cũng là người Balan. Glinski cho biết khoảng giữa thập niên 40 có 2 người (một người Anh và một sĩ quan Balan) gặp ông trên đường phố Luân đôn và hỏi về cuộc hành trình 4000 dặm tìm tự do của ông. Ông nghi ngờ là sau cuộc phỏng vấn, chính Ronald Downing âm mưu với Rawicz viết cuốn hồi ký, và đặt Rawicz làm nhân vật chính. Ngoài ra cũng có những nhân chứng khác như một điệp viên Anh thú nhận có phỏng vấn một nhóm người ở Calcutta (Ấn độ) đào thoát từ Siberia bằng đường bộ; một kỹ sư Balan khác hiện đang sống ở Tân tây lan cũng lên tiếng là ông có thông dịch trong cuộc phỏng vấn một nhóm người sống sót sau cuộc đào thoát bằng chân.



        Chính vì những sự kiện thật như thế, Weir quyết định làm phim nhưng đổi tên thành The Way Back.



        Mở đầu cuốn phim, Janusz bị người vợ đứng ra tố cáo là làm gián điệp cho đế quốc, chỉ trích chế độ, nhất là phê bình lãnh tụ Stalin. Người vợ tố cáo chồng nhưng nước mắt ràn rụa trên đôi má. Tên sĩ quan Nga kết tội anh là thành phần phản động và bắt anh ký vào giấy thú tội. Janusz biết vợ anh bị bắt ép tố chồng, biết bọn Nga bày trò kể tội, và hơn ai hết anh biết anh vô tội. Vì thế, Janusz dứt khoát không ký vào tờ giấy nhận tội. Hoạt cảnh gán ép tội gống in hệt cảnh đấu tố ở đất nước tôi vào khoảng năm 1953-1956. Con cái đứng lên tố cáo cha mẹ, vợ tố cáo chồng, chồng tố cáo vợ, người làm tố cáo chủ, giáo dân tố cáo linh mục dưới họng súng của những tên thất học. Đảng cộng sản thời đó lợi dụng tinh vi bọn i-tờ này để tàn phá toàn bộ căn bản đạo đức cổ truyền ở thôn quê đến tận gốc rễ. Bọn ngu xuẩn này một chữ cắn đôi không biết, nay được giao quyền tiền trảm hậu tấu nên làm việc một cách đắc lực, quá đắc lực. Tấm bi kịch đấu tố đã làm đảo lộn tất cả mọi đạo đức bình thường trong gia đình, đúng theo chính sách tam vô của cộng sản: vô tôn giáo, vô gia đình, và vô tổ quốc. Đạo lý trong xã hội Việt đã tồn tại, mọc rễ nơi làng xóm từ bao nhiêu đời. Thôn quê là nơi tình người đậm đà nhất. Chòm xóm thân tình, có nhau mỗi khi tối lửa tắt đèn. Bán anh em xa, mua láng giềng gần là thế. Qua đợt cải cách ruộng đất, triệt cho hết địa chủ, phú nông thì tình xóm giềng cũng bị tận diệt cho đến móc xích cuối cùng, theo đúng chủ trương vô gia đình của Lênin. Di hại của chủ nghĩa tam vô còn ảnh hưởng trầm trọng cho đến bây giờ. Luân thường đạo lý bị coi nhẹ trong xã hội cộng sản. Nhan nhản tin trong nước cho thấy con cái sẵn sàng giết cha mẹ để lấy tiền ăn chơi phung phí. Những đứa bé hàng xóm bị giết chỉ vì sợi giây chuyền vài phân đeo nơi cổ. Tình người, lòng nhân đạo cần được đào tạo ngay từ khi còn nhỏ, ngay trong gia đình, đơn vị nhỏ nhất trong xã hội. Lớn lên, trường học cũng là nơi hun đúc cho đứa bé một trái tim nhân hậu. Ở trường học, thầy hãm hiếp trò, cô nắn chim học sinh trai, làm thằng bé đứng co rúm người, ngượng ngập. Ôi! Những hoạt cảnh này sẽ còn bị kéo dài đến bao giờ, khi mà đứa bé đến trường vẫn chưa được dạy những điều nhân nghĩa căn bản.



        Và Janusz bị đày vào trại trừng giới Siberia vì tội làm gián điệp chống lại Sô-viết với bản án 20 năm tù. Đây là một điều may mắn cho anh, vì đúng ra theo chính sách, nếu không ký vào tờ giấy nhận tội, nạn nhân sẽ bị bắn chết ngay. Những người bị tố cáo trong đợt cải cách ở nước tôi cũng bị giết ngay, bằng nhiều cách thật tàn ác mà không ai có thể ngờ những phương cách đó lại hiện hữu ở trần gian này. Chỉ có đến thời cộng sản, những tên bần cố nông vô học ở nông thôn được trao cho sứ mạng tiêu diệt với quyền lực gần như tuyệt đối đã làm tròn bổn phận của những tên giết người có máu lạnh. Sau bao nhiêu năm đằm mình trong giết chóc, những tên lái lợn, những tên cai đồn điền, những kẻ chăn trâu, ngoi lên trong địa vị cao nhất của quyền lực, cái được gọi là bộ chính trị, và quyền sinh sát tuyệt đối vẫn nằm trong tay những tên này. Qua những thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, trung cổ, phục hưng, cận đại… lịch sử loài người vẫn chưa thấy ghi chép những cảnh giết người dã man đau đớn đến thế. Chỉ có đến cái thời thổ tả, cái thời bọn cộng sản cai trị hơn ½ nhân loại, chính con người mới phát minh ra được những phương pháp giết đồng loại mà nếu ai nhìn thấy một lần, sẽ phải rùng mình ớn lạnh. Hình ảnh của con trâu kéo chiếc cày ngang qua hai vợ chồng địa chủ bị chôn sâu đến cổ là một hình ảnh kinh hoàng đối với dân quê thời bấy giờ. Hình ảnh người bị tẩm dầu (không phải xăng nên chết lâu hơn) bị đốt sống ngay giữa ngã ba ở thị trấn Vinh gây chấn động vào tâm não của người dân lúc đó. Làm sao có thể quên được hình ảnh một người công giáo bị cột hai ngón chân cái, treo ngược trên xà nhà và chúng cắt dây, đầu dộng xuống sàn xi-măng; cả sức nặng của thân hình như chiếc búa tạ đập ngay giữa đỉnh đầu. Những cái chết như thế đau đớn lắm và gây một ấn tượng thật kinh khủng hằn sâu mãi trong tâm trí những người sống. Vì thế sau bao nhiêu năm mà họ vẫn còn nhớ rõ từng chi tiết về những cái chết đó và nhỏ giọng kể lại với hai hàng nước mắt. Ôi! những nông dân chân chất, cả đời hầu như chưa bước qua khỏi lũy tre làng, tâm hồn họ thơm như miếng đất vừa dẫy cỏ xong, trái tim họ rộn rã những giọt máu đỏ thương vợ, thương con, thương chòm xóm mà phải chứng kiến biết bao cảnh giết người dã man của sinh vật có tên gọi là người vào cái thời thổ tả đó. Vì thế, tâm trí họ khiếp sợ đến run rẩy là điều dễ hiểu. Thật sự họ không bị điên loạn là may, vì bản năng sinh tồn nên họ vẫn còn gượng tỉnh táo để sống. Nhưng thảm trạng tinh thần của tầng lớp nông dân thì vượt quá điều mà người cộng sản mong ước. Tâm trí họ bị đánh một đòn cân não đến tê liệt mọi sợi thần kinh. Bản năng tự vệ bị kiệt quệ đến thua cả loài thú trong rừng già. Nỗi sợ hãi đã bám rễ tua tủa trong tâm trí của họ như vòi con bạch tuộc khổng lồ hút hết tinh túy của cả một dân tộc. Những người này từ đó về sau hễ mở miệng ra là nói biết ơn đảng đã cho tôi sống, đã cho gia đình tôi tem phiếu, đã ban cho miếng cơm manh áo. Chỉ cần một lạng thịt, hai mét vải thô họ đã nức nở cám ơn đảng rồi. Bao tử làm họ nhẫn nhục, cúi đầu đớn hèn qua từng ấy thập kỷ. Riết rồi nó trở thành truyền thống của mọi tầng lớp nhân dân Việt. Tất cả đều bắt nguồn từ ngày đầu tiên sau cuộc cải cách ruộng đất.



        Trở lại chuyện tù đày của Janusz. Anh biết rằng một khi vào nhà tù khổng lồ Siberia, chết chỉ còn là vấn đề thời gian. Bởi vậy, ngay sau khi ổn định, anh làm quen với một số tù nhân người Balan và tìm cách vượt trại. Trong một lần nói chuyện với Khabarov, anh ta cho biết vượt trại rất khó khăn vì cánh đồng tuyết bao phủ rộng bạt ngàn. Khabarov khuyên phải chuẩn bị kế hoạch kỹ càng vì từ Siberia đến Mông cổ phải cuốc bộ cả nghìn cây số. Cả đám tù nhân tại Siberia lúc đó không hề biết nước Mông cổ cũng đã là cộng sản. Bỏ một nước cộng sản này để lạc vào một nước cộng sản khác thì cũng bằng không. Chưa kể đến bão tuyết, thức ăn cần dự trữ vì đường dài, quá dài.



        Janusz nhớ tên trại trưởng ngay từ ngày đầu đã khuyến cáo tù nhân:



        - Chúng tôi không giam giữ các anh. Dãy thép gai, súng đạn và tiểu đội chó chúng tôi không cần vì địa thế vùng Siberia làm chuyện đó thay chúng tôi. Đừng bao giờ nghĩ đến việc trốn trại. Hơn 5 triệu dặm vuông với thời tiết khắc nghiệt sẽ giam giữ các anh cho đến chết. Thiên nhiên đặc biệt của vùng tuyết Siberia sẽ chôn vùi các anh không thương tiếc.



        Khabarov vẫn chân tình khuyên Janusz nhẫn nại chờ cơ hội thuận tiện, nếu không từng ấy người sẽ chết dọc đường. Janusz cảm khái trả lời:



        - Đành vậy, nhưng nếu chết thì chết được tự do (Yes, they die but die as freemen)



        Ôi! Chỉ vì hai chữ tự do mà đồng bào nước tôi cũng liều chết ra đi bất kể hiểm nguy. Hơn một triệu người sẵn sàng bước xuống chiếc thuyền con, vượt hàng nghìn hải lý để đến bờ đất tự do. Đành rằng tự do là quyền căn bản của con người nhưng không hẳn tự nhiên mà có. Có người sinh ra may mắn đã có tự do, những kẻ khác phải tranh đấu mới có được. Người miền Nam trước 75 may mắn thụ hưởng được tự do nhưng không biết quý. Họ lạm dụng tự do để xuống đường, trong đó có những thượng tọa (giả), có những học giả nhiều bằng cấp nhưng quá ngây thơ về chính trị, có nhiều trí thức với số vốn chính trị xa lông chỉ đáng xách dép cho bọn lãnh tụ i-tờ cọng sản, và hơn ai hết những người dân sống trong ấm no nhưng không nhận thức được hết ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ tự do. Rồi một ngày cuối tháng Tư năm đó, mây đen giăng khắp trời miền Nam, ánh sáng tự do bỗng vụt tắt. Chết dần mòn trong bóng đêm của tù đày, của đàn áp, của bất công, của một quyền lực ngu xuẩn quái đản, người dân miền Nam chợt thấy mình mất mát quá nhiều; mà trong đó sự mất mát lớn nhất là quyền làm người. Nỗi vui mừng của thống nhất chỉ đủ hớn hở một số dân miền Bắc, vì được hưởng thụ những hàng hóa từ Nam chở ra Bắc suốt mấy năm liền. Những tiện nghi mà cả đời họ chưa bao giờ được nhìn thấy chứ đừng nói đến sờ, mó, và thụ hưởng. Hai chữ thống nhất chỉ là một cái vỏ che đậy một nỗi khao khát hưởng thụ vật chất ở bên trong. Ông Hồ thần thánh hóa nhiệm vụ “thống nhất đất nước” nhưng thực tế cho thấy nguyên cái tập đoàn cọng sản chiến đấu để thống nhất cũng chỉ vì miếng ăn, miếng đỉnh chung ở đời này. Nó trần trụi, nó tầm thường, nó đơn giản lắm chứ chẳng thần thánh gì qua khẩu hiệu “chiến đấu để thống nhất” của ông Hồ.



        Những tiện nghi vật chất này đồng bào miền Nam hưởng khá thừa mứa rồi nên chẳng tiếc gì khi đem bán đi (nhất là khi của cải đã bị cướp trắng trợn không còn gì để nuôi sống) nhưng nỗi tiếc nuối lớn lao nhất là Tự Do. Khi người dân miền Nam nhận ra cái mất mát thì đã muộn. Và họ tìm mọi cách để tìm lại sự mất mát lớn lao đó. Kết quả là cả triệu người ùn ùn kéo nhau ra biển bất kể sống chết. Bão tố, hải tặc, khát và đói và những hiểm nguy khác vẫn không chùn lòng những kẻ muốn tìm (lại) tự do. Janusz và 6 tù nhân khác – Mr. Smith, một người Mỹ đến Nga vào thời khủng hoảng kinh tế, Zoran, Kazik, Tamasz, Voss, và Valka – đêm hôm đó vào năm 1940 ở trại trừng giới Siberia lợi dụng cơn bão đã cắt dây điện chui qua hàng rào thép gai và băng mình vào cơn bão tuyết để tìm tự do. Gió thổi rít từng cơn, đập từng mảng tuyết đến rát mặt. Tuyết đổ dày đặc không thấy đường đi. Janusz phải cắt vỏ cây làm thành mặt nạ để chắn bớt gió tuyết và mò mẫm đường. Nhờ cơn bão tuyết này mà bọn lính canh và đám chó săn không truy được dấu vết của đoàn tù nhân. Họ đi dọc theo đường rầy nối liền sa mạc Gobi và Siberia. Trên đường cả nhóm phải trực diện với cái đói mỗi ngày, bệnh tật, thương tích và nhất là phải tránh dân chúng địa phương vì họ có thể đi báo cáo với công an để lấy tiền thưởng.



        Khát vọng tìm lại tự do của đồng bào tôi gặp quá nhiều rủi ro, bấp bênh. Tìm cho được mối tin cậy để leo lên tàu không phải dễ vì công an cũng ngầm rao tin có tàu để kiếm khách. Ôi! Thời đại thổ tả nên có vàng thau lẫn lộn, không biết đâu là thật đâu là giả. Kiếm cho được người nhà làm chủ tàu, hoặc có người thân mách chỗ dùm là đã cảm tạ ơn trên. Khổ cho những kẻ vừa mất tiền lại vướng vào vòng tù tội vì đi đúng mối… công an. Ngồi tù muốn ra lại phải đút lót. Có người đi hụt, mất tiền, đi nữa, đi cho đến khi khánh kiệt tài sản. Cơn khát tự do ghê gớm đến độ không thể tưởng. Nó len vào giấc ngủ trằn trọc nên có những đêm thức trắng. Nó châm vào ý chí bải hoải khiến đồng bào tôi cắm cúi đi ra biển không hề ngoảnh mặt lại. Chưa bao giờ thế giới lại chứng kiến một đợt đào thoát bằng thuyền vĩ đại đến thế. Năm 1954, cũng mấy triệu người bỏ mồ mả tổ tiên đi vào Nam để tránh họa cộng sản, để tìm tự do. Lần đó ra đi có tàu há mồm, có chuẩn bị kỹ càng, cứ xuống được tàu là biết chắc sẽ thấy tự do ở nửa phần đất bên kia. Sau 1975, người miền Nam xuống tàu nhưng không biết chắc là sẽ thấy được tự do hay không vì có quá nhiều hiểm nguy rình rập trên đường. Không một ai biết chắc sinh mạng mình sẽ ra sao khi đặt chân xuống con thuyền mong manh. Có một số người may mắn vượt thoát gửi thư về nói rõ những hiểm nguy này. Họ còn cho biết cái chết đau đớn của người chồng khi muốn giải cứu vợ và con gái bị hải tặc Thái hiếp. Họ nói đến những con thuyền lênh đênh trên biển cả tháng trường; và đói khát đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng. Họ run rẩy kể lại những tàu phải ăn cả thịt người để sống. Tin tức đổ về dồn dập trên đất nước đang quằn quại dưới ách cọng sản, thế mà không ai chùn bước, thế mà không một ai nghĩ lại. Cứ thế mà đi ra biển. Hành động “điên cuồng” này cũng gần như câu nói của Janusz: nếu chết thì chết được tự do. Có kinh qua những ngày tháng đau thương đó, rồi con người mới hiểu hết thế nào là cộng sản, thế nào ý chí sắt đá, thế nào là giá trị đích thực của tự do.



        Bảy tù nhân ở trại trừng giới Siberia cũng nhận được giá trị đích thực của tự do nên sẵn sàng đi bộ cả nghìn cây số để tìm cái sống trong cái chết. Theo dõi từng bước chân của 7 người vượt thoát những hiểm nguy trên đường, người ta phải khâm phục nghị lực của đám tù nhân. Có những may mắn trên đường tìm tự do. Gặp một rừng muỗi đốt sưng cả mặt, Zoran liều lĩnh xuất hiện hỏi một bộ hành trên đường. Ông chỉ cho cách kết cành một loại cây mọc bên vệ đường thành vòng tròn treo vào cổ để trừ muỗi. Lại có cơn đói hành hạ (không thiếu nước vì tuyết đầy dẫy trên đường) thì gặp con hươu bị sa lầy. Cả đám được một bữa ăn thịt nướng no nê. Rồi thức ăn hết dần, người đói lả và cánh đồng tuyết đã cướp đi sinh mạng của một tù nhân. Sáu người vẫn kiên tâm bước, từng ngày, từng tuần.



        Gần đến Mông cổ, Janusz chợt thấy thấp thoáng bóng người trong rừng cây và cả đám tản mỏng ra chận đường. Không ngờ đó là một cô gái, Irena, người Balan. Hỏi ra mới biết cả gia đình bị đày vào trại tù, cha mẹ đã bị bắn chết và may mắn cô trốn thoát. Quyết định có nên cho cô gái nhập bọn hay không vì thêm miệng ăn, vì phận con gái yếu đuối có thể làm chậm bước đào tẩu của cả nhóm. Sau cùng, Janusz quyết định cho cô gái nhập bọn. Có lẽ vì tình đồng hương, hơn nữa cô gái còn nhỏ quá, để cô lại giữa rừng với quá nhiều nguy hiểm nên anh không đành lòng. Thế là cả nhóm 7 người trực chỉ xuôi Nam.



        Vượt một chặng đường cả nghìn cây số bằng chân kể là một kỳ công. Nhưng đến biên giới Mông-Nga, nhìn cổng chào có hình Lênin, Janusz biết ngay số phận vẫn còn ngạo nghễ thách đố nghị lực của anh thêm một đoạn đường dài nữa. Và cả đoàn dứt khoát vượt sa mạc Gôbi trừ Valka, một tội phạm Nga. Trên ngực Valka có hình xâm của Lênin và Mác choán hết từ cổ đến bụng. Anh luôn luôn nói với mọi người, kể cả bọn cai tù, đó là thần tượng của anh, hai người vĩ đại. Thực tế anh thổ lộ là hai hình xâm xem như bùa hộ mạng, vì anh biết bọn cai tù không bao giờ dám cả gan bắn giữa mặt hai lãnh tụ. Anh phân vân, lưỡng lự; có lẽ vì đoạn đường quá dài với nhiều gian truân. Anh quyết định ở lại, sống lây lất ở làng mạc quanh vùng biên giới. Janusz siết chặt tay Valka giã biệt rồi quay lưng bước theo đoàn, mà bây giờ chỉ còn 6 người.



        Nếu Siberia lạnh cóng thì Gôbi nóng cháy. Tình trạng thiếu nước như cơn ác mộng luôn đè nặng lên tâm trí mọi người. Rồi cũng có những may mắn khi tìm được một vũng nước xâm xấp bùn bẩn thỉu, một người du mục cho nguyên vò nước, nhất là khi đoàn tìm thấy giếng nước gần một ốc đảo. Con thuyền nặng nề chở những người Việt tìm tự do cũng bị cơn khát hành hạ trên suốt đường đi. Có thuyền may mắn gặp được những tàu lớn tiếp tế nước nhưng cũng có những mạng người chết khát giữa vùng biển mặn rộng mênh mông đến tận chân trời. Chiếc thuyền chết máy trôi lênh đênh giữa trời biển bao la, cả trăm xác người nằm ngổn ngang chờ đợi một cơn sóng lớn để làm mồi cho bầy cá.



        Janusz và đoàn người lầm lũi bước trên vạt lửa vãi tràn dưới chân, và dưới ánh nắng thiêu đốt của mặt trời của vùng sa mạc không hề thấy một bóng sinh vật trong tầm mắt. Chung quanh chỉ toàn cát và cát. Thuyền nhân nằm vật vã vì đói khát sau hơn tuần lênh đênh cũng chỉ thấy toàn biển và biển. Đoàn tù nhân của trại trừng giới Siberia may mắn sống sót qua cơn bão cát với tốc độ kinh hoàng 130km/giờ của vùng sa mạc Gobi. Đồng bào tôi không gặp may mắn như đoàn tù nhân Janusz. Gặp bão trên đường vượt biển thì chỉ biết khấn xin ơn trên. Cơn sóng cao ngất ngưỡng đã nhận chìm không biết bao nhiêu chiếc thuyền nan, kéo theo hàng trăm nghìn sinh mạng. Đoạn đường dài 800 km băng qua sa mạc để lại cái chết của hai người, kể cả mạng sống của Irene. Rồi họ cũng vượt qua Vạn lý trường thành, băng qua nước Tàu, đến biên giới Tây tạng. Ông Smith, người Mỹ, đổi ý đến thẳng Bắc kinh trình diện tòa Lãnh sự. Còn lại 3 người tiếp tục đoạn đường, vượt qua dãy Hy mã và cuối cùng đặt chân đến Ấn độ.



        Khẩu lệnh của Janusz rất rõ ràng khi hướng dẫn cả đoàn tù nhân: bước, bước, và bước. Đồng bào tôi cũng đi tìm tự do bằng đường bộ, nghĩa là băng suốt chiều dài của nước Campuchia đến biên giới Thái. Mặc dù dư luận thế giới không biết nhiều đến họ như những thuyền nhân nhưng vẫn đặt cho họ biệt danh bộ nhân. Cuộc hành trình bắt đầu từ Gò Dầu, vùng Tây ninh băng qua đồng ruộng vượt biên giới Campuchia. Từ đây có người dẫn đường đến vùng ngoại ô Phnom Penh bằng xe tải, xe gắn máy, xe đạp, ngay cả xe bò. Đi đến đâu trả vàng cho người dẫn đường đến đó. Cũng có tuyến đường dẫn người đến Battambang, rồi đến Sisophone, một thị trấn cách biên giới Thái khoảng 40km đường chim bay, đoạn đường gian khổ nhất. Đây là 40km xương máu của những người tìm tự do bằng chân. Họ phải đối diện với những nguy hiểm như quân Khmer đỏ, lính bộ đội VN, và cả tàn quân của mặt trận giải phóng Campuchia, mà mặt trận này chống cả Khmer đỏ lẫn bộ đội VN; quân của mặt trận này gần như bọn thảo khấu, thổ phỉ. Tuy đoạn đường rừng có 40 km chứ không dài 4000 dặm như đoàn tù nhân Janusz nhưng thú dữ, mìn, chông, bộ đội VN, quân Khmer đỏ, và bọn thổ phỉ đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều bộ nhân. Gần cuối thập niên 80, quân VN rút khỏi xứ Chùa Tháp nên bớt đi một nguy hiểm cho những bộ nhân nhưng tử thần vẫn rình rập họ dữ dội trên đường đi. Cường độ của sự nguy hiểm không hề giảm bớt chút nào, chưa nói đến sự cuồng sát của quân Khmer đỏ. Chưa có con số thống kê chính xác về những bộ nhân, nhưng ai cũng biết chắc số người đặt chân lên đất Thái không đến một nửa.



        Tính ra đoạn đường đào thoát dài 4000 dặm, hơn 6400 cây số, ròng rã gần cả năm và lấy đi 3 sinh mạng. Nếu không tính Valka ở lại vùng biên giới Mông-Nga thì tỷ lệ sống sót là 4/7. Nếu không tính ông Smith ở lại Tàu để tìm đường về lại Mỹ thì tỷ lệ sống sót là 50%. Đồng bào tôi không được may mắn có tỷ lệ này. Hơn triệu người đào thoát bằng thuyền tìm tự do chỉ non nửa triệu người may mắn đặt chân đến vùng đất tự do. Hơn nửa triệu thuyền nhân xấu số bị giết, bị nhận chìm giữa biển Đông vì bão, vì thuyền chết máy, vì đói và khát. Những bộ nhân cũng chịu chung một số phận hẩm hiu không kém. Người ta ước đoán con số bộ nhân đến đất Thái may ra được vài nghìn người. Đấy, cái giá phải trả để tìm lại tự do thật quá đắt.



         Cả thế giới ngưỡng mộ và khâm phục ý chí của nhóm tù nhân. Thế giới khoảng thập niên 80 cũng khâm phục ý chí tìm tự do của hơn triệu người Việt. Nhưng có một điểm mà dư luận thế giới không hề biết về tên gọi của những người tìm tự do. Trong khi thế giới gọi họ là thuyền nhân (hoặc bộ nhân) thì nhà nước cộng sản gọi họ là bọn đĩ điếm, ma cô, thành phần cặn bã của xã hội. Mấy chục năm sau, chính quyền cộng sản lại đổi tên gọi: khúc ruột ngàn dặm với ý định ve vuốt tự ái những người Việt ở hải ngoại.



        Cái Hay (thâm độc) của nhà nước cộng sản là chỉ cần đổi tên gọi để kêu gọi đầu tư, hợp tác, và hòa hợp hòa giải dân tộc. Cái Dở của những người Việt hải ngoại là vội tin (mừng) đổ tiền về Việt nam để mua lấy một danh xưng vô nghĩa, và tìm thấy một chút tự ái được vuốt ve mà đành quên đi cái giá của tự do đã trả bằng cả sinh mạng của chính mình.



        Hãy giữ vững tinh thần hai chữ Thuyền Nhân cho luôn trong sáng. Nó tương xứng với ý nghĩa đích thực của hai chữ Tự Do.

        Mong lắm thay!


Coi Phim The Way back ( Đường về)