Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai LỐI CŨ CHẲNG SAO QUÊN

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

LỐI CŨ CHẲNG SAO QUÊN

In PDF.

Tiểu Sử Bích Huyền




Bích Huyền tên thật là: Nga Phạm. Bà sinh tại miền Bắc, nhưng lớn lên và sống tại Sài Gòn.

Phu quân của bà là sĩ quan cấp tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Sau 30 tháng Tư 1975, miền Nam bị rơi vào tay Cộng Sản, chồng bà cùng hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức Việt Nam Cộng Hòa bị Việt Cộng lùa vào các lò cải tạo đày ải. Cũng như một số cải tạo viên khác, chồng bà vì chịu không nỗi sự đày ải đói rét nên đã bị tai nạn khi đi vác cây qua suối. Ông mất đi để lại cho bà một cháu gái còn rất bé, lớn lên chẳng biết đuọc Cha...



Trong bối cảnh đầy đau thương này mà bà đã viết cuốn hồi ký "Lối Cũ Chẳng Sao Quên" đã làm xúc động biết bao người đọc...

Tháng Tư 1990, bà được định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình HO và hiện sống với con gái tại thành phố Irvine, Nam California.

Nghề nghiệp của bà:


- Tại Việt Nam: Dạy học.
- Tại Hoa Kỳ: Ngành truyền thông báo chí.



Đã cộng tác với nhật báo Người Việt, Thế Kỷ 21, Saigon Nhỏ, Đài Văn Nghệ Truyền Thanh.

Hiện bà đang cộng tác với đài VOA, đài Radio Bolsa, và Saigon Times.



Tác phẩm đã xuất bản:

- Hồi ký "Lối Cũ Chẳng Sao Quên" đã được dịch ra Anh ngữ và in đối chiếu với lời Việt...

***********************************

LỐI CŨ CHẲNG SAO QUÊN






"Đường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn vết thương lòng.."
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay - ĐCTL)




Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời K1, K2, K3.. Những chữ số ký hiệu kinh hoàng, của tôi, của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi.. mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian đã trôi qua bốn năm rồi...



Những khẩu hiệu "Chào mừng thành công Đại Hội Đảng 5", "Đảng Cộng Sản Việt Nam, người lãnh đạo tài tình", "Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm".. Lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lỗ cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ cấm tiểu tiện bằng những lời thô tục: "Cấm đái ỉa", có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không có một ai để ý. Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ còn đang loay hoay với kí trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi nêu xoong chảo, xấp vải soie Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ... Che che dấu dấu tránh con mắt dòm ngó của bọn công an kinh tế, con mắt cú vọ của bọn cướp ngày. Chính sách của Đảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.



Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Vân Lập bằng đường sông nữa. Đạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang những thửa ruộng khô cằn của miền đất miền trung du. Cái hình ảnh "Quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì.." của một thời hoàng kim nào xa lắm nay ở đâu? Giặc Pháp tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán, "vườn không nhà trống tàn hoang" còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn? Đảng Cộng Sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Đảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Đảng, bấy nhiều năm Đảng phá nát tan? để những người dân quê hiền hòa cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thê kia sao! Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp sụp, vách đất mái tranh. Mảnh vườn - Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước - Chiếc gầu.. tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi phịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiêng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng chim hót. Như một vùng đất chết.



Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những tnanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Theo tiếng gọi lên đường. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước. Để rồi khi biêt mình bị lừa thì đã trễ rồi. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân. Trong không gian "Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngập gió.. Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời." Ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa tiếc nối. Tôi làm các anh tỉnh mơ: "Phải chi ngày ấy các anh không đi theo Phong Trào Thanh Niên Cứu Quốc thì ngày nay anh em đâu phải đi bộ bốc mộ chồng em ở một nơi đèo heo hút gió này!". Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ đội với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội sẽ bừng lên một sức sống mới. Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đâu tố dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Đảng khoan hồng. Không những không tha mà họ còn xúi giục các anh tôi phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ cùng nhân dân vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau nhìn bô vác cây đào đất, khiêng đá, trộn hồ.. Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu Hà Nội thành một công viên mang tên Thống Nhất. Đến thập niên 80 đổi tên thành công viên Lê Nin. Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi ở khu K4 Long Khánh. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng Sản tù đầy, hành hạ.



Các anh tôi vài năm đầu "Sài Gòn giải phóng", vì đường lối của Đảng hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm "giác ngộ" để hòa nhập ngay với cuộc sống mới nên đã có những lần anh em tranh luận. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. "Đảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng." Đó là lần một anh nói với tôi: "Người em không yêu làm em khổ, em không có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã hiến dâng cả cuộc đời mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối..". Một anh khác nói: "Viên gạch đã trót để vào tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!"



Trên con đường này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.



Trời chạng vạng tối. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu thửa ruộng. Vấp ngã bao nhiêu lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong trạng thái căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.



Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường. Cũng phải vài giờ nữa tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn loe lét. Cố lê bước đến đó đê xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên, nhưng cũng bị từ chối. Đang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta đứng lại: "Các bác đi tìm nhà ai thế?" Khi biết ý, bà mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai bà vẫn bước thoăn thoát, trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.



Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.



Môt căn nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách rang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp phía cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi tiêm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn Mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê "Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung.." Chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm ngày thơ ấu. Tôi thở thật sâu đè nén xúc cảm. Đêm yên lặng. Đêm mờ ảo. Tât cả đều rất mong manh. Môt tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giác mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.



Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời tôi ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích: "Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây chỉ có tù hình sự: những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người. Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một sô về trại Hà Nam Ninh. Đa số vào Nam." Ông Tuyển đặt ly nước trà nóng thơm phức trước mặt tôi: "Được biết cô vê đây bốc mô cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây."



Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát, cùng dáng điệu từ tôn cử, chỉ lịch sự chứng tỏ ông là một người có môt số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh. Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Để khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.



Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn ghế gỗ mộc mạc, thô kệch được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Đức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Tuy nhiên vì làm ăn theo lối khoán sản phẩm, nhân dân vẫn phải nộp cho nhà nước rất nhiều.



Dưới nhà ngang, các con ông và bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng, sẩy.. Mọi người đều chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa.. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.



Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biêt đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng. Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Đĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau "tập tàng" đủ mọi loại rau hái ngoài vườn mát ngọt. Tôi không thể ngờ anh em chúng tôi được đối xử như môt thượng khách ở nơi đây. Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau bốn anh em đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Tên chỉ huy trại là người mới, không phải tên Thiếu Tá Nguyễn Thùy. Hắn vồn vã một cách thái quá. Khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện có một người nước ngoài cách đây không lâu về đây bốc mộ bố. Cầm hình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quốc lên không chịu chạy.. Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc lá "555" anh tôi mang đến làm quà. "Ba con năm vừa nằm vừa ký" cho nên bọn tôi mới được chấp thuận môt cách dễ dàng. Những chuyện hắn nói có thể xảy ra đâu đó, hăn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì chỉ có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay băt đầu duy tâm hơn ai hết.



Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi nơi an nghỉ của những người quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ đã có lúc bỏ được những từ ngữ "ngụy quân ngụy quyền". Nhưng tiếc thay những tên gọi này vẫn là một vết hằn trong lòng người Việt.



Tôi ngồi đợi trong môt căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre, nứa. Nền đât lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kê hoạch công tác.. Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới treo xộc xệch như sắp rơi. Đây là nơi làm việc của toán công an canh gác. Cách đây bốn năm, khi tôi đến nghĩa trang này nhận mộ chồng, cảnh vật quanh đây gọn ghẽ hơn. Hàng ngày có bàn tay đồng đội săn sóc. Giờ đây cỏ cây dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hô trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở về trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả môt vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?



Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tôt đẹp.



Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi không tin. Ngôi mô có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá đã mờ nên rêu phủ.



Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Đêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy mùi hơi người, những con vắt nhảy ra bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người vì sợ. Cây cối quang dần, dầu nóng tôi bôi đầy mặt, chân tay, khiến những chú dế bé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua hộ, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất khân thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, cong vòng.. Khói nhang thơm tỏa ngát. Nhát cuốc đầu tiên bỏ xuống đất. Lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới một lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp, các anh tôi nôn nóng. Khi đến Hà Nội, vài bậc lão thành cố trấn an: "Đât miền núi khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị sẵn tinh thần. Có thể đứng trước một chiếc hòm đầy cát bụi!" Thê cho nên khi những nhát búa đầu tiên để nạy nắp quan tài, tôi cứ giât thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan.

Gỗ áo quan dày và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: Chiếc khăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy hình ảnh xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa.



Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm kí lô quà đầu tiên ra ngoài Bắc. Chiếc áo chemise trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt mang về Sài Gòn sau chuyên du học Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giầy ba-ta. Tất cả tôi đã tự sắp xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện "học tập cải tạo". Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng: "Đã trốn trại, còn đang ẩn dấu tại một nơi nào." Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Đồi núi quay cuồng. Quanh tôi, cảnh vật mờ đi...



Lâu lắm, khi tôi tỉnh lại, đống tro tàn của áo quần vừa đốt âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang tay đã gãy tay cầm, bột nhang thơm trộn với rượu trắng để ngâm xương côt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi nylon...



Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng...



(Tháng 8-1991)